Vitamin C làm gim
nồng độ acid uric huyết
thanh!
Mục tiêu: Các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra rằng vitamin C làm tăng đào
thải acid uric qua niệu, tuy nhiên h không đánh giá liệu vitamin C làm
giảm nồng độ acid uric máu không. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu
này để đánh giá ảnh hưởng của vitamin C tới nồng độ acid uric trong huyết
thanh.
Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên và đánh giá so sánh giữa 2
nhóm sử dụng vitamin C (500 mg/ngày) và nhóm giả dược trong vòng 2
tháng.
Kết qu: Sau 2 tháng, nhóm dùng vitamin C 500 mg/ngày nồng độ acid
uric huyết thanh gim 0,5 mg /dl, trong khi đó nhóm giả dược không thay
đổi đáng kể. Trong các phân nhóm về độ tuổi, gii tính, chỉ số BMI, bệnh
mãn tính, chủng tộc, sử dụng thuốc li tiểu, và tứ phân vị của nồng độ acid
uric đu có tác dụng giảm nồng độ acid uric huyết thanh. So sánh với gi
dược, vitamin C có tác dụng tăng lọc cầu thận.
Kết luận: Bổ sung 500 mg vitamin C 500 mỗi ngày, duy trì trong 2 tháng đ
làm giảm acid uric trong huyết thanh do đó vitamin C có tác dụng ngăn
ngừa, kiểm soát bệnh gút và các bệnh liên quan đến urate.
Vitamin C là mt vi chất dinh dưỡng thiết yếu tham gia vào một số phản ứng
enzyme quan trọng. Nó cũng có tác dụng chống oxy hóa các gốc tự do và
các loại phản ứng oxy và nitơ. Vitamin C có nhiều tác dụng như chống cảm
lạnh thông thường, giảm nguy cơ bệnh tim mạch, ung thư và các bệnh lão
hóa khác.
Các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra rằng vitamin C có tác dụng tăng đào
thải acid uric, do đó làm giảm nồng độ acid uric huyết thanh. Tuy nhiên
những nghiên cứu này đều thực hiện quy mô nhỏ, trong thời gian ngắn và sử
dụng vitamin C liều cao (1 lần uống 3-12 g trong khoảng vài ngày). Nếu có
bằng chứng vitamin C giảm nồng độ acid uric trong máu, thì vitamin C có ý
nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa và kiểm soát bệnh gút và các bệnh
liên quan đến urat. Tuy nhiên, vẫn chưa có tài liu nào công bố về kết quả
trên.
Chúng tôi thiết kế thí nghiệm phân tích ảnh hưởng vitamin C và vitamin E
trong trong peroxidation lipid. Các nghiên cứu trước đó chưa đánh giá ảnh
hưởng vitamin E tới acid uric huyết thanh và bởi vì không. Bởi vì trước đó
kng có phân tích ảnh ởng của vitamin E và tương tác vitamin E và
vitamin C ảnh hưởng tới nồng độ acid uric huyết thanh.
ĐỐI NG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Dự thảo nghiên cứu này được thông qua ban giám đốc viện Johns Hopkins.
Cá nhân tham gia được đồng ý bằng văn bản trước khi thực hiện nghiên cứu.
Đánh giá chung: 184 ni trưởng thành, không hút thuốc (khu vực đô th
Baltimore, Maryland) được chọn ngẫu nhiên tham gia nghiên cứu.
Yêu cầu:
- Không tiếp xúc vi khói thuốc lá thụ động 1 giờ/ 1 ngày.
- Không uống quá 14 chén mỗi tuần
- Không bổ sung vitamin khác trongng 2 tháng.
Tiến hành thử nghiệm: Những người tham gia cung cấp dữ liệu cơ bản, bao
gồm mẫu máu (được ly sau khi nhịn ăn12 h) một số câu hỏi về thực ăn
hàng ngày. Người đủ điu kin được phân ngẫu nhiên 1 trong 4 nhóm sau:
Nhóm I: gi dược (dicalcium phosphate 380mg/ngày và dầu đậu tương 500
mg/ngày)
Nhóm II: Vitamin C và gi dược (500 mg ascorbate / ngày và dầu đậu tương
500 mg / ngày)
Nhóm 3: Vitamin E và gi ợc (400 IU RRR-Tocopheryl acetate / ngày
dicalcium phosphate 380 mg / ngày)
Nhóm 4: Vitamin C và vitamin E (500 mg ascorbate / ngày và 400 IU RRR -
Tocopheryl acetate / ngày).
Người tham gia được hướng dẫn sử dụng các vitamin C, vitamin E, giả dược
mỗi ngày, và để tránh dùng tm các sản phẩm khác trong thời gian tham gia
nghiên cứu. Đánh giá kết quả dựa vào định lượng acid uric creatinine
huyết thanh.
Phân tích thông kê: So sánh sự khác nhau giữa nhóm giả dược và vitamin
C bằng test –t hoặc test Wilcoxon cho các biến liên tục và test chi-square
cho biến phân loại. Đối vi mỗi biến đầu ra, đều phân tích hồi quy đ đánh
giá ảnh hưởng của vitamin C đến nồng độ acid uric trong máu. Các nhóm
thứ cấp được phân tích hồi quy tuyến tính theo độ tuổi (so vi dưới độ tuổi
trung bình 62), giới tính, chủng tộc (da trắng so vi ni Mỹ gốc Phi), ch
số cân nặng (BMI) (25 so vi 25 kg/m2), bệnh mãn tính ( so sánh người mắc
bệnh hoặc không mắc bệnh cao huyết áp, đái tháo đường, và hoặc
cholesterol cao), sử dụng thuốc li tiu (có hay không), tứ phân vị của
đường nền nồng độ axit uric ( < 4,2 mg/dl; 4,2-5,0 mg/dl; 5,0 – 6,4 mg/dl; >
6,4 mg/dl), tứ phân vị của nồng độ axit ascorbic (< 52,8 mol/l; 52,8- 61,9 ;
61,9 - 72,7 mol / lít), và tăng acid uric (so sánh vi nồng độ acid uric huyết
thanh > 7 mg /dl và nhóm < 7mg/dl).
KT QUẢ
Trong số 318 cá nhân được kiểm tra, 184 người đưc chọn ngẫu nhiên đưa
vào trong nghiên cứu. Đánh giá các yếu tố cơ bản và lượng protein ăn vào,
thực phẩm giàu purine, và các sản phẩm sữa là tương tự nhau trong nhóm
giả dược và nhóm dùng vitamin C, trừ một tỷ lệ người Mỹ gốc Phi trong
nhóm giả dược cao hơn nhóm vitamin C (Bảng 1). Nam giới có nồng độ acid
uric cao hơn phụ nữ (Nam giới 5,9 ± 1,2 mg/dl so với nữ gii 4,6 ± 1,4
mg/dl; P< 0,0001). Người có bệnh mãn tính (5,4 ± 1,3 mg/dl) có nồng đ
axit uric cao hơn so với người không có bệnh mãn tính (4,7 ± 1,4 mg/dl).
Các đối tượng tham gia được theo dõi và có ý thức tuân thủ dùng thuốc
kng có sự khác biệt giữa các nhóm. 92% đối tượng hoàn thành 2 tháng
nghiên cứu, và 93% đối tượng uống hơn 90% thuốc nghiên cứu. Tại thời
điểm kết thúc nghiên cứu, nhóm bổ sung vitamin C có nồng độ acid ascorbic
tăng ý nghĩa.
Bảng 1: