Văn học cung đình và văn học
thành thị ở Thăng Long
Cng ta biết đến một nn kiến trúc cung đình kiến trúc dân gian Tng
Long, mt nền âm nhc cung đình âm nhc dân gian Tng Long. Vy có thi
đến một thn học cung đình văn hc thành thTng Long kng? Và nếu có
th thì ta s phải tả như thế nào hai dòng, hai kiu văn học đó? Tđim nhìn v
hai dòng văn hc như thế liệu ta có đưc nhn thức mới nào vbức tranh n học
dân tc? Với bài viết này, cng tôi c gng phác ha một sý tưởng bưc đu.
Nếu xét không gian sinh tồn và phát trin của văn học Thăng Long, một đô thị
kiểu phương Đông thời trung đại, nơithành và có thị, hiển nhiên ta có quyền nói đến
hai loại văn học, hai dòng văn học là văn học cung đình và văn học thành th. Trong
những thế kỷ đầu tiên từ khi nhà Lý di đô về Thăng Long, khi mà phần “thị- chhãy
còn rất nhỏ bé, chắc chắn phần Hoàng thành bao bọc trong nó triều đình của các triều
đại Lý, Trần là không gian chủ yếu ca Thăng Long. Những nhân vật văn hóa chủ yếu ở
Thăng Long trong quãng thời giany là các ông vua, là hoàng tộc, là quan li, quý tộc
và nhng lớp người có liên hmật thiết vi cácơng triều như thiền sư, nho sĩ. Tạm
thời, còn rất ít hoặc chưa có những kiểu nhân vật khác của giai đoạn sau như thương
nhân, thợ thủ công, sĩ tử từ các miền quê lai kinh ứng thí, các trí thức nho sĩ, những ca
nhi, ả đào, v.v… những kiểu nhân vật chủ yếu sinh tn và có một đời sống văn hóa riêng
trong khu vực bên ngoài Hoàng thành, trong phần thị - chợ (Kẻ Ch). Ra đời tại Thăng
Long trong bối cảnh như thế, các tác phẩm văn học dễ dàng và trên thực tế mang tính
chất cung đình.
Khái nimvăn học cung đình” được dùng để chỉ các sáng tác văn học của vua
chúa, quan lại quý tộc và các trí thức Nho sĩ, thiềnxuất hin trong không gian cung
đình hay có mối liên hệ mật thiết với mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa… ca
triều đình, mang đậm điểm nhìn của một triều đình về con người và thế giới. Với một
giới thuyết đơn giản như vy ta đã thấy văn học Thăng Long ở hình thái ban đầu của
chính là văn học cung đình. Không gian vật lý cho sự ra đời của không ít bài thơ
không gian cung đình. Nhân Tông với bài thơ khen tặng thin sư Giác Hải và đạo sĩ
Thông Huyền - hai người đã trổ tài thn thông biến hóa trong sân điện trước sự chứng
kiến ca nhà vua - là một sáng tác cung đình chính thống xét từ không gian ra đời và
điểm nhìn tác giả, một ông vua có quyền tối thượng yêu cu và khen ngi ngay cả thiền
sư và đạo sĩ, đồng thời sự khẳng định đa vị xã hi của Phật giáo, Đạo giáo cũng gắn liền
với sự thừa nhận của triều đình(1). Những gì vua tôi Lê Thánh ng xướng họa để
li Quỳnh uyển cửu ca đích thị là văn học cung đình. Theo Đại Việt sửtoàn thư, năm
1495, tháng 11, vua Lê Thánh Tông thấy hai năm được mùa liên tiếp, đặt các bài ca vịnh
để ghi đim lành. Nội dung gồm những bài về đạo làm vua, khí tiết bề tôi, vua giỏi tôi
hiền, nhớ bậc anh tài kỳ tun và đùa viết vi thành n, nhân gọi là Quỳnh uyển cửu ca
thi tập. Bình Ngô đại cáo soạn bởi Nguyn Trãi và Chiếu cầu hiềnson bởi Ngô Thì
Nhm, đều ra đời ở Thăng Long, cũng là văn học cung đình. Chúng đáp ứng những yêu
cầu ca một triu đình vào nhng thời điểm lịch sử quan trọng, thực hiện chức năng
quan phương chính thống. Bình Nđại cáo thực ra có chức năng thuyết phục/ khẳng
định quyền tức vị hợp hiến hợp pháp của một người tài đức như Lê Li song vốn không
xuất thân từ dòng dõi quý tộc nhà Trn, vào một thi đim lịch sử hết sức khẩn trương,
khoảng trống quyền lực cần được lấp đầy để ổn định tình hình đất nước. Chiếu cầu
hiền mà Ngô Thì Nhm viết nhân danh Quang Trung lại thể hin nhu cầu bức thiết về s
cộng tác/ hợp tác ca đội ngũ nho sĩ Bắc hà vi triều Tây n. Các bài thơ, phú, văn
sách, bất kể bằng chữ Hán hay chữ Nôm… làm trong các k thi tại kinh đô Thăng Long
- nếu ta có thể xem đó là một loại ng tác văn học - là văn học cung đình. Đề thi cho
các thể văn đều liên quan đến đường lối trị quốc ( dụ chế trị bảo bang - về chính trị và
ginước), giáo dục đạo đức (ví d Giới sắc bách - Răn dạy trăm quan), những vấn đề
ly từ trong kinh điển nho gia… rèn tập cho sĩ tử năng lực gii quyết những vấn đề quốc
kế dân sinh ca quốc gia. Hiện mng văn học này đã được nghiên cứu từ góc độ văn bản
học Hánm nhiều hơn là về phương diện văn học sử(2). Nhưng một sáng tác gọi là văn
học cung đìnhthể ra đời ở một không gian ngi kinh đô, ở một địa điểm xa Thăng
Long ch không nhất thiết phải ra đời trong chn cung đình. Dù là ra đời ở đâu, các sáng
tác văn học cung đình thưng mang những diễn ngôn ca các triều đại; hiện thực và
cm xúc phải được trình bày tgóc nhìn của ngưi đến từ cung đình. Đó là trường hp
bài thơ Thượng hoàng Trn Nhân Tông viết tại hành cung Thiên Trường vào năm 1289,
sau cuộc chiến tranh cuối cùng chống Nguyên - Mông, bộc lộ cảm xúc của người đứng
đầu một triều đại đã tri qua những trận chiến khốc lit chống ngoại xâm, nay bốn biển
đã quang, bụi đã lắng/ Chuyến đi này hơn hẳn chuyến đi năm xưa. Bài NghAn hành
điện (Hành cung NghAn) ca Trần Minh Tông làm ti Nghệ An,câu Sinh dân
nhất thị ngã bào đồng (Nhân dân hết thảy đều là ruột thịt ca ta) cũng thể hiện cái nhìn,
cách nghĩ của người cung đình.
Đánh giá mng văn học cung đình cũng cần c ý đến sự đa dạng. Có những tác
phm văn học cung đình có giá tr tư tưởng cao khi một triều đại phong kiến đang lên,
vua tôi, quan li q tộc thực hành đường lối thânn. Những vn đề của cung đình khi
đó, trên những nét cơ bản thng nhất với vấn đề của nhânn, của dân tộc. Song khi vua
tôi ca tụng lẫn nhau, ca tụng triều đại vua thánh tôi hin thì sáng tác của họ khó tránh
khỏi công thức, nhàm chán, thậm c có sắc thái xu nịnh. Hoàng Sĩ Khi (thế kỷ XVI)
tung hô “vạn tuế” cảnh tượng thái bình thời vua Lê chúa Trịnh: Đời sinh chúa thánh tôi
hiền/ Giúp tay tạo hóa sửa quyền âm dương…Bốn mùa ước những mùa xuân/ Trị dài
Trịnh chúa Lê quân muôn đời,... nhưng rồi cả vua Lê và ca Trịnh cũng không th
muôn năm” được. Hay Phụng thành xuân sắc phú ca Nguyễn Giản Thanh ca tụng
Thăng Long dưới triều đại Lê Uy Mc cũng mang chất tụng ca tương t- điu này li
càng đáng suy nghĩ nếu ta liên h đến sự suy thi ca nhà Lê ở đầu thế kỷ XVI. Cuộc
t chiến” giữa Nguyễn Huy Lượng theo Tây Sơn (Tụng Tây Hồ phú ) và Phm Thái
chống Tây Sơn(Chiến tụng Tây Hồ phú) vthực chất có thể xếp vào văn học cung đình.
Hồ Tây trong mắt hai người là một ẩn dụ riêng về chế độ Tây Sơn, cả kẻ ca ngi và
người lên án đều thể hiện thái độ chính trị qua việc tả cảnh Hồ Tây.
Nhưng thực tế sáng tác ca nhiều tác gi li không dễ gì đưa vào cái khuôn chật
hẹp ca khái niệm “văn học cung đình”. Thơ ca ca nhiều nhà nho cho thym sự của
người có khi thân ở cửa khuyết nhưng tâm lại để ở nơi thôn dã, núi non. Ngay trong một
thi tập,bài mang chất cung đình song bài li có chất thôn dã. Gii nghiên cu văn
học Trung Quốc xem những sáng tác của ẩn sĩ được coi là văn học điền viên hay văn
học nông thôn (hương thổ văn học) chứ không phải văn học cung đình hay văn học
thành thị. Những trường hợp như sáng tác của Chu An hay Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi
dâng sxin chém bọn nịnh thần không được đã lui về ẩn dật, hoặc thơ Nôm của Nguyễn
Trãi khó gi văn học cung đình. V thuyết, đây là sáng tác của những người tuy có
quan hmật thiết với triều chính rồi bất như ý mà lui bước, trở về đin viên vui thú và
gigìn nhânch đạo đức thìm tư suy nghĩ của họ trực tiếp hay gián tiếp vẫn hướng
về nơi cửa khuyết. Song thực tế, cái nhìn hiện thực và tâm tư tình cm ca họ đã thuộc
về dòng văn học ẩn dật, văn học nông thôn. Nhưng bàn về văn học nông thôn hay văn
học điền viên, văn học hương thổ không thuộc phm vi quan tâm của bài viết này.