
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
83
1. Đặt vấn đề
Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng lớn, người
mác-xít độc đáo, phong cách tư duy của Người được
xây dựng trên nền tảng phương pháp biện chứng
duy vật với mục tiêu cao nhất là cải tạo và biến đổi
thực tiễn. Phong cách này được thể hiện qua các đặc
trưng nổi bật: tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và dám
chịu trách nhiệm. Nhờ đó, Người đã nhận diện và
phản ánh chính xác những quy luật vận động, phát
triển của cách mạng Việt Nam, từ đó tìm ra con
đường giúp cách mạng Việt Nam vững bước tiến lên.
Trong bối cảnh hiện nay, việc vận dụng phong
cách tư duy của Hồ Chí Minh trong nghiên cứu và
giảng dạy khoa học lý luận chính trị đã trở thành một
yêu cầu bức thiết. Sự cấp thiết này đòi hỏi các giảng
viên và nhà nghiên cứu trong các trường đại học phải
không ngừng nâng cao trình độ, tăng cường kỹ năng
tư duy phản biện và định hướng khoa học. Trên cơ sở
đó, các nhà khoa học cần phải tự học tập, tự nghiên
cứu lý luận chính trị để tiếp thu những thành tựu mới
nhất, đồng thời trau dồi kiến thức chuyên môn nhằm
đáp ứng sứ mệnh cao cả của người Thầy trong đất
nước Việt Nam hiện đại.
2. Phong cách tư duy hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ vĩ đại của
dân tộc Việt Nam, mà còn là một nhà tư tưởng có tầm
ảnh hưởng quốc tế. Người mang trong mình sự kết
hợp hài hòa giữa phong cách hiền triết phương Đông
đậm đà phong tục văn hoá dân tộc, với phong cách
lịch lãm và thực tiễn của chính khách phương Tây. Từ
những chuyến du ngoạn khắp nơi, tích luỹ những trải
nghiệm sâu rộng và phong phú, phong cách của
Người đã tạo nên một đặc trưng riêng biệt và sức cảm
hóa mạnh mẽ, kết nối chặt chẽ giữa lãnh tụ và quần
chúng nhân dân.
Phong cách tư duy Hồ Chí Minh không chỉ là sự
kết tinh của trí tuệ và tầm nhìn xa trông rộng, mà còn
mang tính lồng ghép linh hoạt các yếu tố truyền
thống văn hoá dân tộc với những đổi mới tích cực từ
thực tiễn quốc tế. Người đã nhận diện những khát
vọng, đau khổ của nhân loại và quyết tâm biến
những giấc mơ giải phóng thành thực tế. Tinh thần
VẬN DỤNG PHONG CÁCH TƯ DUY HỒ CHÍ MINH
TRONG NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY KHOA HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
NguyễN VăN ĐứC*
Ngày nhận: 18/3/2025
Ngày phản biện: 20/3/2025
Ngày duyệt đăng: 24/3/2025
Tóm tắt: Bài viết phân tích và làm rõ nội dung phong cách tư duy của Hồ Chí Minh, khẳng định giá trị và sự cần thiết của việc áp dụng
phong cách tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo của Hồ Chí Minh trong nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị tại các trường đại học
ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục triển khai phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong nghiên cứu
và giảng dạy lý luận chính trị tại các trường đại học ở Việt Nam hiện nay.
Từ khoá: Hồ Chí Minh; phong cách tư duy; nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị; trường đại học.
APPLYING HO CHI MINH’S STYLE OF THINKING IN RESEARCH AND TEACHING POLITICAL THEORY AT UNIVERSITIES
IN VIETNAM TODAY
Abstract: The article analyzes and clarifies the content of Ho Chi Minh’s style of thinking, affirming its value and the necessity of
applying Ho Chi Minh’s independent, autonomous, and creative thinking style in the research and teaching of political theory at
universities in Vietnam. Based on this, the article proposes several solutions to further implement Ho Chi Minh’s style of thinking in
the research and teaching of political theory at universities in Vietnam today.
Keywords: Ho Chi Minh; style of Thinking; research and Teaching of Political Theory; universities.
——————
* Trường Đại học Công đoàn

"không có gì quý hơn độc lập, tự do" đã trở thành kim
chỉ nam dẫn đường cho những hành động cách
mạng của Người.
Phong cách tư duy của Hồ Chí Minh nổi bật với
tính độc lập, tự chủ và sáng tạo, được xây dựng trên
cơ sở phân tích khoa học và thực tiễn, không rập
khuôn hay giáo điều. Người không tuyệt đối hóa một
mô hình hay tư tưởng cố định, mà luôn xem xét tình
hình cụ thể để xác định chiến lược phù hợp với lợi ích
dân tộc và xu thế phát triển của thời đại. Khả năng
linh hoạt và nhạy bén giúp Người nhận diện kịp thời
những biến động quốc tế, từ đó đề ra những giải
pháp sáng tạo, khả thi cho cách mạng Việt Nam. Tư
duy của Hồ Chí Minh không chỉ phản ánh bản lĩnh tự
chủ trong quyết sách mà còn thể hiện sự hài hòa giữa
nguyên tắc và thực tiễn, giữa mục tiêu lâu dài và điều
kiện cụ thể. Nhờ đó, Người đã tìm ra con đường đấu
tranh hiệu quả, đưa cách mạng Việt Nam đến thắng
lợi, đồng thời đặt nền tảng cho quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện lịch sử và đặc
thù của dân tộc.
Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa giá trị từ những gì
đã có, mà còn bổ sung các giá trị mới mang tính vượt
trội so với những tiền đề trước đó. Tính độc lập trong
tư duy đã được Hồ Chí Minh khẳng định từ rất sớm
trong hành trình tìm đường cứu nước. Khác với nhiều
nhân vật cùng thời, Người đã khước từ tham gia
phong trào “Đông Du” của cụ Phan Bội Châu sang
Nhật Bản và quyết định sang Pháp cùng các nước
châu Âu, châu Mỹ và khảo sát hầu hết các châu lục
khác nhằm tìm một con đường cứu nước hoàn toàn
mới. Quyết định này không chỉ phản ánh tư duy độc
lập, mà còn cho thấy tầm nhìn xa trông rộng và khả
năng nhận thức quy luật của thời đại.
Trong chuyến hành trình khảo sát ở Pháp, Hồ Chí
Minh đã nhận thấy hai bộ mặt xã hội của quốc gia
này: một là bản chất đế quốc tư bản của nhóm thống
trị, hai là tình cảnh nghèo khổ, bất bình đẳng của
người lao động. Khi đến Hoa Kỳ, Người đã nhận diện
được sự bất công xã hội dưới ánh sáng của Tượng Nữ
thần Tự do, nơi người da đen và phụ nữ bị chà đạp
bởi các thế lực thống trị. Người nhận ra bản chất của
chủ nghĩa thực dân tại các nước thuộc địa châu Phi,
nơi mà tính mạng con người bị coi như không có giá
trị. Khi đến các nước thuộc địa châu Phi, trước những
cảnh bọn thực dân Pháp coi thường mạng sống của
những người da đen, Người không bàng quan như
nhiều người khác, mà đã đi đến nhận định: “Đối với
bọn thực dân tính mạng của người thuộc địa, da vàng
hay da đen cũng không đáng một xu”1.
Tư duy độc lập, tự chủ và nhãn quan biện chứng
đã giúp Hồ Chí Minh nhanh chóng xác lập con đường
cách mạng vô sản, khác biệt với Phan Chu Trinh và
Phan Văn Trường. Hồ Chí Minh nhận thức rằng chỉ có
cách mạng vô sản mới giải phóng triệt để dân tộc,
đồng thời gắn liền với con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội. Người tán thành Quốc tế III, tham gia sáng lập
Đảng Cộng sản Pháp và kiên định vận dụng chủ
nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam. Sự lựa chọn
này không chỉ giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân
mà còn đặt nền móng cho một nhà nước cách mạng
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Sự sáng tạo trong phong cách tư duy của Hồ Chí
Minh thể hiện rất rõ từ việc lựa chọn con đường cứu
nước, cách đi và điểm đến cũng hoàn toàn mới mẻ
và táo bạo. Hồ Chí Minh thể hiện trong phong cách
của mình là không tiếp thu một cách giáo điều các
luồng tư tưởng. Vì thế, sáng tạo, sáng tạo và sáng tạo
chính tư duy của Người trong cuộc sống. Hồ Chí
Minh cho rằng: Lý luận do kinh nghiệm cách mạng ở
các nước và trong nước ta, do kinh nghiệm từ trước
và kinh nghiệm hiện nay gom góp phân tích và kết
luận những kinh nghiệm đó thành ra lý luận. Nhưng
phải biết khéo léo lợi dụng kinh nghiệm, thấy người
ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chước làm
theo thế ấy. Thí dụ: Nghe người ta nói giai cấp đấu
tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà
không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm
cho đúng.
Tính độc lập, tự chủ và sáng tạo của tư duy Hồ Chí
Minh thực sự có bước nhảy vọt khi Người bắt gặp chủ
nghĩa Mác - Lênin. Từ đây, độc lập, tự chủ mới thực sự
đi đến sáng tạo. Từ đây, trình độ tư duy của Người đã
đến độ chín để đối chiếu, so sánh, lựa chọn, chắt lọc
và tổng hợp những cứ liệu mà thực tiễn Việt Nam và
thế giới đã cung cấp, những kinh nghiệm mà cuộc
sống đã đem lại, những tư tưởng của Người đi trước
——————
1Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Chính
trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2015, tr.22.
84
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 37 thaáng 3/2025
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN

đã gợi mở, để từ đó đi đến những kết luận mới,
những tư tưởng mới.
Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã
tìm thấy ánh sáng soi đường trước hết cho hoạt động
tư duy của mình. Học thuyết mang tính cách mạng và
khoa học ấy đã mở ra chân trời rộng lớn cho sự sáng
tạo và đòi hỏi những người tiếp nhận nó phải sáng
tạo. Tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo của Hồ Chí
Minh nhanh chóng hòa nhập với tính cách mạng triệt
để và tính khoa học chặt chẽ của chủ nghĩa Mác -
Lênin, lý luận của một học thuyết chân chính nhất,
chắc chắn nhất, cách mệnh nhất, từ đó từng bước xác
lập cả một hệ thống tư tưởng, luận điểm sáng tạo, ít
thấy ở các nhà cách mạng đương thời. Hồ Chí Minh
có những luận điểm sáng tạo về con đường đưa một
nước nông nghiệp lạc hậu vốn là thuộc địa nửa
phong kiến, đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa. Có những vấn đề Người không đủ
thời gian và điều kiện để giải quyết, nhưng tư tưởng
của Người là những tiền đề lý luận và phương pháp
luận hết sức quan trọng để định hướng cho sự phát
triển hợp quy luật của đất nước. Vấn đề có ý nghĩa
quyết định là tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành cơ
sở cho việc hoạch định đường lối cách mạng đúng
đắn, cho việc xây dựng những nhân tố bảo đảm
thắng lợi của cách mạng Việt Nam, để Đảng Cộng sản
và nhân dân Việt Nam vượt qua mọi thử thách, vững
bước đi theo con đường đã lựa chọn - con đường đi
đến thắng lợi hoàn toàn của độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội.
Tóm lại, phong cách tư duy Hồ Chí Minh luôn thể
hiện sự độc lập, tự chủ sáng tạo với một bản lĩnh
dũng cảm, và tinh thần dám chịu trách nhiệm của
mình trước dân tộc và nhân loại. Phong cách tư duy
độc lập, tự chủ và sáng tạo của Hồ Chí Minh đã đưa
đến những tư tưởng phản ánh đúng cuộc sống, phản
ánh đúng quy luật vận động và phát triển của cuộc
sống. Vì vậy, những tư tưởng ấy không lạc hậu, mà đã
mở đường cho cuộc sống đi lên phía trước. Nhờ tinh
thần độc lập, tự chủ và sáng tạo của Hồ Chí Minh mà
những quy luật của cách mạng Việt Nam đã được
phát hiện. Hồ Chí Minh tiếp thu nhiều luồng tư tưởng
tiến bộ của dân tộc Việt Nam và của thế giới, tiếp thu
những nhân tố nào là tiến bộ của từng thời kỳ, nhưng
tất cả đều đúc kết lại, tổng hoà lại thành cái riêng của
Người mà không sao chép giáo điều. Tinh thần độc
lập, tự chủ, sáng tạo đã có trong phong cách tư duy
Hồ Chí Minh từ rất sớm. Khi đã đến với chủ nghĩa Mác
- Lênin, tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Hồ Chí
Minh càng được nâng cao và đã trở thành đặc điểm,
thành thuộc tính bền vững của phong cách tư duy
trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.
3. Bối cảnh mới và yêu cầu đặt ra trong nghiên
cứu và giảng dạy khoa học lý luận chính trị tại các
trường đại học ở Việt Nam hiện nay
3.1. Bối cảnh mới trong nghiên cứu và giảng dạy
khoa học lý luận chính trị tại các trường đại học ở
Việt Nam hiện nay
Bối cảnh hiện nay, có cả những thuận lợi và khó
khăn, thời cơ và thách thức đan xen nhau, đang đặt ra
cho việc nghiên cứu và giảng dạy khoa học lý luận
chính trị những yêu cầu và nhiệm vụ mới, đòi hỏi
khoa học này cần quan tâm để có thể đề xuất giải
pháp định hướng kịp thời, góp phần bảo vệ và phát
huy những thành quả cách mạng của Đảng.
Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: hòa bình và
phát triển vẫn là xu thế vận động của thời đại và là
một nội dung cốt lõi trong chiến lược của mọi quốc
gia trên thế giới với mong muốn đẩy lùi chiến tranh,
thiết lập một thế giới hòa bình, dân chủ và văn minh.
Tuy nhiên, “thế giới đang trải qua những biến động
to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự
báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn,
song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn”2.
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, hàng loạt vấn
đề tác động không nhỏ đến môi trường kinh tế, chính
trị, an ninh quốc tế như: tranh chấp chủ quyền, lãnh
thổ và tài nguyên; xung đột tôn giáo, sắc tộc; hoạt
động khủng bố; chủ nghĩa dân túy; chiến tranh cục
bộ, chiến tranh mạng; chủ nghĩa dân tộc cực đoan;
chủ nghĩa cường quyền nước lớn;...
Khoa học lý luận chính trị là khoa học nghiên cứu,
hình thành hệ thống tri thức về lý luận chính trị và
tổng kết những vấn đề thực tiễn mới đặt ra trong đời
sống chính trị của xã hội để đúc kết thành lý luận và
bài học kinh nghiệm. Khoa học lý luận chính trị có vị
trí, vai trò, tầm quan trọng to lớn đối với nhận thức và
——————
2Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I,
Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.105.
85
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 37 thaáng 3/2025
86
hành động của cá nhân, cộng đồng, giai cấp và sự
phát triển của toàn xã hội; nó mang tính giai cấp, tính
khái quát khoa học và tính định hướng, dự báo cao.
Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị là lĩnh vực có
vai trò rất quan trọng, làm cơ sở lý luận, khoa học cho
công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.
Nghiên cứu lý luận chính trị là hoạt động nghiên cứu
nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch
định, hoàn thiện đường lối, quan điểm của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước và phát hiện cái
mới, dự báo cái mới, luận chứng cơ sở lý luận - thực
tiễn cho đổi mới đường lối, chủ trương, cơ chế, chính
sách phát triển. Chính vì vậy, nghiên cứu lý luận chính
trị một mặt phải đảm bảo nguyên tắc và trách nhiệm
chính trị cao nhất là phục vụ cho sự lãnh đạo đúng
đắn của Đảng, lợi ích phát triển của đất nước, đồng
thời phải có tinh thần dũng cảm cách mạng - khoa
học, có không gian tự do sáng tạo trong nghiên cứu,
đề xuất được những nhận thức lý luận mới phù hợp
đòi hỏi của thực tiễn, vượt qua những nhận thức,
quan điểm, luận điểm hiện hành đã không còn phù
hợp. Điều đó cũng có nghĩa là trong nghiên cứu, phát
triển khoa học lý luận luôn chứa đựng bản chất cốt lõi
tư duy độc lập, tự chủ, biện chứng, sáng tạo.
3.2. Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu và
giảng dạy khoa học lý luận chính trị ở Việt Nam
hiện nay
Thứ nhất, bối cảnh quốc tế hiện nay đang đặt ra
nhiều vấn đề đòi hỏi nghiên cứu và giảng dạy khoa học
lý luận chính trị ở Việt Nam cần nghiên cứu và vận dụng
để góp phần xây dựng và phát triển đất nước
Trong bối cảnh thế giới có những biến động
nhanh chóng, phức tạp, khó lường như hiện nay, vấn
đề bảo vệ lợi ích chiến lược của các quốc gia - dân tộc
càng được đặt ra cấp thiết. Để bảo vệ lợi ích chiến
lược của đất nước, nghiên cứu và giảng dạy khoa học
lý luận chính trị cần tập trung nghiên cứu và định
hướng cho người học lập trường tích cực đấu tranh
bảo vệ chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước đi
đôi với bảo vệ hòa bình, ổn định chính trị - xã hội, bảo
vệ các giá trị chuẩn mực của luật pháp quốc tế. Cần
đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, phân tích, đánh
giá, dự báo toàn diện tình hình và xu thế phát triển
của thế giới, khu vực; thực trạng và xu hướng phát
triển quan hệ giữa các nước lớn với các nước Đông
Nam Á, các nước có nhiều lợi ích liên quan đối với Việt
Nam; nhận diện kịp thời, đúng đắn, thực chất mối
quan hệ, sự mâu thuẫn và thống nhất giữa các nước
lớn, với các nước ở khu vực trong việc giải quyết các
vấn đề quốc tế, khu vực liên quan đến chủ quyền, lợi
ích của Việt Nam. Kiên quyết đấu tranh chống chủ
nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân tộc ly khai và
chủ nghĩa dân tộc biệt lập.
Thứ hai, thành tựu của khoa học - công nghệ hiện
đại, đặc biệt của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư đang tạo ra nhiều cơ hội và đặt ra những thách thức
mới trong nghiên cứu và giảng dạy khoa học lý luận
chính trị
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang mở
ra nhiều cơ hội mới, hướng tiếp cận mới cho hoạt
động nghiên cứu và giảng dạy của nhiều ngành,
nhiều bộ môn khoa học, trong đó có Khoa học lý luận
chính trị. Việc ứng dụng những thành tựu của công
nghệ thông tin có thể giúp Khoa học lý luận chính trị
trao đổi, tương tác, cập nhật những kiến thức liên
ngành như Luật học, Sử học, Xã hội học, Giáo dục
học, Kinh tế học... một cách dễ dàng hơn.
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng thúc đẩy
nhanh quá trình chuyển đổi số trong giáo dục, trong
đó có hoạt động nghiên cứu và giảng dạy nghiên cứu
và giảng dạy khoa học lý luận chính trị. Chuyển đổi số
là quá trình chuyển đổi từ việc vận hành một mô hình
truyền thống sang vận hành một mô hình số. Đó là
mô hình kết hợp giữa ứng dụng số hóa, công nghệ
thông tin với các thành tựu công nghệ, phối hợp, bổ
trợ cho nhau một cách nhịp nhàng để tạo ra một kết
quả tối ưu nhất.
Để đáp ứng nguồn nhân lực cho nền kinh tế số,
khoa học lý luận chính trị cũng phải thay đổi các hoạt
động đào tạo, hình thức và phương pháp giảng dạy,
với việc ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ thông tin.
Trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, người học
ở bất cứ đâu đều có thể truy cập vào thư viện của nhà
trường để tự học, tự nghiên cứu. Như vậy, không thể
chỉ tồn tại mô hình thư viện truyền thống, mà các
trường phải xây dựng thư viện điện tử. Những mô
hình giảng dạy mới như đào tạo trực tuyến không
cần lớp học, không cần giáo viên đứng lớp, người học
được hướng dẫn học qua mạng; những lớp học ảo,
thiết bị ảo có tính mô phỏng, bài giảng được số hóa

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
87
và chia sẻ qua những hình thức như E-learning,
Youtube... trở thành xu thế trong hoạt động đào tạo.
Người học có nhiều cơ hội để tiếp cận, tích lũy,
chắt lọc cái mới, cái hay, để trở thành một công dân
toàn cầu có khả năng làm việc trong môi trường mở
và sáng tạo. Vì vậy, các cơ sở giáo dục sẽ phải chuyển
đổi mạnh mẽ sang mô hình chỉ đào tạo “những gì xã
hội cần”, những nội dung của các môn cơ bản sẽ phải
được rút ngắn và thay vào đó là những nội dung cần
thiết để đáp ứng nhu cầu xã hội và bảo đảm để người
học thực hiện được phương châm “học tập suốt đời”.
Các cơ quan nhà nước cần thiết kế mô hình tổ
chức, cách thức vận hành dựa trên dữ liệu và công
nghệ số, tạo ra môi trường làm việc và công cụ làm
việc để cán bộ, công chức, viên chức có thể thực hiện
tốt nhất nhiệm vụ của mình, kết nối và hợp tác với
nhau dễ dàng hơn, đưa ra quyết định kịp thời hơn,
ban hành chính sách tốt hơn, sử dụng nguồn lực tối
ưu hơn. Do đó, ngành khoa học lý luận chính trị cần
quan tâm bồi dưỡng cho người học kỹ năng phân
tích, khai thác dữ liệu và công nghệ số, có năng lực
kiến tạo phát triển, dẫn dắt chuyển đổi số trong từng
ngành, lĩnh vực, địa phương.
Một thách thức khác đặt ra trong đổi mới nội
dung, phương pháp tiếp cận, cách thức nghiên cứu
khoa học lý luận chính trị là: với sự phát triển nhanh
của khoa học - công nghệ hiện nay, lượng tri thức loài
người được tạo ra rất lớn, nhưng khả năng ghi nhớ và
thời gian dành cho việc nghiên cứu và học tập là có
hạn; nhiều lớp học truyền thống sẽ bị thay thế bằng
những khóa đào tạo trực tuyến. Mô hình giáo dục
mới mang tên “mô hình giáo dục 4.0” sẽ ra đời và việc
giảng dạy khoa học lý luận chính trị sẽ phải thích ứng.
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự “lên ngôi”
của trí tuệ nhân tạo, internet kết nối vạn vật, rôbốt...
cũng đang đặt khoa học lý luận chính trị trước những
thách thức mới về vai trò thật sự của con người, trong
đó có người thầy. Giảng viên phải xây dựng lại kết
cấu nội dung môn học và thay đổi phương pháp
giảng dạy cho phù hợp.
Thứ ba, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế, xu hướng liên kết và hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực nghiên cứu và đào tạo khoa học lý luận chính trị
ngày càng gia tăng
Cơ hội hợp tác, giao lưu, tìm kiếm, tiếp thu những
thành tựu nghiên cứu của khoa học chính trị được
mở rộng. Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến
khoa học lý luận chính trị trên thế giới, nhất là của các
học giả phương Tây, được dịch và xuất bản bằng
tiếng Việt. Đây là nguồn tài liệu quan trọng bổ sung,
làm phong phú thêm nguồn học liệu cho công tác
giảng dạy và nghiên cứu khoa học lý luận chính trị ở
Việt Nam.
Bên cạnh việc tham gia các cuộc hội thảo quốc tế
liên quan đến khoa học lý luận chính trị còn có sự
giao lưu, liên kết, trao đổi về đào tạo đại học và sau
đại học ngành khoa học lý luận chính trị với một số
nước trong khu vực. Sự liên kết này đã tạo ra môi
trường mở để giao lưu và trao đổi học thuật mạnh mẽ
về khoa học lý luận chính trị, giúp các học viện,
trường đại học có cơ hội học hỏi và tiếp cận, cập nhật
thực tiễn dạy học khoa học lý luận chính trị ở nhiều
nước trên thế giới.
Thứ tư, những thành tựu đạt được qua hơn 35 năm
đổi mới đất nước là thực tiễn phong phú, gợi mở nhiều
vấn đề cho khoa học lý luận chính trị tiếp tục nghiên
cứu, vận dụng và phát triển
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của
hơn 35 năm đổi mới là minh chứng thuyết phục cho
tính chất ưu việt của chế độ XHCN mà nhân dân ta
đang xây dựng, đồng thời cũng là chất liệu cho khoa
học lý luận chính trị ở Việt Nam nghiên cứu và phát
triển, góp phần khơi dậy khát vọng của nhân dân về
một xã hội phồn vinh, hạnh phúc. Bên cạnh việc làm
sáng tỏ những vấn đề lý luận mang tính hàn lâm,
khoa học lý luận chính trị phải tiếp tục đi sâu nghiên
cứu, tổng kết thực tiễn, giải đáp những vấn đề chính
trị - xã hội của đất nước, nhất là những vấn đề đương
đại. Đó là: làm thế nào để phát triển đất nước trong
bối cảnh các nước vừa hội nhập, hợp tác, vừa cạnh
tranh và đấu tranh lẫn nhau; làm thế nào vẫn duy trì
được quan hệ hòa bình, hữu nghị mà vẫn bảo vệ
được lợi ích quốc gia, giữ được chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ; hệ giá trị cần hướng tới trong xây dựng văn
hóa chính trị Việt Nam hiện nay là gì; cần nhận diện
những rủi ro toàn cầu và một số xu hướng phát triển
lớn mà Việt Nam cần nắm bắt để đưa ra những quyết
định và hành động thích hợp, góp phần thực hiện
thành công các mục tiêu phát triển đất nước; làm thế
nào để phát huy vai trò định hướng, dẫn dắt của

