
Xây dựng mô hình cộng đồng tham gia
quản lý môi trường
Họp phần "Kiểm soát ó nhiễm tại các khu vực đông dân nghèo (PCDA) " là Ì trọng 5
Hợp phần của "Chương trình Hợp tác phát triển về môi trường (DCE) giai đoạn 2005 -
2010" được ký kết để triển khai sự hợp tác giữa Chính phu Đan Mạch và Chính phủ
Việt Nam, nhằm góp phần thực hiện hiệu quả Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi
trường.
Hợp phan được triển khai tại 4 tỉnh: Thải Nguyên, Hà Nam, Quảng Nam và Ben Tre
với hoạt động chủ yếu là xác định, thiết kế và thực hiện các dự án trình diễn phù hợp
nhân rộng tại địa phương và phổ biến trong cả nước. Đối tượng mà Dự án hướng tới là
cộng đông dân cư nghèo, vì vậy việc huy động sự tham gia của họ là một tiêu chỉ quan
trọng được sử dụng để đánh giả két quả của Dự án. Hai dự án "Cải thiện điêu kiện môi
trường chợ Bà Rén (Quảng Nam) " và "Cải tạo môi trường kênh Chín Tế (Bến Tre) "
được đảnh giá đạt kết quả tốt, bước đầu cảnh quan môi trường được cải thiện, ý thức

bảo vệ môi trường của cán bộ các Sở/ban ngành và cộng đông dân cư cũng được nâng
cao. Đe đạt được những kết quả như vậy là do Dự án đã huy động sự tham gia của
cộng đồng ngay từ khâu lập kế hoạch, thực thi, giám sát và thụ hưởng lợi ích từ việc
thực hiện Dự án.
Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý môi trường
Trong hệ thống các văn bản pháp lý, chủ trương, chính sách của Việt Nam liên quan
tới công tác bảo vệ môi trường (BVMT) đều nêu rõ quan điểm coi cộng đồng là một
nhân tố quan trọng trong việc thực hiện quản lý môi trường bền vững; khuyến khích
cộng đồng tham gia công tác BVMT như việc thực hiện các cam kết BVMT; xây
dựng các mô hình tự quản, các phong trào liên quan tới BVMT; tăng cường giám sát
cộng đồng đối với công tác BVMT. Hệ thống các văn bản này cũng nhấn mạnh vai trò
của các cấp chính quyền, tổ chức xã hội trong việc thực hiện tuyên truyền, vận động,
tổ chức, quản lý môi trường có sự tham gia của cộng đồng. Cộng đồng tham gia quản
lý môi trường là một giải pháp cơ bản trong BVMT và phát triển bền vững. Sự tham
gia của cộng đồng thể hiện dưới nhiều hình thức như thông báo, tuyên truyền nâng
cao nhận thức của người dân về vấn đề môi trường; tham vấn người dân về những vấn
đề môi trường tại chính nơi họ sinh sống, thu thập những sáng kiến BVMT của người
dân; xây dựng mối quan hệ đối tác giữa nhân dân và chính quyền/tổ chức trong các
hoạt động BVMT hay tự quản, tạo điều kiện cho người dân tự thực hiện và kiểm ưa,
giám sát công tác BVMT tại địa phương. Sự tham gia của cộng đồng trong công tác
quản lý môi trường cũng chính là cách để duy trì tính bền vững của hoạt động BVMT.
Hiện nay, một số địa phương ở nước ta đã có một số mô hình B VMT dựa vào cộng
đồng và đạt được hiệu quả tích cực. Đó là các mô hình cam kết BVMT, tổ chức tự
quản xử lý ô nhiễm môi trường, lồng ghép xóa đói giảm nghèo với BVMT, vệ sinh
môi trường, các phong trào tình nguyện và BVMT trong sản xuất công nghiệp...
Trong đó, các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Phụ nữ, Nông dân, Đoàn Thanh niên...)
đóng một vai trò quan trọng trong công tác BVMT. Những mô hình này đã đạt được
những thành công nhất định, đó là quá trình triển khai thực hiện cộng đồng dân cư
được tham gia đầy đủ, ngay từ khâu lập kế hoạch, thực thi, giám sát và chia sẻ quyền
lợi từ việc thực hiện các chương trinh đó.

Thực tiễn cho thấy, sự tham gia của cộng đồng trong quản lý môi trường ở nước ta
trong thời gian qua đã đạt một số kết quả bước đầu. Có thể nói, Việt Nam đã có cơ sở
pháp lý cơ bản tạo điều kiện cho cộng đồng cấp cơ sở tham gia BVMT. Đồng thời,
cộng đồng cũng đã có sự quan tâm tới chít lượng môi trường. Trong khi đó, phương
thức quản lý môi trường dựa vào cộng đồng đã được nhiều dự án quan tâm và thực
hiện, đặc biệt được xây dựng với cách tiếp cận dựa vào cộng đồng. Chính điều này đã
từng bước nâng cao nhận thức và năng lực của cộng đồng. Do vậy, cần thiết nâng cao
năng lực cho chính quyền cấp cơ sở, nơi những dự án này được thực hiện. Khi người
dân được tham gia trực tiếp vào các bước trong dự án, được chủ động đưa ra các đề
xuất, được giám sát quá trình thực hiện và là những người trực tiếp được hưởng thành
quả của Dự án thì họ sẽ tích cực tham gia vào các hoạt động quản lý môi trường. Sự
tham gia của cộng đồng trong các vấn đề môi trường có liên quan làm tăng sự đồng
thuận và niềm tin của nhân dân đối với các quyết định của chính quyền, tăng cường
vai trò của cộng đồng địa phương trong việc giải quyết các vấn đề liên quan và tăng
cường tính dân chủ.
Tuy nhiên, khó khăn và thách thức trong vấn đề quản lý môi trường có sự tham gia
của cộng đồng lại nảy sinh cả từ phía cộng đồng và chính quyền. Nhận thức và năng
lực của cộng đồng chưa đảm bảo để thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong
công tác quản lý môi trường. Đặc biệt đối với người dân ở cấp cơ sở và các khu vực
nghèo, trình độ dân trí cũng như nhân lực BVMT còn hạn chế. Mặt khác, nguồn ngân
sách của địa phương trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và BVMT ở cấp cơ sở
còn ít. Để đảm bảo tính bền vững trong công tác BVMT với sự tham gia của cộng
đồng đối với các công trình dịch vụ công, trong một số trường hợp cần có sự hợp tác

của người dân (người thụ hưởng) trong việc chia sẻ đóng góp chi trả các dịch vụ môi
trường. Tuy nhiên, tại các khu vực đông dân nghèo, việc thực hiện chi trả này còn rất
thấp, không đủ khuyến khích và cải thiện thu nhập của những người tham gia công tác
BVMT, ảnh hưởng tới khả năng duy trì dịch vụ. Việc vận động cộng đồng tham gia
công tác BVMT là một trở ngại
không nhỏ, đặc biệt nếu trong điều kiện khu vực nơi người dân sinh sống là khu vực
cộng đồng nghèo, những người lao động không có thu nhập cao dẫn tới thời gian dành
cho việc tham gia Dự án là hết sức hạn chế. Việc bù đắp thời gian làm việc của người
dân bằng một khoản tài chính nhỏ (từ nhà tài trợ) nhằm kích thích sự tham gia của
cộng đồng chỉ là giải pháp tạm thời không bền vững. Một số rủi ro có thể xuất hiện
trong quá trình tham vấn cộng đồng như những kỳ vọng quá cao có thể không đạt
được; không thể điều hòa những khác biệt; hoặc thông tin đưa ra gây sự chống đối.
Kỉnh nghiệm từ Họp phần PCDA
Một trong những hoạt động chủ yếu của Hợp phần PCDA là xác định, thiết kế và thực
hiện các dự án trình diễn phù họp, có thể nhân rộng tại địa phương thực hiện dự án và
phổ biến trong cả nước. Các dự án đều nhằm tới đối tượng hưởng lợi là cộng đồng dân
cư nghèo, vì vậy việc huy động sự tham gia của họ là một tiêu chí quan trọng được sử
dụng để đánh giá kết quả của dự án. Dưới đây là một số bài học kinh nghiệm từ 2 dự
án trình diễn đầu tiên đã hoàn thành trong năm 2010.

Dự án Cải tạo môi trường chợ Bà Rén-Quảng Nam
Chợ Bà Rén thuộc xã Quế Xuân ì (Quế Sơn - Quảng Nam) có tổng diện tích khoảng
3.000 m2. Hoạt động kinh doanh chủ yếu bao gồm: mua bán thực phẩm, rau quả
tươi, thịt, cá, hàng tạp hóa, quần áo... Chợ Bà Rén là điểm nóng về môi trường bởi cơ
sở hạ tầng thấp (nền chợ thấp và thường xuyên bị ngập lớn khi có mưa); Quản lý chất
thải kém (không có hệ thống nước thải; chất thải rắn không được thu gom và xử lý tốt,
gây ô nhiễm về mùi); Thiếu nhà vệ sinh gây nên những vấn đề nghiêm trọng về môi
trường và vệ sinh.
Chính vì vậy, Chợ Bà Rén đã được chọn làm điểm thực hiện dự án trình diễn của Hợp
phần PCDA với mục tiêu cải thiện một cách bền vững các điều kiện vệ sinh để giảm
nhẹ những tác động tiêu cực đối với môi trường và sức khỏe của những người bán và
mua hàng cùng với cộng đồng dân cư ở các khu vực lân cận.
Đe huy động sự tham gia cộng đồng, Dự án đã giới thiệu và thông báo với dân cư về
những phương pháp và tiếp cận các sáng kiến cải thiện vệ sinh và môi trường trên
nguyên tắc người sử dụng trả phí thích đáng để những công trình và biện pháp quản lý
mới được vận hành bền vững. Kinh phí chi cho vận hành hệ thống thu gom rác và xử
lý nước thải được lấy từ nguồn thu phí rác thải của các tiểu thương trong chợ. Bên
cạnh đó, Dự án sử dụng các công cụ truyền thông hỗ trợ như rải tờ bướm, treo áp
phích và khẩu hiệu, ký thỏa thuận/hay cam kết tự nguyện về việc giữ sạch nơi buôn
bán và môi trường xung quanh...
Sau một thời gian được ữình diễn với quy mô nhỏ, Dự án đã tăng cường năng lực cho
nhiều đối tượng khác nhau (UBND xã Quế Xuân ì và Ban quản lý Chợ Bà Rén; cơ
quan quản lý môi trường cấp tỉnh, huyện; đơn vị thi công công trình; cán bộ truyền
thông ở địa phương) và nâng cao nhận thức cho cộng đồng y tế cũng như cộng đồng
dân cư địa phương. Bên cạnh đó, Chợ Bà Rén đã được trang bị hệ thống thu gom chất
thải và nước thải đồng bộ. Lãnh đạo và thành viên Ban quản lý Chợ Bà Rén được tiếp
cận với công nghệ xử lý nước thải hiệu quả, quy trình thu gom và trung chuyển chất

