intTypePromotion=1

“Kỹ nghệ ngườm” trong nền khảo cổ học Thái Nguyên và những vấn đề nghiên cứu đặt ra

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
42
lượt xem
0
download

“Kỹ nghệ ngườm” trong nền khảo cổ học Thái Nguyên và những vấn đề nghiên cứu đặt ra

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nhiều di tích thuộc thời đại đồ đá, trong đó việc phát hiện ra Mái Đá Ngườm cũng với Kỹ nghệ Ngườm có giá trị khoa học và ý nghĩa to lớn về lịch sử, văn hóa. Song, bên cạnh đó vẫn còn có nhiều vấn đề khoa học cần phải được tiếp tục nghiên cứu. Từ đó góp phần làm sáng tỏ những giá trị khảo cổ học còn tiềm ẩn trên mảnh đất Thái Nguyên, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến Kỹ nghệ Ngườm.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: “Kỹ nghệ ngườm” trong nền khảo cổ học Thái Nguyên và những vấn đề nghiên cứu đặt ra

Nguyễn Đức Thắng<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 118(04): 27 - 31<br /> <br /> “KỸ NGHỆ NGƢỜM” TRONG NỀN KHẢO CỔ HỌC THÁI NGUYÊN<br /> VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐẶT RA<br /> Nguyễn Đức Thắng*<br /> Trường Đại học Sư phạm - ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nhiều di tích thuộc thời đại đồ đá,<br /> trong đó việc phát hiện ra Mái Đá Ngƣờm cũng với Kỹ nghệ Ngƣờm có giá trị khoa học và ý nghĩa<br /> to lớn về lịch sử, văn hóa. Song, bên cạnh đó vẫn còn có nhiều vấn đề khoa học cần phải đƣợc tiếp<br /> tục nghiên cứu. Từ đó góp phần làm sáng tỏ những giá trị khảo cổ học còn tiềm ẩn trên mảnh đất<br /> Thái Nguyên, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến Kỹ nghệ Ngƣờm.<br /> Từ khóa: Khảo cổ học Thái Nguyên, Thái Nguyên, Mái Đá Ngườm, Kỹ nghệ Ngườm, đồ đá cũ.<br /> <br /> Thái Nguyên là một vùng đất có bề dày lịch<br /> sử. Ngay từ những thập kỷ 20 của thế kỷ XX,<br /> các nhà khảo cổ học ngƣời Pháp đã phát hiện<br /> đƣợc những dấu tích đầu tiên của con ngƣời<br /> tiền sử trên đất Thái Nguyên. Vào đầu những<br /> năm 1970 và liên tiếp trong những năm 1980,<br /> 1981, 1982, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã<br /> phát hiện, khai quật và nghiên cứu cụm di tích<br /> Thần Sa, thuộc huyện Võ Nhai, trong đó có di<br /> tích Ngƣờm- Miệng Hổ nổi tiếng. Việc là<br /> phát hiện và xác lập một kỹ nghệ khảo cổ học<br /> mới - kỹ nghệ Ngƣờm, có niên đại hậu kỳ đá<br /> cũ. Thành tựu đó có ý nghĩa rất to lớn không<br /> những đối với việc nhận thức tiền sử Việt<br /> Nam mà cả khu vực Đông Nam Á. Nhƣng từ<br /> đó đến nay, hơn 30 năm đã trôi qua, công<br /> cuộc tìm kiếm, thăm dò khảo cổ học trên đất<br /> Thái Nguyên dƣờng nhƣ chững lại.*<br /> Trong thời gian 30 năm đó, các phát hiện<br /> khảo cổ học khác ở Thái Nguyên nằm rải rác<br /> ở nhiều nơi, diễn ra trong thời gian dài, lại do<br /> nhiều cơ quan, nhiều cá nhân thực hiện, nên<br /> việc hệ thống hóa các tƣ liệu là một yêu cầu<br /> bức thiết. Hơn nữa, nghiên cứu thời đại đồ đá<br /> ở Thái Nguyên không thể chỉ tiến hành riêng<br /> rẽ mà phải đặt trong mối quan hệ khu vực,<br /> trên một bình tuyến rộng hơn. Do đó, các vấn<br /> đề về những di tích thời đại đồ đá ở Thái<br /> Nguyên đã đến lúc đặt ra và cần nghiên cứu<br /> đồng bộ, nghiêm túc, toàn diện.<br /> *<br /> <br /> Tel: 0978 623600, Email: ducthangdhsptn@gmail.com<br /> <br /> Đôi nét về kỹ nghệ Ngƣờm ở Thái Nguyên<br /> Kỹ nghệ mảnh tước Ngườm: đƣợc phát hiện ở<br /> xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái<br /> Nguyên từ năm 1981. Đây là kỹ nghệ nằm<br /> trong dòng truyền thống đá cuội, nhƣng bên<br /> cạnh những công cụ đƣợc chế tác từ hòn cuội<br /> là sự phổ biến rộng rãi công cụ mảnh tƣớc.<br /> Những mảnh tƣớc nhỏ nhắn, mỏng tách ra từ<br /> đá cuội đƣợc tu chỉnh thành những con dao,<br /> chiếc nạo, mũi nhọn. Không tìm thấy bằng<br /> chứng của sự tham gia của những hạch đá<br /> chuẩn bị trƣớc. Những công cụ mảnh tƣớc ở<br /> Ngƣờm và Miệng Hổ đều không phải là đồ<br /> đá nhỏ.<br /> Điểm khác nhau giữa kỹ nghệ mảnh Ngƣờm<br /> với kỹ nghệ cuội ghè là: Một bên nhằm tạo ra<br /> những mảnh tƣớc và lấy nó làm đối tƣợng chế<br /> tác công cụ, “hạch đá cuội” chỉ còn là cái<br /> xác, ít đƣợc sử dụng với một bên nhằm tạo ra<br /> những công cụ từ chính hạch cuội đó, mảnh<br /> tƣớc chỉ là phần phụ gia trong bộ công cụ.<br /> Mối quan hệ giữa kỹ nghệ Ngƣờm với<br /> những nền văn hóa khảo cổ khác<br /> Việc phát hiện di tích Ngƣờm đã cung cấp<br /> cho giới khảo cổ những nhận thức mới về con<br /> đƣờng phát triển kỹ nghệ Ngƣờm - kỹ nghệ<br /> mảnh tƣớc ở hậu kỳ đá cũ Việt Nam và Đông<br /> Nam Á. Địa tầng di chỉ mái đá Ngƣờm nếu<br /> không kể lớp mặt, dày 0,20m - 0,30m có độ<br /> dày 1,45m, đƣợc chia làm 3 tầng văn hoá phát<br /> triển kế tiếp nhau từ sớm đến muộn. Nhìn<br /> chung, 3 tầng văn hoá ở Ngƣờm phát triển<br /> 27<br /> <br /> Nguyễn Đức Thắng<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 118(04): 27 - 31<br /> <br /> liên tục, không bị ngăn cách bởi tầng vô sinh,<br /> nhƣng có sự thay đổi khá rõ trong tổ hợp di<br /> vật và thành phần động vật từ Cánh Tân<br /> muộn đến đầu Toàn Tân.<br /> <br /> tƣớc, công cụ cuội ghè chiếm tỷ lệ thấp, còn<br /> Sơn Vi không phát triển kỹ thuật gia công<br /> công cụ mảnh tƣớc và công cụ mảnh tƣớc<br /> hoàn toàn hiếm hoi.<br /> <br /> Về tầng văn hoá dƣới cùng (tầng I), các nhà<br /> nghiên cứu cho rằng tổ hợp di vật ở đây đặc<br /> trƣng cho kỹ nghệ ít nhiều phân biệt với kỹ<br /> nghệ mảnh tƣớc ở Đông Nam Á, và chúng tạo<br /> nên một kỹ nghệ với đặc thù riêng: Kỹ nghệ<br /> Ngƣờm thuộc hậu kỳ đá cũ, có tuổi sớm hơn<br /> văn hoá Sơn Vi. Diện mạo cơ bản của kỹ<br /> nghệ Ngƣờm đƣợc nhận biết bởi vai trò chủ<br /> thể của công cụ mảnh và của những kỹ nghệ<br /> chế tác mảnh. Các nhà khảo cổ đã xác lập một<br /> kỹ nghệ khảo cổ học mới: kỹ nghệ Ngƣờm,<br /> có ngƣời gọi là văn hoá Ngƣờm.<br /> <br /> Hai tác giả Quang Văn Cậy và Trình Năng<br /> Chung đã đƣa ra một kết luận khi tiến hành<br /> khai quật Ngƣờm lần 2 vào năm 1982. Đó là<br /> “…chưa có đủ cơ sở để xếp Ngườm II vào<br /> phạm trù văn hóa Sơn Vi ...” [4].<br /> <br /> Cho đến nay, đã có một số tác giả đã viết về<br /> mối quan hệ văn hóa giữa kỹ nghệ Ngƣờm và<br /> các văn hóa khác:<br /> Mối quan hệ với văn hóa Sơn Vi<br /> Mối quan hệ giữa Ngƣờm và Sơn Vi đƣợc<br /> chú ý nhiều khi phân tích kỹ thuật - hình thái<br /> công cụ phát hiện ở tầng văn hóa thứ II ở mái<br /> đá Ngƣờm đƣợc coi là thuộc văn hóa Sơn<br /> Vi.Theo Trịnh Căn trong bài nghiên cứu trên<br /> thông báo "Những phát hiện mới về khảo cổ<br /> học năm 1987" thì mái đá Ngƣờm có các giai<br /> đoạn phát triển: Thần Sa, Sơn Vi, Hòa Bình<br /> và Bắc Sơn [1; 2]. Tuy nhiên khi đi sâu<br /> nghiên cứu các địa tầng và các công cụ của<br /> văn hóa Sơn Vi trong địa tầng Ngƣờm, các<br /> tác giả Quang Văn Cậy và Trình Năng Chung<br /> có một số kết luận đáng lƣu ý. Các công cụ<br /> của văn hóa Sơn Vi có mặt ở cả 3 tầng văn<br /> hóa và không tập trung trong ở bất kỳ tầng<br /> văn hóa nào. Nhƣng công cụ kiểu Sơn Vi nhƣ<br /> công cụ rìa lƣỡi dọc, công cụ phần tƣ cuội và<br /> công cụ mũi nhọn không thật điển hình nhƣ<br /> những công cụ cùng loại ở vùng Phú Thọ,<br /> Yên Bái, Bắc Giang. Khi tiến hành so sánh kỹ<br /> nghệ Ngƣờm và Sơn Vi, hai tác giả trên đã có<br /> nhận xét về những đặc trƣng gần nhau trong<br /> kỹ thuật chế tác công cụ nhƣng những điểm<br /> khác biệt nổi bật nhƣ: kỹ nghệ Ngƣờm phát<br /> triển kỹ thuật gia công tu chỉnh công cụ mảnh<br /> 28<br /> <br /> Mối quan hệ với văn hóa Hòa Bình<br /> Theo giáo sƣ Hà Văn Tấn, trong lớp trên cùng<br /> của tầng văn hóa thứ III có độ dầy 0,40cm,<br /> ngoài một số công cụ chặt thô hình núm cuội,<br /> mũi nhọn không qua tu chỉnh còn có khá<br /> nhiều công cụ chặt hình hạnh nhân, rìu ngắn,<br /> rìu dài, rìu mài lƣỡi, là những hiện vật thƣờng<br /> gặp trong văn hóa Hòa Bình. Tuy nhiên bộ<br /> công cụ Hòa Bình ở đây vắng mặt công cụ<br /> hình đĩa, là công cụ phổ biến trong các di tích<br /> Hòa Bình. Cùng với công cụ trong lớp văn<br /> hóa trên cùng này còn phát hiện đƣợc hai ngôi<br /> mộ đƣợc chôn theo tƣ thế ngồi, nằm co khá<br /> giống với mộ Hòa Bình.<br /> Tuy nhiên, khi so sánh những đặc trƣng cơ<br /> bản của mảnh tƣớc Ngƣờm với mảnh tƣớc<br /> Hòa Bình thì có sự khác biệt khá lớn. Trong<br /> các di tích văn hóa Hòa Bình, mảnh tƣớc khá<br /> nhiều song công cụ làm từ mảnh tƣớc nhỏ với<br /> dấu tu chỉnh lần hai nhƣ ở Ngƣờm rất hiếm và<br /> không đặc trƣng.<br /> Bộ sƣu tập công cụ ở mái đá Ngƣờm phản<br /> ánh quá trình phát triển liên tục của kỹ nghệ<br /> đá cuội, trong đó bảo lƣu các yếu tố kỹ thuật<br /> và loại hình có tính chất truyền thống và hình<br /> thành một số yếu tố mới tạo nên các bƣớc<br /> phát triển của kỹ nghệ cuội. Những đặc trƣng<br /> cơ bản của Sơn Vi và Hòa Bình hầu nhƣ<br /> không điển hình tại Ngƣờm.<br /> Mối quan hệ với văn hóa Bắc Sơn<br /> Gần liền kề với khu vực phân bố kỹ nghệ<br /> Ngƣờm là khu vực phân bố văn hóa Bắc Sơn.<br /> Trong một thời gian khá dài mối quan hệ giữa<br /> Ngƣờm và Bắc Sơn từng đƣợc tranh luận khá<br /> sôi nổi. Năm 1981 khi tiến hành khai quật mái<br /> <br /> Nguyễn Đức Thắng<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> đá Ngƣờm trong tầng văn hóa I ở Ngƣờm, các<br /> nhà khai quật đã thấy đƣợc sự hiện diện của<br /> văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn. Trong đó có<br /> một chiếc rìu mài lƣỡi Bắc Sơn. Trong cả hai<br /> đợt khai quật (1980 và 1982) đã có 7 chiếc rìu<br /> mài lƣỡi Bắc Sơn đƣợc tìm thấy.<br /> Khi nghiên cứu nét tƣơng đồng và khác biệt<br /> giữa công cụ mảnh tƣớc của hai nền văn hóa<br /> này chúng ta đã giải quyết đƣợc câu hỏi về<br /> mối quan hệ của chúng. Trƣớc hết cần phải<br /> khẳng định cả kỹ nghệ Ngƣờm và văn hóa<br /> Bắc Sơn đều có chung một khuynh hƣớng,<br /> một con đƣờng phát triển. Đó là con đƣờng<br /> phát triển công cụ mảnh. Ở Ngƣờm, kỹ nghệ<br /> mảnh tồn tại trong cả ba tầng văn hóa còn<br /> trong văn hóa Bắc Sơn, mảnh cuội lớn đƣợc<br /> sử dụng nhƣ là đối tƣợng chủ yếu để chế tác<br /> công cụ. Có thể nói rằng văn hóa Bắc Sơn<br /> đƣợc xếp vào kỹ nghệ mảnh mang phong<br /> cách đồ đá lớn, còn kỹ nghệ mảnh ở Ngƣờm<br /> mang phong cách mảnh nhỏ hơn. Các công cụ<br /> mảnh trong kỹ nghệ Ngƣờm và văn hóa Bắc<br /> Sơn đều mang tính phi định hình. Chủ nhân<br /> của kỹ nghệ Ngƣờm dùng mảnh tƣớc có hình<br /> thức nhỏ để chế tạo công cụ mũi nhọn và nạo,<br /> còn chủ nhân của văn hóa Bắc Sơn dùng<br /> mảnh cuội lớn để chế tạo công cụ chặt, nạo,<br /> cuốc, rìu ghè đẽo hình bầu dục thậm chí cả rìu<br /> mài lƣỡi. Mảnh tƣớc trong văn hóa Bắc Sơn<br /> phổ biến là những mảnh tƣớc lớn, thô làm<br /> công cụ (kích thƣớc từ 5cm - 15cm) đƣợc ghè<br /> đẽo một cách thô sơ. Mảnh tƣớc ở Ngƣờm có<br /> kích thƣớc nhỏ nhắn hơn khoảng từ 3cm 5cm. Theo tác giả Trình Năng Chung sự khác<br /> biệt này có lẽ do môi trƣờng nguyên liệu đá<br /> và phƣơng thức kinh tế đem lại. Trong văn<br /> hóa Bắc Sơn phổ biến kỹ thuật bổ cuội thành<br /> những mảnh tƣớc lớn để chế tác công cụ. Họ<br /> không chỉ bổ đôi mà còn bổ ba, bổ tƣ. Trong<br /> kỹ nghệ Ngƣờm, kỹ thuật bổ cuội đã xuất<br /> hiện nhƣng chƣa mang tính chủ đạo. Một kỹ<br /> thuật ghè đẽo nổi bật của kỹ nghệ Bắc Sơn là<br /> ghè đẽo hai mặt. Trong khi đó, ở Ngƣờm kỹ<br /> thuật ghè đẽo một mặt đóng vai trò chủ thể.<br /> Nhƣ vậy, giữa Ngƣờm và Bắc Sơn có nhiều<br /> điểm tƣơng đồng và khác biệt. Nét tƣơng<br /> đồng lớn bao trùm là việc sử dụng rộng rãi<br /> những mảnh tƣớc cuội làm công cụ. Hệ quả<br /> <br /> 118(04): 27 - 31<br /> <br /> kèm theo là tính phi định hình, bất ổn định<br /> trong loại hình mảnh [5].<br /> Những nghiên cứu trên đã phần nào khẳng<br /> định Ngƣờm là một trong những cội nguồn<br /> chính của văn hóa Bắc Sơn. Tuy nhiên,<br /> Ngƣờm có phải là cội nguồn duy nhất hay<br /> không còn là vấn đề cần nghiên cứu thêm [7].<br /> Mối quan hệ với các nền văn hóa khảo cổ khác<br /> Trên địa bàn của Bắc Thái xƣa và Thái<br /> Nguyên ngày nay còn có những phát hiện<br /> đáng chú ý về mối quan hệ giữa kỹ nghệ<br /> Ngƣờm với các nền văn hóa khảo cổ khác.<br /> Bằng chứng là tháng 8 năm 1985, tại xã Yên<br /> Đĩnh, huyện Phú Lƣơng (ngày nay xã Yên<br /> Đĩnh thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Cạn),<br /> các nhà khảo cổ đã phát hiện di chỉ hang Nà<br /> Coóc. Cuộc khai quật đƣợc tiến hành vào<br /> tháng 1 năm 1986. Tầng văn hoá khảo cổ dầy<br /> 1,1m, chia làm 2 lớp. Các hiện vật phần lớn là<br /> đồ đá, ít công cụ xƣơng cùng nhiều vỏ<br /> nhuyễn thể. Đã tìm thấy 2 ngôi mộ, 1 ngôi mộ<br /> chôn đôi, đều trong tƣ thế nằm co, có kè đá<br /> xung quanh.<br /> Bộ sƣu tập đá ở Nà Coóc có gần 3.000 tiêu<br /> bản, gồm rìu tứ giác đƣợc mài nhẵn toàn thân,<br /> mảnh vòng đá, một lƣỡi cƣa làm bằng đá<br /> phiến thạch, dọi xe chỉ bằng đất nung, rìu mài<br /> phần lƣỡi, rìu ngắn Hoà Bình, công cụ cuội<br /> chặt thô, và một số mảnh tƣớc có dấu vết tu<br /> chỉnh kiểu Ngƣờm. Những ngƣời khai quật<br /> cho rằng, di chỉ Nà Coóc là địa điểm cƣ trú<br /> của nhiều thời: từ đá cũ qua thời đá giữa đến<br /> thời đá mới [3]. Kết quả nghiên cứu Nà Coóc<br /> cho chúng ta thêm tài liệu để tìm hiểu sâu<br /> thêm về mối quan hệ giữa nhóm di tích Thần<br /> Sa với vùng xung quanh.<br /> Năm 1985, các nhà khảo cổ học đã tiến hành<br /> điều tra ở khu vực xã Bản Ngoại thuộc huyện<br /> Đại Từ đã phát hiện những dấu tích của văn<br /> hoá Hà Giang thể hiện trên những chiếc rìu<br /> bôn có vai, có nấc [6]. Năm 1991, nghiên cứu<br /> của nhóm tác giả Bùi Vinh, Trình Năng<br /> Chung và Triệu Đình Huyên đã khẳng định<br /> hai chiếc bôn đang lƣu giữ tại bảo tàng Thái<br /> 29<br /> <br /> Nguyễn Đức Thắng<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Nguyên hiện nay là bôn đá thuộc văn hóa Hà<br /> Giang. Mặt khác, nhóm tác giả cũng đề cập<br /> đến một thực tế là ở Thái Nguyên còn tồn tại<br /> một số rìu vai vuông và dạng bôn có nấc có<br /> hình dáng nhƣ ở Hạ Long nhƣng có kích<br /> thƣớc lớn hơn. Những loại rìu, bôn nhƣ vậy<br /> cũng đã tìm thấy nhiều ở vùng Hà Giang, Cao<br /> Bằng [10].<br /> Có thể thấy Thái Nguyên là một trong những<br /> địa bàn phân bố của văn hóa Hà Giang, có<br /> tầm quan trọng khá đặc biệt trong thời đại đá<br /> Việt Nam.<br /> Các vấn đề cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu.<br /> Kỹ nghệ Ngƣờm có một vị trí quan trọng<br /> trong thời đại đồ đá ở Việt Nam và khu vực<br /> Đông Nam Á. Giáo sƣ Hà Văn Tấn trong bài<br /> viết “Ngườm, Lang Rongrien và Bạch Liên<br /> Động” công bố trong “Những phát hiện mới<br /> về Khảo cổ học năm 1990” đã viết: “...càng<br /> ngày càng có thêm tài liệu để chúng ta thấy<br /> rằng kỹ nghệ Ngườm không phải là một kỹ<br /> nghệ đơn độc, có tính địa phương. Việc phát<br /> hiện kỹ nghệ mảnh ở Lang Rongrien và Bạch<br /> Liên Động đã cho biết rằng kỹ nghệ mảnh<br /> tước với công cụ nhỏ có niên đại cuối<br /> Pleistocene đã tồn tại trước kỹ nghệ hạch<br /> cuội kiểu Sơn Vi - Hòa Bình trên một vùng<br /> rộng lớn ở lục địa Đông Nam Á. Vấn đề là ở<br /> chỗ giải thích sự chuyển biến từ kỹ nghệ<br /> mảnh sang kỹ nghệ hạch cuội như thế<br /> nào...”[8].<br /> Thành tựu nổi bật của khảo cổ học Việt Nam<br /> tại Thái Nguyên là phát hiện và xác lập một<br /> kỹ nghệ khảo cổ học mới - kỹ nghệ Ngƣờm,<br /> có niên đại hậu kỳ đá cũ. Mặc dù kỹ nghệ<br /> Ngƣờm đã đƣợc nghiên cứu khá nhiều, nhƣng<br /> vẫn còn rất nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ nhƣ<br /> về nguồn gốc và khuynh hƣớng phát triển của<br /> kỹ nghệ Ngƣờm, chủ nhân, phạm vi phân<br /> bố… Vấn đề có hay không văn hóa Sơn Vi<br /> trên đất Thái Nguyên? Vấn đề diện mạo và<br /> đặc trƣng của văn hóa đá mới sơ kỳ, hậu kỳ<br /> đá mới ở Thái Nguyên?<br /> 30<br /> <br /> 118(04): 27 - 31<br /> <br /> Kết luận<br /> Qua quá trình nghiên cứu lâu dài, các nhà<br /> khảo cổ học nhận thấy ở Đông Nam Á lục địa<br /> chủ yếu đi theo con đƣờng sử dụng hạch cuội<br /> chế tác thành công cụ còn Đông Nam Á hải<br /> đảo sử dụng mảnh tƣớc chế tác công cụ là<br /> chính. Tuy nhiên, khi phát hiện và nghiên cứu<br /> các di tích hang Miệng Hổ và mái đá Ngƣờm,<br /> chúng ta thấy kỹ nghệ Ngƣờm hay kỹ thuật<br /> chế tác công cụ bằng mảnh tƣớc ở Đông Nam<br /> Á lục địa đã đƣợc xác lập. Phát hiện quan<br /> trọng này đã mở ra hƣớng nghiên cứu kỹ nghệ<br /> mảnh ở Đông Nam Á và Nam Trung Quốc.<br /> Kỹ nghệ Ngƣờm có ý nghĩa vô cũng quan<br /> trọng trong nghiên cứu khảo cổ học. Việc<br /> nghiên cứu kỹ nghệ Ngƣờm đã có nhiều thành<br /> tựu và vẫn còn những vấn đề cần đƣợc<br /> nghiên cứu tiếp nhƣ đã nêu ở phần 3 của bài<br /> viết này.<br /> Năm 2011, Viện Khảo cổ học đã khởi động<br /> lại công việc nghiên cứu khảo cổ tại Thái<br /> Nguyên, phối hợp với Đại học Sƣ phạm Thái<br /> Nguyên và Bảo tàng Thái Nguyên tổ chức<br /> một số đợt điều tra, khảo sát nhằm phát hiện<br /> mới một số di tích khảo cổ. Trong các năm<br /> tiếp theo là 2012, 2013 trƣờng Đại học Sƣ<br /> phạm Thái Nguyên tiếp tục kết hợp với Viện<br /> Khảo cổ học tiếp tục nghiên cứu trên địa bàn<br /> tỉnh Thái Nguyên. Cho đến nay, chúng ta đã<br /> phát hiện đƣợc tổng cộng 24 di chỉ hang động<br /> thuộc thời đại đồ đá và đang tích cực nghiên<br /> cứu. Trong thời gian tới sẽ có những kết quả<br /> và phát hiện mới góp phần giải quyết các vấn<br /> đề đang đƣợc đặt ra.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 1. Trịnh Căn (1986). Về hai chiếc Rìu tay bằng đá<br /> cuội ở Mái đá Ngƣờm (Bắc Thái). Trong Những<br /> phát hiện mới về Khảo cổ học 1986. Viện Khảo cổ<br /> học, Hà Nội: 58.<br /> 2. Trịnh Căn (1987). Những công cụ kiểu Sơn Vi<br /> trong văn hóa Thần Sa. Trong Những phát hiện<br /> mới về Khảo cổ học năm 1987. Viện Khảo cổ học,<br /> Hà Nội: 24 - 25.<br /> 3. Quang Văn Cậy, Trịnh Căn và Bùi Văn Lợi<br /> (1986). Hang Nà Coóc huyện Phú Lƣơng (Bắc<br /> <br /> Nguyễn Đức Thắng<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Thái). Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học<br /> 1986. Viện Khảo cổ học, Hà Nội: 64.<br /> 4. Quang Văn Cậy và Trình Năng Chung (1998).<br /> Góp bàn về mối quan hệ kỹ nghệ Ngƣờm và văn<br /> hóa Sơn Vi. Tìm hiểu văn hóa Sơn Vi. Sở Văn hóa<br /> - Thông tin và thể thao tỉnh Phú Thọ.<br /> 5. Trình Năng Chung (1991). Kỹ nghệ Ngƣờm và văn<br /> hoá Bắc Sơn. Khảo cổ học, số 2, Hà Nội: 16 - 21.<br /> 6. Trình Năng Chung (1987). Điều tra Khảo cổ<br /> học ở huyện Đại Từ (Bắc Thái). Trong Những<br /> phát hiện mới về Khảo cổ học 1987, Viện Khảo cổ<br /> học, Hà Nội: tr. 262.<br /> 7. Hà Hữu Nga (2001), Văn hóa Bắc Sơn.<br /> Nxb.Khoa học Xã hội, Hà Nội : tr.130 - 131.<br /> <br /> 118(04): 27 - 31<br /> <br /> 8. Hà Văn Tấn (1990). Ngƣờm, Lang Longrien và<br /> Bạch Liên Động. Trong Những phát hiện mới về<br /> Khảo cổ học năm 1990. Viện Khảo cổ học, Hà<br /> Nội : 45 - 48.<br /> 9. Nguyễn Đức Thắng (2012). Phát hiện di tích<br /> hang động tiền sử ở huyện Phú Lƣơng, Thái<br /> Nguyên. Bài trình bày trong Hội thảo những phát<br /> hiện mới về Khảo cổ học năm 2012, Hà Nội.<br /> 10. Bùi Vinh, Trình Năng Chung, Triệu Đình<br /> Huyên (1991). Bôn có vai - có nấc tại Bắc Thái.<br /> Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học 1991.<br /> Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội: tr. 27<br /> <br /> SUMMARY<br /> NGUOM TECHNOLOGY IN THAI NGUYEN ARCHAEOLOGY<br /> AND FURTHER RESEARCH ISSUES<br /> Nguyen Duc Thang*<br /> College of Education - TNU<br /> <br /> The archaeologists have discovered relics of Neolithic era in Thai Nguyen province, in which the<br /> discovery of the Nguom stone roof together with Nguom industry having scientific value and<br /> tremendous sense of history and culture. Besides, there are still many scientific issues need to be<br /> further studied. This will help unravel the hidden archaeological value in Thai Nguyen, especially<br /> issues related to Nguom industry.<br /> Keywords: Thai Nguyen archaeology, Thai Nguyen, Nguom stone roof<br /> <br /> Ngày nhận bài:13/3/2014; Ngày phản biện:15/3/2014; Ngày duyệt đăng: 25/3/2014<br /> Phản biện khoa học: PGS.TS Hà Thị Thu Thủy – Trường Đại học Sư phạm - ĐHTN<br /> *<br /> <br /> Tel: 0978 623600, Email: ducthangdhsptn@gmail.com<br /> <br /> 31<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2