Gầy
Măng cầy, mạy thóc (Tày, Nùng)
Công dụng:
Thân dy, cứng nhưng ít được dùng làm nhà không thật thẳng và
to. Có thể dùng m nguyên liệu trong công nghiệp giấy, ván ép...
Thường trồng để lấy măng, vì măng to, nhiều, ăn ngon, nhưng phải ăn
hoặc chế biến ngay, vì măng dễ chuyển mầu nâu và để lâu có vị hơi đắng.
Bình quân mỗi chiếc măng gầy nặng 1,5kg (măng to có trọng lượng
2,8kg), tỷ lệ sử dụng của măng gầy cao, đạt 71-85%.
Măng thể ăn tươi, làm măng chua hoặc phơi klàm măng lưỡi
ln. Ở Thái Lan, măng gầy được xuất khẩu nhiều.
Trung bình trong 100g măng gy (phần ăn được) chứa 92g nước; 1,1g
protein; 0,3g chất béo; 1,8g hydratcarbon; 1,8g cellulose và 0,6g tro (Tài liu
của Thái Lan). Theo phân tích, măng gầy của Việt Nam cũng cho kết quả
tương tự: 91 ,99% nước; 1,92% protein; 2,13% đường tổng; 3,03% glucid;
0,65% cellulose và 0,17% lipid (Nguyn Danh Minh, 2005).
Hình thái:
Thân ngm dạng củ, thân khí sinh mọc thành cụm thưa; thân thẳng
cao 13-16m hay hơn, đường kính 10-15cm, chiu dài lóng 30-50cm, vách
dầy 20 - 25mm.
Thân lúc non nhiu lông hung m tro hay hung vàng, trên và
dưới vòng mo vòng ng trng mịn. Đốt thân hơi phình, nhng đốt gn
gốc có nhiều rễ.
Lóng thân có vệt dọc, nhìn cm giác khô, rắn chắc. Mắt cành to.
Cây phân cành cao, tnửa thân phía trên trlên; 1-4 cành lớn; gốc c cành
ln (đùi gà) có khnăng ra rễ ngay khi còn ở trên thân.
Một số mắt của các lóng phía dưới có thể mọc ra các cành nhỏ, rất đặc
trưng để nhận biết loài này.
Bmo hình chuông, đỉnh i lõm, kích thước 40-60 x 20-35cm; mt
lưng thường vết vằn đen và lông mầu hung. Phiến mo lớn hình mũi
giáo, kích thước 10-30 x 8-10cm, thường lật lại, hai mép quăn vào trong, đầu
vút nhn.
Tai mo nhỏ, lông; lưỡi mo đường gờ xẻ, nhiều ng sm rụng.
Lá có 2 loại, loại to kích thước 20-30 x 2,5-5cm, chất lá mềm, thuôn, đầu vút
nhọn, gốc tù i tròn, loi nhỏ dưới chỉ rộng 2-3cm. Cụm hoa đầu cành,
mỗi đốt cành 2-3 cành hoa; nh hoa i, mi đốt có 1-3 ng nhỏ. Bông
nhỏ màu xanh vàng, hình bu dục dẹp, mỗi bông nhỏ có nhiều hoa.
Phân bố:
- Việt Nam: Gy thường được trồng vùng trung Tâm Bắc Bộ và
Trung Bộ. Gặp nhiều Phú Thọ (huyện Đoan Hùng), Tuyên Quang (huyn
Chiêm Hoá Na Hang) vrải rác Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Cũng có
thể gặp gầy phân bố rải rác ở vùng Tây Bắc Việt Nam.
- Thếgiới: Loài Dendrocalamus brandisii ngun gốc tmiền Bắc
Ấn Độ, đến Myanmar, Bắc Thái Lan, Đông Dương, min Nam Trung Quốc
(tỉnh Vân Nam) và đảo Andaman.
Đặc điểm sinh học:
Cây mọc nơi khậu nhit đới gió mùa, địa hình đồi núi thấp
độ cao so vi mt biển 100-500m. Tập trung độ cao 200-300 m. Cây có
thế trồng trên nhiều loại đất, đất bồi tụ ven sông suối đất feralite vàng hay
đỏ vàng ven cn núi, phát triển trên phiến thạch hoặc sa thạch là thích hp
nhất với gầy.
Cũng gặp gầy mọc trên c loại đất ven chân núi đá vôi trên đất
sét. Cây kng chịu được ngập nước, nên phi trồng gy trên các chân núi
thoát nước, không bị lũ ngập hàng năm.
Gầy thường được trồng phân n từng km hoặc từng đám vài ba
khóm ở cn đồi, xung quanh vườn.
Khi n nhdưới 1 m, cần che bóng nh25-30%. Trên 1 m, y yêu
cầu ánh sáng toàn bộ. ng bắt đầu nhú lên t đầu mùa mưa (tháng 5-6),
vùng Trung du Bắc Bộ.
Từ lúc đó đến khi phát triển đạt chiều cao tối đa chỉ khoảng 4-6 tháng.
Sau đó cây mi phát triển nh lá. Cây trưởng thành khai thác được khi đạt
3-4 tuổi. Bình thường mỗi bụi ng gầy đẻ 3-5 măng trong năm.
Việt Nam rất ít gặp gầy ra hoa l tẻ chưa thấy ra hoa hàng loạt,
chính vy nên chưa giám định được tên chính xác của loài. Theo tài liệu
của Ấn Độ, chu kkhuy của gy khoảng 45-50 m. Mùa ng từ tháng 6
đến tháng 9.