Văn học cung đình và văn học
thành thị ở Thăng Long
Về đề tài, văn học cung đình đề cập đến những vấn đề chính trị lớn của triều đại
như đường lối chính trị, đối nội và đối ngoại, vấn đề quốc gia, dân tộc. Các cảm xúc, tư
tưởng, hình tượng nghệ thuật đều trực tiếp hay gián tiếp có quan hệ với điểm nhìn xã
hội, dân tộc của các tác giả cung đình này. Đi sâu vào các hình thức diễn ngôn và tự s
của văn học cung đình cũng có nhiều chuyện phức tạp. Ở hình thái điển hình của nó, các
bậc hoàng đế, các vị quý tộc khi sáng tác thơ văn, dù là kín đáo hay lộ liễu, tất nhiên
phải gợi mở tinh thần đề cao, tán dương, khẳng định triều đại, khai mở cho cảm hứng
ca công tụng đức” vốn có tiềm năng không nhỏ i các văn sĩ triều thần gần gũi. Đó là
chuyện xướng họa thơ văn của vua tôi Lê Thánh Tông vi ngót 30 văn thần nổi tiếng.
Nhà vua tỏ ra “khiêm tốn” với câu tgợi mở “Bố đức thi nhân tín vị năng/ Hoàng thiên
tích phúc lũy phong đăng” (Ta tin là chưa có thể làm điu ban bố nhân, đức nhưng may
được trời giáng phúc, cho mấy năm được mùa liên tiếp) như để thăm dò suy nghĩ của
các văn thần về mình. Tất nhiên, các văn thần thông minh đã đón bắt ý của quân vương
rất nhanh. Thân Nhân Trung viết Cách thiên đế đức diệu toàn năng/ hiệp ứng hưu
trưng bách cốc đăng(Đức của nhà vua cm thấu đến trời nên xảy ra điều klạ/ Điềm
lành hin ra, mùa màng tươi tốt). Đến thế kỷ XVIII, tuy song song tồn tại cung vua phủ
chúa, một thể chế chính trị được gii nghiên cứu gọi là “lưỡng đầu chế”, song quyền
lực thực snằm trong tay các chúa Trịnh(3). hình din ngôn của văn học cung đình
thời Lê - Trịnh có thể cho ta biết quyền lực thực sự thuộc về các chúa Trịnh điều này.
Sách Lịch triều tạp kỷ chép tháng 5 năm 1717, Trịnh Cương sai các triều sĩ soạn bài
châm Biết người đem dâng để thử xem tài học súc tích đến đâu. Đặng Đình Tướng,
Nguyễn Quý Đức cùng son bài cm Biết người dâng chúa, trong đó có những câu ca
tụng như Cao cthay chúa thượng ta là bc thánh ! Thông minh tính trời (4)Năm
1721, chúa Trịnh Cương đi chơi hồ Tây, “bọn Trịnh Quán, Đặng Đình Tướng, Nguyễn
Công Hãng và Anh Tun đều đi hộ giá. Chúa Trịnh đích thân làm hai bài thơ quốc
âm để ban cho họ. Trong thơ có (chúa tôi họ) như cảnh cá gặp nước, tương đắc với
nhau. Bn Quán đều có ng thư ca tụng và tơn nhà chúa”(5). Việc làm của Trịnh
Cương tựa hồ như mô phỏng cử chỉ sáng tác văn học cung đình của Lê Thánh Tông, ban
phát cho qun thần cơ hội để ca tụng mình, để khẳng định uy quyền tuyệt đối của mình
hoặc khen ngợi lòng trung thành của bề tôi và văn thơ được xem như một phương tiện
hữu hiệu để thực hiện mục đích đó. Đây chỉ là một trong nhiều trường hợp chúa Trịnh
ban, tng thơ cho các quan lại, kể cả thơ Hán và thơ Nôm. Nhìn chung, những lối thơ
tụng ca cung đình, khuyến khích lòng trung thành này ít có giá trị văn học vì chúng
thường khuôn sáo, công thức, thù tạc. Không ít tác giả của văn học cung đình kẻ kín
đáo, người lộ liễu ca ngợi triều đại. Vua chúa thì khen ngi quần thần, khích lệ sự cúc
cung tn tụy.
Mặt khác, trên cương vị là nhng người “thống trị”, dẫn đạo xã hội (ở đây chúng
ta không bàn vnhững con đường đi đến vị trí lãnh đạo này), tác givăn học cung đình
còn quan tâm đến một mảng đề tài khác- vn đề tu dưỡng nhân cách đạo đức để xứng
đáng với địa vị đó. Các bậc quan lại, công khanh, quý tộc, sĩ đại phu, tướng lãnh có th
gắn liền sự tu thân gắng chí với sự tồn vong của quốc gia Thái bình tu trí lc/ Vạn cổ
thử giang san (Trần Quang Khải), đó là giang sơn đất nước chung của tất cả nhưng
trước hết là giang sơn nhà Trần và người phát ngôn ở đây là Thượng tướng. Tác giả bài
thơ Thuật hoài nổi tiếng Phạm Ngũ Lão tuy xuất thân từ bình dân nhưng trở thành môn
khách và con rể Trần Quốc Tuấn, rồi chính ông cũng có con gái làm th phi, như thế thì
ông nói “thẹn” khi nghe chuyện Vũ hầu là một cm xúc hữu trách có tính khuynh hướng
của người sẽ/ đã bước vào chốn cung đình, vào môi trường quý tộc. Trần Quốc Tuấn
viết lời dụ c tướng trong Binh gia yếu lược đã nói thng ra là sự tồn vong của đất
nước liên quan trực tiếp đến điền trang thái ấp, bổng lộc vinh hoa của chính ông và các
tướng lĩnh, quý tộc, từ đó mà khích lệ chư tướng có c tiến thủ:Chẳng những thái ấp
của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan
mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ
cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên; chng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm
năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các người cũng không
khỏi mang tiếng là tướng bại trận” - một viễn cảnh đầy đe dọa nếu tầng lớp tướng lĩnh
không chịu giữ ý chí tiến thủ. Mấy thế kỷ XIV-XV, âm vang của văn học cung đình còn
thấy trong những bài thơ, phú khai thác đề tài lịch sử để gián tiếp và kín đáo gửi thông
điệp cho các bậc quân vương chú ý đến nguyên lý đức tr tại đức bất tại hiểm. Trương
Hán Siêu viết Bạch Đằng giang phú, Nguyễn Sưởng viết thơ Bạch Đằng giang, T
Tấn làm Chí Linh sơn phú, Xương Giang phú… đều nhấn mạnh tư tưởng tại đức bất tại
hiểm như một triết học chính trị để nhắn gửi cho các bậc quân vương. Họ mượn đề tài
lch sử, vẻ ngoài ca ngợi các chiến công lừng lẫy tại các địa danh này, song thực ra là
mun kín đáo nhắn nhủ bài học đạo đức.c nhận quan tâm chung của nhiều thế hệ nho
sĩ về triết này là ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư: khi Hồ Quý Ly chuyển kinh
đô về Thanh Hóa, Nguyễn Nhữ Thuyết đã can gián bng một triết lý “Tại đức bất tại
him”. Sự thành bi của một sự nghiệp không phải dựa vào thế hiểm yếu của giang sơn
mà tại đức của người lãnh đạo. Cũng theo bộ sử này, Hồ QLy tỏ ra không thích nghe
li khuyên này nên đã cách chức Nguyễn Như Thuyết(6). Xem thế để hiểu rằng kng
phải tác phẩm văn học cung đình nào cũng được vua chúa tiếp nhận một cách tích cực:
tinh thần xây dựng chế độ trong một số trường hợp lại hàm nghĩa phê pn vua chúa nên
b coi là tiêu cực. Chúng ta qua phản ứng của Hồ Quý Ly cũng hiểu được vì sao nhà nho
phải chuyển tải các thông điệp đạo đức - chính trị dưới hình thức hồi tưởng các sự kiện
lch sử: câu chuyện quá khứ giúp che giấu cho ý đồ bình luận chính trị. Đó là pơng
pháp đối pvới cấm kỵ chính trị quen thuộc của văn học trung đại. Vẫn là vấn đề tu
dưỡng đạo đức của giới lãnh đạo cung đình, song lúc t được nhìn tgóc độ quyền li
của đẳng cấp quý tộc, lúc lại được nhìn từ bổn phận đạo đức của họ trước nhân dân. Đức
ở đây là thân dân, là nhân nghĩa, là hiếu sinh, thứ đức mà thi hành có thmang lại lợi ích
cho nhân dân... Vì: Dân mến người có đức/ Trời giúp bậc chí thành (Xương Giang phú).
Nếu ta có thể xếp những sáng tác bàn về tu dưỡng đạo đức của quân vương vào văn hc
cung đình thì nhng sáng tác trong đó nho gia bàn về tu dưỡng đạo đức bản thân lại có
tínhch độc lập, có nội dung và thi pháp khác, không hoàn toàn thuộc phạm vi văn học
cung đình.
Nhìn chung bphận văn học cung đình là bộ phận chủ yếu ở những thế kỷ đầu
tiên của văn học Thăng Long (mà cũng là của văn học Việt Nam) cho đến quãng thế kỷ
XVI. Điều đó có thể cắt nghĩa bằng một số lý do. Trước hết phải nói là những thế kỷ
đầu tiên, lực lượng sáng tác chủ yếu, căn bản đến từ tầng lớp lãnh đạo như vua, trí thức
quan li, quý tộc, tướng lĩnh, sĩ tử và các thiền sư. Ngoại trừ sáng tác của các thiền sư
vốn có tính chất độc lập tương đối, tất cảc tác giả thế tục đều ít nhiều có liên hvới
chính sự của triều đại. Li nữa, phải kể đến sự phát triển còn hạn chế về cơ học của
Thăng Long về quy mô và cu trúc dân cư trong những thế kỷ đầu tiên. Một triều đình
vốn khép kín trong thành quách với thành phn và cu trúc dân cư như thế tất nhiên đã
sản sinh ra một nền văn học cung đình.
Nhưng cùng với thời gian, khu vực “thị - chợ” bao bọc quanh Hoàng
Thành ngàyng mở rộng ra để đến khoảng thế kỷ XVII-XVIII, bản dịch
Nôm Truyền kỳ mạn lục đã gọi Thăng Long là Kẻ Chợ. Sự sầm uất của K
Chợ xưa đã được một số người Tây phương mô tả từ thế kỷ XVII tuy có
thể là phóng đại đểy tò mò, lôi kéo thêm những người đồng hương
khác tới phương Đông, song cũng phản ánh một sự thật nào đó. Cuốn t
điển đối chiếu Việt - B- La, Dictionarium Annamiticum Lusitanum et
Latinum (1651) đã có giải thích khái niệm “Kẻ Chợ”. Nó đã thành tên gọi
phổ biến đến mức các giáo sĩ và thương nhân phương Tây đến đây trong
thế kỷ XVIII đều sử dụng. Cùng với thời gian, khu vực “th- chợ” mở rộng,
các lp cư dân thành thị dần tăng lên: những người nông dân kiêm th
thủ công đổ ra Thăng Long vào nhng dịp nông nhàn dần tăng lên;
thương nhân đến từ mọi miền đất nước, người Hoa thương nhân ngày
một đông đảo như là một trong những nguồn cung cấp cập nhật nguồn
sách mi đến từ Trung Quốc, trong đó có thể có những tác phẩm văn học
thành thị của họ; tầng lớp quan lại sống bên ngoài hoàng thành với các
quan hệ xã hội càng mở rộng; các tử đổ về Thăng Long thụ nghiệp và
tham d các k thi; nhân vật ca nhi, kỹ nữ, ả đào phục vụ cho nhu cầu giải
trí của vua chúa, quý tộc, quan lại thương nhân nhiều tiền lắm của đến
thế kỷ XVIII đã trthành một loại nhân vật khá đậm nét trong đời sống văn
hóa Thăng Long…
Hiện không thật rõ quá trình phát trin dân số học và cấu trúc dân số Thăng
Long qua các đời, song nếu nhìn vào văn học thì khoảng thế kỷ XVII, ở đây đã có một
thvăn học có thể gọi là văn học thành thị.
Chúng tôi dùng ki nim “văn học thành thị” để chỉ mảng sáng tác ra đời trong
không gian “Kẻ Chợ”, phản ánh những vấn đề của đời sống thị dân, văn hóa thị dân,
nhìn cuộc sng và con người theo quan điểm thị dân. Tác giả của văn học thành th
thể là nhà nho, là thương gia, là phụ nữ chứ không nhất thiết đây phải là sáng tác của