
1
Tiểu luận
Việt Nam gia nhập ASEAN và Chiến lược tập hợp lực lượng
ở Đông Nam Á của Việt Nam từ năm 1995 đến 2005 .

2
Tóm tắt bài
Ngày 28/7/1995 Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN. Câu hỏi đặt ra là tại sao
Việt Nam gia nhập ASEAN và chọn ASEAN cho chiến lược tập hợp lực lượng của
mình? Vậy tại sao một quốc gia lại phải tập hợp lực lượng? Như chúng ta đã biết, tập hợp
lực lượng là để thực hiện mục tiêu mà chủ thể tập hợp đó mong muốn. Thứ nhất, một
quốc gia dù lớn hay nhỏ, là cường quốc hay là một nước kém phát triển đều có những ưu
nhược điểm đặc trưng cho quốc gia đó. Chính vì luôn có nhược điểm nên việc quốc gia
mong muốn có đồng minh để tăng cường sự hỗ trợ từ bên ngoài là rất cần thiết. Khả năng
hạn chế của bản thân quốc gia đó cũng đồng thời là lý do dẫn quốc gia đi đến quyết định
phải tập hợp lực lượng. Thứ hai, do quan hệ tương tác với môi trường xung quanh đòi hỏi
quốc gia không thể tồn tại một mình riêng lẻ, hay tách rời khỏi mối quan hệ với các quốc
gia khác. Như vậy, lý thuyết đã cho thấy việc cần thiết một quốc gia phải tập hợp lực
lượng. Tuy nhiên cơ sở tập hợp lực lượng của mỗi quốc gia là khác nhau. Cũng như có
rất nhiều biện pháp mà quốc gia có thể chọn để tập hợp lực lượng. Lý thuyết về tập hợp
lực lượng cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tập hợp lực lượng. Đối
với Việt Nam, lịch sử tập hợp lực lượng đã phần nào cho thấy tại sao Việt Nam chọn
ASEAN.
Trước năm 1991, trong chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, hầu hết các
nước ASEAN đã dính líu trực tiếp hay gián tiếp vào cuộc chiến tranh. 1975 Việt Nam
giành được độc lập, thống nhất đất nước, quyết định phát triển theo con đường chủ nghĩa
xã hội. Trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam gần như bị cô lập. Đặc biệt là trong khu
vực, Việt Nam bị phong tỏa về mọi mặt, mâu thuẫn với tất cả các bên, trong đó có
ASEAN. Thời kỳ này, Việt Nam luôn coi quan hệ Việt – Xô là hòn đá tảng trong chính
sách đối ngoại của mình. Do mối quan hệ hữu hảo , có truyền thống lâu dài trong lịch sử
cứu nước của Việt Nam với Liên Xô – nước lớn trong khối xã hội chủ nghĩa đã khiến
Việt Nam yên tâm, tạm thời chưa tính đến ý định hợp tác với các nước khác trong khu
vực.

3
Sau năm 1991, sự sụp đổ của Liên Xô, dẫn đến việc chấm dứt Chiến tranh lạnh
cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt liên minh Việt – Xô chính thức thiết lập năm 1978
thông qua Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác. Việt Nam không còn một đồng minh nào là
nước lớn trên thế giới. Việt Nam phải đi tìm “ đồng minh ”. Lý do Việt Nam phải tập hợp
lực lượng bắt nguồn từ những nhân tố chủ quan và khách quan. Kinh tế phát triển chưa
bền vững, hiệu quả và sức cạnh tranh yếu. Nếu như trong chiến tranh giải phóng dân tộc
Việt Nam, lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia tối cao là giành độc lập và thống nhất Tổ quốc
thì trong thời kỳ này, lợi ích tối cao phải chăng là hòa bình, phát triển đất nước nhằm đạt
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Xu thế của các nước trên thế
giới và khu vực là liên kết với nhau, hay nói cách khác, đó là xu thế toàn cầu hóa. Toàn
cầu hóa không chỉ tạo ra những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, mà còn thúc đẩy các mối
quan hệ liên quốc gia tăng cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Hợp tác, liên kết khu vực cũng là
nội dung cơ bản của toàn cầu hóa.
Ngoài ASEAN, Việt Nam còn có các sự lựa chọn khác, đó có thể là Trung Quốc,
cũng có thể là Mỹ. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, một ngàn năm Bắc
thuộc đã cho thấy lựa chọn Trung Quốc là đồng minh là không thể bởi Trung Quốc có thể
nuốt gọn Việt Nam bất cứ lúc nào. Mỹ là một cường quốc, có thể giúp Việt Nam cân
bằng lực lượng với Trung Quốc. Song không thể một sớm một chiều quên đi được những
gì Đế quốc Mỹ để lại trên đất Việt Nam. Vì vậy lựa chọn duy nhất còn lại khả dĩ là
ASEAN. Bởi lợi ích quân sự - an ninh quốc gia và kinh tế nhằm cân bằng lực lượng với
bên ngoài mà cụ thể là Trung Quốc cũng như các lợi ích khác.
Cần khẳng định rằng không phải đến khi Việt Nam gia nhập ASEAN vào năm
1995 mới là mốc đánh dấu chiến lược tập hợp lực lượng của Việt Nam bắt đầu mà Việt
Nam đã nhanh chóng có những hành động cụ thể từ trước đó. Đồng thời thông qua hai
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng năm 1996 và Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng năm 2001, ta có thể thấy được những mục tiêu cũng như hiệu quả
của chiến lược tập hợp lực lượng của Việt Nam tại Đông Nam Á từ 1995 đến 2005.

4
Lời nói đầu
Phương châm “Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy trong cộng đồng quốc
tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" được Đàng và Nhà nước ta khẳng định
trong chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các
quan hệ quốc tế của mình. Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các quốc gia cũng đồng
nghĩa với việc Việt Nam không thể thiếu bạn bè mà đặc biệt bạn bè đó lại rất gần Việt
Nam, đó là ASEAN. Nếu như trước đây Việt Nam coi ASEAN là tổ chức quân sự trá
hình, phục vụ cho Mỹ và luôn coi ASEAN là kẻ thù thì tư duy đó đã hoàn toàn thay đổi.
Ngày 28/7/1995 Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN. Việc Việt Nam gia nhập
ASEAN đánh dấu một bước quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực. Câu
hỏi đặt ra là tại sao Việt Nam gia nhập ASEAN và chọn ASEAN cho chiến lược tập hợp
lực lượng của mình? Câu trả lời thực sự rất đơn giản: Việt Nam cần ASEAN vì chính lợi
ích quốc gia của Việt Nam, đó luôn là an ninh, phát triển và ảnh hưởng. Tuy thứ tự của
ba mục tiêu trên có thay đổi song về cơ bản chúng là một. Tư duy của Việt Nam cũng
không hề nằm ngoài quy luật phát triển tự nhiên. Bởi chúng ta muốn thoát khỏi bao vây,
cô lập, chúng ta phải có bạn. Bạn không phải ai khác xa xôi mà đó là những nước ngay
gần chúng ta, “ tối lửa tắt đèn”. Tư duy này là hoàn toàn hợp lý. Chính vì vậy, một lần
nữa khẳng định Việt Nam cần ASEAN cho lợi ích tối cao của mình- lợi ích quốc gia, mà
một nhân tố quan trọng trong đó khiến Việt Nam cần ASEAN đến thế - đó là an ninh.
Đây đồng thời cũng là cách mà bài tiểu luận này muốn tiếp cận. Qua đó, chúng ta có thể
nhìn nhận được chiến lược tập hợp lực lượng của Việt Nam tại Đông Nam Á sau khi Việt
Nam gia nhập tổ chức ASEAN. Bài tiểu luận này nhằm mục đích chính: thứ nhất: làm rõ
thế nào là tập hợp lực lượng cũng như lý do tại sao Việt Nam phải tập hợp lực lượng, thứ
hai: Việt Nam triển khai tập hợp lực lượng như thế nào? Do thời gian và tài liệu nghiên
cứu có giới hạn nên bài viết còn có nhiều sai sót. Mong thầy, cô giáo cho ý kiến góp ý để
bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.

5
Phần 1: Tập hợp lực lượng
1. Khái niệm
Khái niệm tập hợp lực lượng có lẽ không còn xa lạ đối với những người học chính
trị cũng như với những ai quan tâm đến chính sách đối ngoại. Tập hợp lực lượng nếu xét
về câu chữ thì đó chính là hành động nhằm đưa các đối tượng cần thiết về phía mình,
theo mình nhằm bảo vệ lợi ích cho mình. Hay nói cách khác, tập hợp lực lượng chính là
quá trình một chủ lôi kéo các đối tác về phía mình nhằm thực hiện một hay nhiều mục
tiêu nào đó thông qua các biện pháp, chính sách cụ thể.
Tại sao một quốc gia lại phải tập hợp lực lượng? Như chúng ta đã biết, tập hợp lực
lượng là để thực hiện mục tiêu mà chủ thể tập hợp đó mong muốn. Có rất nhiều lý do
khiến một quốc gia cần thiết phải tập hợp lực lượng. Thứ nhất, một quốc gia dù lớn hay
nhỏ, là cường quốc hay là một nước kém phát triển đều có những ưu nhược điểm đặc
trưng cho quốc gia đó. Chính vì luôn có nhược điểm nên việc quốc gia mong muốn có
đồng minh để tăng cường sự hỗ trợ từ bên ngoài là rất cần thiết. Khả năng hạn chế của
bản thân quốc gia đó cũng đồng thời là lý do dẫn quốc gia đi đến quyết định phải tập hợp
lực lượng. Thứ hai, do quan hệ tương tác với môi trường xung quanh đòi hỏi quốc gia
không thể tồn tại một mình riêng lẻ, hay tách rời khỏi mối quan hệ với các quốc gia khác.
Như vậy, lý thuyết đã cho thấy việc cần thiết một quốc gia phải tập hợp lực lượng.
Tuy nhiên cơ sở tập hợp lực lượng của mỗi quốc gia là khác nhau. Thường thì nguyên
nhân lớn đưa các quốc gia xích lại gần nhau chính là yếu tố an ninh. Khi có thêm đồng
minh cũng đồng nghĩa với việc quốc gia có thêm sức mạnh và an toàn trong quan hệ với
các nước khác. Không vì thế mà quốc gia xao nhãng yếu tố quan trọng trong sự phát triển
của mình- kinh tế. Kinh tế chính là nam châm thu các quốc gia cùng chung định hướng
phát triển lại với nhau. Còn yếu tố quan trọng không kém đưa đến quyết định tập hợp lực
lượng của các quốc gia đó là yếu tố văn hóa tư tưởng. Yếu tố này không thể không nhắc

