Văn học cung đình và văn học
thành thị ở Thăng Long
Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu đã có nhng gợi ý quan trọng để chúng ta tìm
kiếmu trả lời. Nn viết về Truyện Hoa Tiên, ông đã có một nhận xét cực quan trọng
rằng các truyện Nôm có tính chất tài tử giai nhân mà ta quen gi là Truyện Nôm bác
học nở rộ trong thế kỷ XVIII vay mượn cốt truyện của các tiểu thuyết “của văn học đô
th Trung Quốc”(10). Ông phê phán cách tiếp cận xã hi học dung tục kéo dài ta: “Lâu
nay ta quen đánh giá văn học theo lối xã hội học tầm thường, gắn các hiện tượng văn
học với vận mệnh chế độ phong kiến, coi Hoa tiên nguyên tác là sản phẩm của trào u
chống phong kiến và các bn nhuận chính (truyện Hoa tiên – TNT chú) vi trào lưu bảo
vệ chế độ chuyên chế, một bên nm trong xu hướng nhân đạo, kết quả của phong trào
khởi nghĩa nông n, một bên chịu ảnh hưởng của thể chế chuyên chế độc tôn Nho giáo
nhà Nguyễn” (tr.170). Nhưng theo ông, phải thấy rõ sức hấp dẫn cả về nội dung và ngh
thuật của kiểu truyện tài tử giai nhân Trung Quốc đối với nho sĩ Việt Nam: “Khi tiếp
xúc vi các tiểu thuyết ái tình - loi văn học đô thị đời Nguyên và đời Minh ở Trung
Quốc (những “m từ, diễm khúc” như cách nói của Vũ Đãi Vn) mt loại văn
chương trái lễ bất chính, các nhà nho vn chỉ quen với văn chương kinh, truyện, sử, tử,
với Đường thi và Cổ văn,... lại blôi cuốn say mê. Hgặp trong văn chương mới lạ đó
những con người khác, say mê hạnh phúc được ng thụ một tình yêu đẹp đẽ phong
phú. Làm say mê hkhông chỉ là hình nh một cuộc sống khác mà còn một nghệ
thuật văn chương khác, dâm từ, diễm khúc” thúc giục họ nếm trải cuộc sống đó và học
theo thn chương mới mẻ đó” (tr.172).
Chính n học thành thđã đem lại sự say mê, ham thích mi lạ có thể khiến cho
con ni xao nhãng học tập kinh điển hay cn ghét thơ phú cnh thống cung đình.
Không phi ngẫu nhiên rất nhiều tác phẩm tự sự, gồm các n xuôi và truyn t,
của thế kXVIII đầu thế kỷ XIX Tng Long lại lấy hai nhân vật cnh cng thư
sinh - sĩ tử và ngưi con i đất kinh kỳ, kiểu nhân vật tài tgiai nhân. Tác nn kích
thích trước tiên cho sra đời của kiểu nn vt này kng phi từ sự tiếp nhận n học
thành thTrung Quốc, cthể là tviệc vay mượn cốt truyện của kiểu truyện tài tgiai
nhân. Chúng tathquan t thấy, chính đời sng thành thThăng Long đã gợi ý cho
sxuất hiện của kiểu nhân vật tài tgiai nn. Truyền k mạn lục của Nguyễn D(thế
kỷ XVI) đã có mt số truyện mang đậm t kiểu tác phẩm n học thành thị. Nn vật
nam ntrong Truyn kỳ ngtri y được hưởng bầu kng khí ktự do của thành
thThăng Long. Ta i Tng Long là i làng ln theo nghĩa ngưi n xưa đã
nguyên xi” kết cu và n hóa ng xã vào Thăng Long. Nng cũng lại phải công
nhn một sự thực khác là i làng ln này kng còn cái làng nh quê của họ nữa.
n Thăng Long kng phi cư dân n định của làng q mà rt biến động khiến
cho tâm lý ng vn tng can thiệp vào đi sng cá nhân kng có vai trò nữa.
i nhân ít nhiu bắt đầu có hội nảy nở, thể hiện. Một chàng trai giã từ cha mẹ t
min qThiên Trường ra ngTng Long để thụ nghiệp cỨc Trai tức là cng có
tự do nhất đnh đối với khuôn khổ chật hẹp của gia đình phong kiến. Hàng ngày cng
đi học qua phưng Khúc Giang i có một dinh cư cũ đnát (vô chủ) và thy hai cô
i xinh đẹp đng đó, chủ đng trêu ghẹo chàng, i qu ngon, bhoa đẹp m cho
chàng (ti ngược với ngưi con gái trong xã hi nho giáo a vốn được dy phải giữ
lễ, giữ thế bị đng trước nam giới). Cuộc tình của họ diễn ra trong kng gian thành
thị, i lứa đôi kng bnhòm ngó, bình lun, đàm tiếu như làng quê. i cách khác,
kng gian sng thành thvà kiu nhân vật thư sinh của thành th(trường hp này
chàng Nn) đã gi ý cho kiểu truyện tình u tài tgiai nhân. Tuy nhiên, phương
thc tự sđơn giản của kiểu truyện này, đc biệt là ca pn tích được chiều u tâm
nhân vt, ơng tác nhân vt đơn tuyến, xung đột xã hi ca thể hiện mnh mẽ…
đã kng tha mãn m lý tiếp nhận của tng lớp cư n tnh thngày càng đa dạng,
đông đảo. Nền tảng n hóa thành thThăng Long đã thúc đy những sáng tác văn học
thành thra đời, trong đó cxu hướng vay mượn cốt truyện của văn học thành th
Trung Quc vốn nhiều kinh nghiệm hơn. Trong các truyện Nôm mượn cốt truyện
của văn học thành thTrung Quốc, ta tng bắt gặp kiểu nhân vật nam/nữ có dáng
dấp tài tgiai nhân như trong Truyn kmạn lục. Không gian tnh thvà tình yêu táo
bạo giữa nam nữ quan hệ rõ ng. Nhu cu hiểu biết đng m lý của nh đng
nhân vt đã gia tăng chất trữ tình thm đậm của Truyn Hoa Tiên, Truyện Kiều.
Khi tnh thphát triển đến chừng mực nào đó thì các tầng lp cư dân cũng đa
dng và phc tạp n. Quan niệm sống cũng đa dạng hơn, kng còn nht thể n cũ.
Phương diện cá nhân của con ngưi đã i cun shứng thú. Con ngưi kẻ chợ đã
kng thỏa mãn vi lối sáng c n học truyền thống. Không phải ngu nhiên mà song
song vi những sinh hoạt n học có tính cách cung đình như những buổi bình văn
trong nhà quc học do các quan cnh phủ” chủ trì(11), Tng Long thế kỷ XVIII có
nhng hình thứccâu lạc bộ văn học” tpt do những ngưi thích n chương hợp
li mà tnh, tùy hứng chứ kng có tính cách định kỳ. Qua Thượng kinh s,
Hữu Trác cho biết lúc trẻ, còn Tng Long, ông cùng bn bè i chục người đã lp
một thi xã. Trong thi gian gần một m ở Thăng Long (1782), ông đã nhiu cuộc
xướng họa t n ngẫu hứng với những người u tkinh kvà quanh kinh k tới.
Hđến xin thơ ông ri đều có thọa lại. Ông kng ngờ tcủa ông đã được ni
kinh ktruyền tay nhau cp lại, chai ba ngày li có ni mang t họa đến gặp
ông. Thơ của ông được đánh giá là có ý vkhói mây, thanh cao, thoát tục của bậc n
dt. Đem tâm snhàn dt, thoát tục tuyên truyn tạo thành một đợt sóng ng họa
khá sôi ni trong một vài tng, gia Thăng Long phồn hoa, đô hội, i nhiu hoàn
cnh nuôi dưỡng tham vọng chính trị cũng là mt điểm lạ của Lãn Ông Hu Tc,
ông già lười biếng chuyện chính trị, chuyện danh lợi. Thi nn xưa có những cách
riêng để thể hiện con đưng tìm kiếm tự do cho cá nhân, trong đó không thể kng nói
đến những pt ngôn coi tng danh lợi, đề cao nhàn dt ngay giữa chốn đô thị phồn
hoa. Toàn b Thưng kinh s thực ra nh để diễn tả con người độc lập, tdo của
thi nhân trong hi chuyên chế mọt ruỗng. Lê Hu Tc còn k, cũng trong chuyến đi
Thăng Long y, có lần đến ci nhà Đặng tiểu thư, con i một ngưi bạn, tập
thơ m ba mươi i “cung oán” do quan Tin Ninh soạn. Cô cho hay, kinh krất
nhiu ngưi chép lại thơ y. Nghĩa là có một dạng “cung oán nhiệt” hay đề tài cung
n cho các u lc bộ thơ” t phát kinh kỳ. Ni thành thđang hứng tvới tn
phận và quyn sống của một kiểu ngưi phnữ- nhng ni tài sc, mỏi mòn trong
cô đơn, gia tuổi thanh xuân chốn cung cm thâm u. Giới nghiên cu đã i đến hiện
tượng có nhiều bản diễn mChinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn) và hin tượng Truyn
Hoa Tiên có tri qua một lịch snhuận sắc(12). Nhng c phẩm văn học thành thkiểu
y kng chỉ dy lên squan m đến thân phận hay quyền sống của ngưi phnữ
mà còn to nên nim hứng khởi cho các nhà văn, nhà tthnghiệm tài ng nghệ
thut vào một hình thức thi pp mi, đầy tính chất thẩm mỹ. Diễn ra quốc âm, xướng
họa, nhuận sắc cnh là nhng hình thức khác nhau của đối thoi liên n bản, khiến
cho văn học thành thThăng Long ngày ng đm t n chủ, thẩm mỹ, giải trí.
Không khí văn học thành thcủa Thăng Long ở thời kỳ này quthực rất sôi động,
nhiu vẻ.
i vhoàn cnh lịch sử của n học Việt Nam thế kXVIII - đầu thế kỷ XIX,
nhiu ngưi thường nhấn qmạnh vào tình trng khủng hong kinh tế của xã hi
phong kiến tạo hình nh đen tối, thê thm mà qn mt rằng giới quý tộc lớp trên
các thương nhân kng đến nỗi thê thm như vy. Nói đến Thăng Long thế k
XVIII, kng thbỏ qua những người có khả ng i cnh như quan lại quý tộc,
thương gia, nhng kẻ cuộc sống phong pn trước, thể hiện trước hết trong nhu
cu hưng thụ nghệ thuật, đã “bảo trợ” theo những cách rng để nghệ thuật phát triển.
Chúng tôi đã tng bàn về vai trò quan trng của nghệ thuật diễn xướng, v sự hiện din
ngày càng đông đo của những nghệ sĩ ca trù trong đời sng nghệ thuật Tng Long
các thế kXVIII-XIX. i thơ Long thành cầm giả ca (1813) của Nguyễn Du có một
chi tiết đáng cý: Cầm y đã biu diễn phục vụ qua ba triều đại, từ Lê - Trịnh
qua Tây n đến Nguyễn. Có thể lập trường cnh trị của những kn - thính githuộc
ba triu đi này là kc nhau, song h đều giống nhau chỗ say mê ngh thuật biểu
din, và một khi đã say mê thì kng tiếc tiền. Tây n cthần mãn tọa tn khuynh
đảo/ Triệt dtruy hoan bất tri bão/ Tphao hữu trịch tranh triền đu/ Nê thkim tin
thù thảo thảo (Quan li Tây Sơn ngồi kín tất thảy đều nghiêng ng/ Suốt đêm truy hoan
kng biết cn/ Bên ti bên phi đua nhau ném tiền thưởng/ Tiền ng coi như đt
bùn)(13)... Trong những cuộc hát xướng ấy, người ta bất giác trở về với phần con ngưi
của mình, ti mũ áo cao sang, bỏ sđường bệ uy nghiêm. Nguyn ng Trứ còn
bảoKhi đắc ý mắt đi mày lại. Có l cng ta phải nghĩ đến mt vai trò to ln cho hát ca
trù và các ngh sĩ ả đào trong q trình đưac n nhân, nghệ sĩ của Thăng Long tr
li với con người tự nhiên, đi thưng. Mảng n học cung đình thiên vthể hiện con
người thánh nhân, qn t còn mng n học thành thlại tạo cơ hội cho sự khẳng
định của con người tự nhiên, pm trn. Du làm quan hay tr thành các hàn nho, n
sĩ, nhiều c giả n học Thăng Long thế kXVIII- đầu thế kỷ XIX đã bắt đầu ý thức
về con người nghệ thuật của họ. Con ngưi n cơng đã phn nào tách khi con
người chính trị. Tkng còn thun túy là pơng tiện i ctu tn, tgia, tr