
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 474 - THÁNG 1 - SỐ 2 - 2019
35
xương tầng giữa mặt tại bệnh viện đa khoa trung
ương Thái Nguyên, Tạp chí Khoa học và Công
nghệ, 89 (01)/1, 238 -244
2. Trần Ngọc Quảng Phi (2011), Nghiên cứu phân
loại, lâm sàng, X- quang và điều trị gãy phức hợp
gò má cung tiếp, Luận án Tiến sĩ Y học, Viện
Nghiên cứu Khoa học Y Dược lâm sàng 108
3. Lê Đăng Thuyết (2017), Nghiên cứu đặc điểm
lâm sàng, Xquang và đánh giá kết quả điều trị tổn
thương sàn ổ mắt trong chấn thương tầng giữa
mặt bằng đặt bóng sonde foley xoang hàm. Luận
văn chuyên khoa cấp II, Học viện quân Y
4. Đỗ Thành Trí (2013), Nghiên cứu điều trị vỡ
xoang hàm trong chấn thương tầng giữa mặt bằng
nội soi kết hợp với nắn chỉnh xương, Luận văn tiến
sỹ. Viện nghiên cứu Khoa học Y dược lâm sàng 108
5. Mario Francisco Gabrielli (2011), Orbital Wall
Reconstruction with Titanium Mesh: Retrospective
Study of 24 Patients,
Craniomaxillofac Trauma
Reconstruction.
4, pages. 151–156
6. So Young Ji, Seung Soo Kim, Moo Hyun Kim
(2016), Surgical Methods of Zygomaticomaxillary
Complex Fracture, Archives of Craniofacial
Surgery,Vol 17 No.4, 206-210.
7. Vrinda B. Nair et al. (2013), Old Foley’s in a new
bottle’- Use of Foley’s catheter in anterior Maxillary
wall fractures, Otolaryngology online journal,
3(1.5), pp. 1-13.
YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SÂU RĂNG Ở TRẺ EM
12 - 35 THÁNG TUỔI TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Vũ Thị Hà*, Đỗ Minh Hương*, Lê Thị Thu Hằng*
TÓM TẮT10
Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 319 trẻ
12 – 35 tháng tuổi ở 6 trường mầm non thành phố
Thái Nguyên với mục tiêu xác định mối liên quan giữa
một số yếu tố và sâu răng ở trẻ 12 – 35 tháng tuổi
.
Khám và đánh giá sâu răng được thực hiện theo tiêu
chuẩn ICDAS II. Các yếu tố liên quan được thu thập
bằng cuộc phỏng vấn trực tiếp phụ huynh trẻ. Kiểm
định phân tích hồi quy đa biến được sử dụng để đánh
giá mối liên quan giữa các yếu tố với bệnh sâu răng ở
trẻ nhỏ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Phụ huynh
không giúp trẻ chải răng, thường xuyên ăn ngay trước
khi đi ngủ và nguời chăm sóc trẻ bị sâu răngcó thói
quen không tốt (đưa thìa thức ăn vào miệng mình
trước khi bón cho trẻ, thơm mút bàn tay trẻ, ăn chung
bát – thìa với trẻ) là yếu tố nguy cơ gây sâu răng ở trẻ
nhỏ, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0.05. Mặt
khác, giới tính và tiền sử sản khoa không liên quan
đến tình trạng sâu răng (p> 0.05). Vì vậy, việc thay
đổi các thói quen không có lợi trong chăm sóc là cần
thiết để dự phòng sâu răng, nâng cao sức khỏe răng
miệng cho trẻ nhỏ.
Từ khóa:
Sâu răng, 12-35 tháng tuổi, yếu tố liên
quan.
SUMMARY
RISK FACTORS OF DENTAL CARIES AMONG
12 – 35 – MONTH – OLD CHILDREN IN
THAI NGUYEN CITY
Cross-sectional descriptive study was conducted on
319 children aged 12 to 35 months in 6 kindergartens
in Thai Nguyen city.The objective of this research was
to determine the relationship between some risk
factors and dental caries in children aged 12-35
*Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Chịu trách nhiệm chính: Vũ Thị Hà
Email: vuthiha@tump.edu.vn
Ngày nhận bài: 10/11/2018
Ngày phản biện khoa học: 9/12/2018
Ngày duyệt bài: 8/1/2018
months. Dental caries were examined and evaluated
according to ICDAS II. Risk factors were collected by
interviewing directly their parents. Regression analysis
was used to evaluate the relationship between risk
factors and caries. Results showed that: Parents do
not help children brush their teeth, eating regularly
before bedtime and childminder with dental caries
have a bad habit (putting a spoonful of food into his
mouth before feeding baby , kissing or sucking baby’s
fingers, eating by spoon or bowl of baby) were risk
factors of dental caries in children (statistically
significant association with p <0.05). On the other
hand, gender and obstetric history were not
associated with caries (p> 0.05). Therefore, changing
the unhealthy habits is essential for preventing dental
caries and improving oral health for children.
Key words:
Dental caries, 12 - 35 months of age,
risk factors.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mặc dù việc kiểm soát bệnh sâu răng nói
chung đã có nhiều thành công nhưng cho đến
nay sâu răng ở trẻ nhỏ vẫn còn là một vấn đề
sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng ở cả các nước
phát triển và các nước đang phát triển. Hơn ba
mươi năm qua, tỷ lệ sâu răng sớm ở trẻ nhỏ
không có xu hướng tăng lên: Tỷ lệ sâu răng trẻ 5
tuổi năm 1983 là 48%, năm 1993 là 54%, năm
2003 là 56% và giai đoạn 2007 - 2017 tỉ lệ trẻ 3
– 5 tuổi sâu răng 57.3%[1][2]. Tổn thương sâu
răng ở trẻ nhỏ có tính chất phát triển nhanh ở
nhiều răng, thường là nguyên nhân dẫn đến mất
răng, ảnh hưởng đến ăn nhai, phát âm, giao
tiếp, sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ.
Bệnh căn và các yếu tố liên quan của sâu
răng ở trẻ nhỏcũng tương tự như sâu răng nói
chung. Tuy nhiên, có một số yếu tố đặc biệt liên
quan đến sâu răng ở trẻ nhỏlà răng khiếm
khuyết, lây nhiễm
S.mutans
từ người chăm sóc,

vietnam medical journal n02 - JANUARY - 2019
36
cách chăm sóc trẻ không đúng. Tác giả Yen HTN
nghiên cứu tại thành phố Huế nhận thấy trình độ
học vấn của mẹ, nuôi con kéo dài bằng sữa mẹ,
dùng đồ ngọt thường xuyên, chỉ số mảng bám
cao là yếu tố nguy cơ gây sâu răng ở trẻ nhỏ [3].
Giai đoạn trước 36 tháng tuổi là thời kì trẻ
mọc hoàn thiện bộ răng sữa, là giai đoạn nhạy
cảm với sâu răng. Tuy nhiên tại Việt Nam, không
có nhiều nghiên cứu về tình trạng sâu răng cũng
như đề cập đến các yếu tố liên quan sâu răngở
trẻ em dưới 36 tháng tuổi. Để góp phần trong
công tác dự phòng và kiểm soát sâu răng của trẻ
nhỏ, nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu:
Xác định mối liên quan giữa một số yếu tố và
sâu răng ở trẻ 12 – 35 tháng tuổi.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Trẻ em 12 –
35 tháng tuổi sống tại thành phố Thái Nguyên.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Từ
tháng 1/2018 đến 12/2018 tại thành phố Thái Nguyên.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả
cắt ngang.
- Tiêu chuẩn chọn mẫu: Tiêu chuẩn lựa chọn:
Trẻ 12 - 35 tháng tuổi sống tại thành phố Thái
Nguyên được phụ huynh đồng ý cho trẻ tham gia
nghiên cứu và trẻ hợp tác trong khám răng.Tiêu
chuẩn loại trừ: Trẻ đang mắc bệnh lý cấp tính
vùng hàm mặt.
- Cỡ mẫu tính theo công thức:
n = Z2 (1-/2)
pq
d2
Z(1-/2) = 1.96, =0.05, d= 0.05, %. p =
0.724 [3]. d: sai số cho phép là 5% (d = 0,05).
Cỡ mẫu tính được là 307 trẻ. Nghiên cứu thực
hiện trên 319 trẻ.
- Cách chọn mẫu: Chọn mẫu chùm. Nghiên
cứu được tiến hành tại 6 trường mầm non trong
địa bàn thành phố Thái Nguyên.
2.4. Các tiêu chuẩn và tiêu chí nghiên cứu
- Biến số: Bệnh sâu răng được khám và chẩn
đoán theo tiêu chuẩn ICDAS II (2005)[4].
- Yếu tố liên quan: tiền sử sản khoa (cân
nặng khi sinh, tuổi thai), giới tính, tiền sử thăm
khám nha khoa (thời điểm đi khám nha khoa lần
đầu), thói quen vệ sinh răng miệng (thời điểm
bắt đầu chải răng, số lần chải răng hàng ngày,
sử dụng kem chải răng có fluoride, phụ huynh
trẻ giúp chải răng), chế độ chăm sóc dinh dưỡng
(thời gian bú mẹ, thời gian bú bình), lây nhiễm
từ người chăm sóc (mẹ hoặc người chăm sóc bị
sâu răng và có thói quen không tốt: đưa thìa thức
ăn vào miệng mình trước khi bón cho trẻ, thơm
mút bàn tay trẻ, ăn chung bát – thìa vớii trẻ).
2.5. Kỹ thuật thu thập số liệu:
Bệnh sâu
răng được khám và chẩn đoán bởi 4 bác sĩ răng
hàm mặt đã được tập huấn theo tiêu chuẩn của
ICDAS II trên lâm sàng bằng các dụng cụ khám
thông thường (gương, gắp, cây thăm dò) dưới
ánh sáng tiêu chuẩn (Chỉ số KAPPA đạt mức nhất
trí cao: từ 0.82 đến 0.89). Yếu tố liên quan thu
thập bằng cuộc phỏng vấn trực tiếp phụ huynh trẻ.
2.6. Xử lý số liệu:
Kiểm định hồi quy đa
biến được sử dụng để đánh giá mối liên quan
giữa các yếu tố với tình trạng mắc sâu răng ở trẻ
nhỏ. Số liệu được thu thập và phân tích bằng
phương pháp thống kê y học, sử dụng phần
mềm SPSS 16.0.
2.7. Đạo đức trong nghiên cứu:
Nghiên cứu
tuân theo các quy định về đạo đức trong nghiên
cứu y sinh học và đã được Hội đồng đạo đức
Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên thông qua.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thực hiện trên 319 trẻ 12 – 35
tháng tuổi (52.98% nam và 47.02% nữ; 22.6%
trẻ 12 – 23 tháng tuổi và 77.4% trẻ 24 – 35
tháng tuổi) thành phố Thái Nguyên. Kết quả
nghiên cứu chỉ ra rằng:
Bảng 1. Mối liên quan giữa một số yếu tố và tình trạng mắc sâu răng ở trẻ nhỏ
Chỉ số nghiên cứu
Sâu răng
OR
(95%CI)
p
Không n(%)
Có n(%)
Cân nặng khi sinh
Bình thường (≥2500gr)
119(38.5)
190(61.5)
0.939
(0.26-3.39)
0.254
Nhẹ cân (<2500gr)
4(40)
6(60)
Tuổi thai
Không đẻ non (≥36 tuần)
102(38.5)
163(61.5)
0.983
(0.53-1.79)
0.121
Đẻ non (< 36 tuần)
21(38.9)
33(61.1)
Giới tính
Nam
67(39.6)
102(60,4)
1.10
(0.70-1.73)
0.730
Nữ
56(37.3)
94(62.7)
Khám nha khoa
lần đầu
Trước 1 tuổi
4(44.4)
5(55.6)
1.284
(0.34-4.88)
0.247
Sau 1 tuổi
119(38.4)
191(61.6)
Phụ huynh giúp
trẻ chải răng
Có
27(55.1)
22(44.9)
2.22
(1.20-4.12)
0.008
Không
96(35.6)
174(64.4)
Thời điểm bắt đầu
Mọc được vài răng
5(40.2)
79(59.8
1.121
0.354

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 474 - THÁNG 1 - SỐ 2 - 2019
37
chải răng
Tất cả răng đã mọc
70(37.4)
117(62.6)
(0.71-1.77)
Dùng kem chải
răng có fluor
Có
56(38.4)
90(61.6)
0.984
(0.62-1.55)
0.092
Không
67(38.7)
106(61.3)
Thói quen chải
rang
Hàng ngày
100(40.3)
148(59.7)
1.410
(0.81-2.46)
0.054
Không hàng ngày
94(39.2)
146(60.8)
Ăn ngay trước khi
ngủ
Không thường xuyên
102(42)
141(58)
1.895
(1.08-3.33)
0.016
Thường xuyên
21(27.6)
55(61.4)
Bú mẹ đến
Dưới 12 tháng
45(40.5)
66(59.5)
1.136
(0.71-1.82)
0.083
Trên 12 tháng
78(37.5)
130(62.5)
Bắt đầu dùng sữa
công thức
Trên 12 tháng
37(39.4)
57(60.6)
1.05
(0.64-1.72)
0.098
Dưới 12 tháng
86(38.2)
139(61.8)
Cai bú bình khi
ngủ
Dưới 12 tháng
101(39.6)
154(60.4)
1.25
(0.71-2.22)
0.086
Trên 12 tháng
22(34.4)
42(65.6)
Người chăm sóc bị
sâu răng và có thói
quen không tốt
Không
99(43.4)
129(56.6)
2.14
(1.26-3.66)
0.002
Có
24(26.4)
67(73.6)
* Chi square Test
Nhận xét:
Sự khác biệt về các yếu tốphụ huynh giúp chải răng, ăn ngay trước khi ngủ, người
chăm sóc bị sâu răng và có thói quen không tốtgiữa nhóm không sâu răng và nhóm sâu răng, khác
biệt có ý nghĩa thống kê với p<0.05.
Bảng 2. Mối liên quan giữa các yếu tố và tình trạng mắc sâu răng
Chỉ số nghiên cứu
p
OR
95%CI
Người chăm sóc bị sâu răng có thói quen không tốt
0.022
1.905
1.10 - 3.30
Phụ huynh giúp trẻ chải răng
0.045
1.913
1.01 - 3.61
Ăn ngay trước khi ngủ
0.031
1.882
1.06 - 3.34
*Phương trìnhhồi quy tuyến tính đa biến có
kiểm soát các yếu tố: tiền sử sản khoa (cân nặng
khi sinh, tuổi thai), giới tính, tiền sử thăm khám
nha khoa (thời điểm đi khám nha khoa lần đầu,
thói quen đi khám nha khoa, thói quen vệ sinh
răng miệng (thời điểm bắt đầu chải răng, số lần
chải răng hàng ngày, sử dụng kem chải răng có
fluoride, phụ huynh giúp trẻ chải răng), chế độ
chăm sóc dinh dưỡng (thời gian bú mẹ, thời gian
bú bình), lây nhiễm từ người chăm sóc (mẹ hoặc
người chăm sóc bị sâu răng và có thói quen
không tốt như: đưa thìa thức ăn vào miệng mình
trước khi bón cho trẻ, thơm mút bàn tay trẻ, ăn
chung bát – thìa với trẻ).
Nhận xét:
Người chăm sóc bị sâu răng và có
thói quen không tốt, phụ huynh không giúp trẻ
chải răng, thường xuyên ăn ngay trước khi đi
ngủ, làm tăng nguy cơ sâu răng, khác biệt có ý
nghĩa với p<0.05.
IV. BÀN LUẬN
Kiểm định khi bình phương chỉ ra khác biệt có
ý nghĩa thống kê về các yếu tố phụ huynh giúp
chải răng, ăn ngay trước khi ngủ, người chăm
sóc bị sâu răng có thói quen không tốt giữa
nhóm sâu răng và không sâu răng (p<0.05)
(Bảng 1). Tuy nhiên, sâu răng là bệnh ảnh
hưởng bởi đa yếu yếu tố. Để đánh giá mối liên
quan giữa các yếu tố với tình trạng mắc sâu răng
ở trẻ nhỏ, phân tích hồi quy đa biến có kiểm soát
các yếu tố tiền sử sản khoa (cân nặng khi sinh,
tuổi thai), giới tính, tiền sử thăm khám nha khoa
(thời điểm đi khám nha khoa lần đầu, thói quen
đi khám nha khoa, thói quen vệ sinh răng miệng
(thời điểm bắt đầu chải răng, số lần chải răng
hàng ngày, sử dụng kem chải răng có fluoride,
phụ huynh trẻ giúp chải răng), chế độ chăm sóc
dinh dưỡng (thời gian bú mẹ, thời gian bú bình),
lây nhiễm từ người chăm sóc (mẹ hoặc người
chăm sóc bị sâu răng và có thói quen không tốt
như: đưa thìa thức ăn vào miệng mình trước khi
bón cho trẻ, thơm mút bàn tay trẻ, ăn chung bát
– thìa với trẻ) được sử dụng, kết quả nghiên cứu
cũng chỉ ra rằng: Người chăm sóc bị sâu răng và
có thói quen không tốt, phụ huynh không giúp
trẻ chải răng, thường xuyên ăn ngay trước khi đi
ngủ, làm tăng nguy cơ sâu răng, khác biệt có ý
nghĩa với p<0.05 (Bảng 2).
Sâu răng là bệnh nhiễm khuẩn, sự có mặt của
vi khuẩn gây bệnh có vai trò quan trọng đến sự
phát triển của sâu răng.Hầu hết các nghiên cứu
chỉ ra rằng
S. mutans
không được phát hiện
trong miệngtrẻ chưa mọc răngnhưng thường
xuyên xuất hiện trong khoang miệng của trẻ sau
khi các răng cửa bắt đầu xuất hiện, sự lây nhiễm
này thường xảy ra theo chiều dọc: trẻ có mẹ có
nồng độ
S. mutans
cao, là kết quả của sâu răng
không được điều trị, có nguy cơ bị nhiễm
S.

vietnam medical journal n02 - JANUARY - 2019
38
mutans
sớm hơn so với trẻ có nồng độ
S.
mutans
thấp [5],[6]. Tại Việt Nam, một số bà mẹ
và người chăm sóc trẻ có thói quen không tốt
như: thơm mút bàn tay trẻ, đưa thìa thức ăn của
trẻ vào miệng mình trước khi bón cho trẻ (để
kiểm tra hoặc làm nguội thức ăn), ăn chung bát
– thìa với trẻ. Nghiên cứu của chúng tôi không
đánh giá về tình trạng vi khuẩn trong miệng của
bà mẹ - người chăm sóc và trẻ nhưng cũng chỉ
ra rằng: người chăm sóc trẻ bị sâu răng mà có
thói quen không tốt làm tăng nguy cơ mắc sâu
răng với trẻ (OR = 1.88, 95%CI: 1.06 – 3.34). Vì
vậy, việc thay đổi thói quen không có lợi trong
chăm sóc trẻ là cần thiết để giảm nguy cơ mắc
sâu răng ở trẻ nhỏ.
Sâu răng là bệnh có thể phòng ngừa được và
một trong các cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa
sâu răng đó là chải răng thường xuyên bằng kem
chải răng có fluoride. Nghiên cứu này cho thấy:
tần suất chải răng hàng ngày không liên quan
với tình trạng sâu răng mà việc phụ huynh giúp
trẻ chải răng khác biệt có ý nghĩa thống kê với
tình trạng mắc sâu răng (OR = 1.913, 95%CI:
1.01 – 3.61). Một nghiên cứu được thực hiện tại
thành phố Huế - Việt Nam cũng cho kết quả
tương tự [3]. Vì vậy, sự có mặt và trợ giúp trẻ
chải răng của phụ huynh khi trẻ còn nhỏ, chưa
có khả năng tự làm sạch răng là rất quan trọng
trong việc làm giảm nguy cơ gây sâu răng ở trẻ.
Khuyến cáo này phù hợp với khuyến cáo của
Hiệp hội nha khoa Mỹ: Chải răng nên được thực
hiện cho trẻ bởi cha mẹ trẻ ngày hai lần từ khi
mọc chiếc răng sữa đầu tiên, lượng kem chải
răng có fluoride phù hợp với trẻ dưới 3 tuổi là
bằng một vết hoặc một hạt gạo [7]; cũng phù
hợp với khuyến cáo của các nhà khoa học tại
Anh: chải răng ngày hai lần nên bắt đầu từ khi
răng mọc và cần phải có người lớn giúp đỡ -
giám sát cho ít nhất đến khi trẻ 7 tuổi [8].
Chăm sóc dinh dưỡng có vai trò quan trọng
đối với tình trạng mắc sâu răng. Sau khi ăn, các
thức ăn có chứa carbohydrates bị vi khuẩn phân
hủy, làm giảm độ pH trên bề mặt răng và hậu
quả là xảy ra quá trình khử khoáng răng. Loại
thức ăn có vai trò quan trọng trong bệnh sinh
sâu răng nhưng chế độ ăn lại quan trọng hơn rất
nhiều. Nghiên cứu này góp phần khẳng định tầm
quan trọng của việc chăm sóc dinh dưỡng trong
dự phòng sâu răng ở trẻ nhỏ: Ăn ngay trước khi
ngủ làm tăng gần gấp đôi nguy cơ gây sâu răng
(OR = 1.882, 95%CI: 1.06 – 3.34). Nước bọt
góp phần làm sạch thức ăn bám trên bề mặt
răng và rửa trôi vi khuẩn trong khoang miệng, là
hệ thống đệm giúp trung hòa acid. Lưu lượng
nước bọt giảm đến mức tối thiểu trong giấc ngủ
ban đêm và giảm đáng kể trong bất kỳ giấc ngủ
nào [6]. Vì vậy, ăn ngay trước khi ngủ cho
phépsự hiện diện thức ăn trên bề mặt răng kéo
dài, khử khoáng tiến triển dẫn đến sâu răng xảy
ra. Kết quả nghiên cứu này cũng tương đồng với
kết quả nghiên cứu của tác giả Yan Li và cộng sự.
Nhiều nghiên cứu của các tác giả khác cho
thấy có mối liên quan sâu răng ở trẻ nhỏ với các
yếu tố: bú mẹ kéo dài, bú bình [1],[3]. Tuy
nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi, khác biệt
không có ý nghĩa thống kê giữa nhóm mắc sâu
răng và không mắc sâu răng với thời gian bú mẹ,
thời gian bú bình (p>0.05).
V. KẾT LUẬN
Phụ huynh giúp chải răng, ăn ngay trước khi
đi ngủ và nguời chăm sóc trẻ bị sâu răng có thói
quen không tốt là yếu tố nguy cơ gây sâu răng
sớm ở trẻ nhỏ (p<0.05).
Giới tính, tiền sử sản khoa không liên quan
đến tình trạng sâu răng (p> 0.05).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Misra, S., J.F. Tahmassebi, and M. Brosnan,
Early
childhood caries-a review,
Dent Update, 2007.
34(9): p. 556-8, 561-2, 564.
2. El Tantawi, M., et al., Prevalence and Data
Availability of Early Childhood Caries in 193 United
Nations Countries, 2007-2017, Am J Public Health,
2018,108(8): p. 1066-1072.
3. Yen HTN, Masayuki U, Takashi Z et al, Early
Childhood Caries and Risk Factors in Vietnam, The
Journal of Clinical Pediatric Dentistry, 2018, 42(3),
p.173-81.
4. Neeraj G et al, International caries detection and
asscessment system (ICDAS): A new concept.
International journal of clinical pediatric dentistry
,
2011, 4(2), 93 – 100.
5. Robert JBC, Treatment and prevention of early
childhood caries: a microbiologic
pespective,
Journal of Canadian Dental Association
,
2003, 69(5):304-307.
6. Fung MHT, Wong MCM, Lo ECM, CH Chu
(2013) Early Childhood Caries: A Literature
Review. Oral. Hyg. Health 1: 107. DOI:
10.4172/2332- 0702.1000107
7. American Academy on Pediatric Dentistry and
American Academy of Pediatrics,
Policy on
early childhood caries (ECC): classifications,
consequences, and preventive strategies.
Pediatr
Dent, 2008.30(7): p. 40-43.
8. Z. Marshman, S.M. Ahern, R.R.C. McEachan et
al, Parents’ Experiences of Toothbrushing with
Children:A Qualitative Study,
JDR Clinical &
Translational Research, 2016, 1(2), 122 – 130.

