
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
KHOA Y
BÀI GIẢNG
DA LIỄU
Tài liệu dành cho sinh viên Y Đa khoa
(Lưu hành nội bộ)
GV Biên soạn và tổng hợp: Bs.CKI. Trần Thị Mai Hồng
Hậu Giang, 2022

Tài liệu tham khảo: Giáo trình Da Liễu, Bộ môn Da Liễu - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
NXB Y học Hà Nội - 2021 Chủ biên: PGs.Ts. Huỳnh Văn Bá
2
BÀI 1. THƯƠNG TỔN CĂN BẢN
Mục tiêu học tập
Sau bài học này sinh viên có khả năng:
- Mô tả được thương tổn nguyên phát.
- Mô tả được thương tổn thứ phát.
- Mô tả được hình dạng, cách sắp xếp, phân bố thương tổn của 1 số bệnh da
thường gặp.
1. Đại cương
Trong thời đại ngày nay các xét nghiệm cận lâm sàng ngày một nhiều và hiện
đại, nhưng việc khám thực thể da vẫn là phần quan trọng. Khám lâm sàng trong
bệnh da chính là tìm và đọc thương tổn căn bản, cách sắp xếp và phân bố thương
tổn trên cơ thể.
Thương tổn căn bản: là thương tổn ngoài da mà đặc tính của nó còn giữ
nguyên vẹn. Dựa vào tiến triển thương tổn da chia làm 2 loại: nguyên phát và thứ
phát.
+ Thương tổn nguyên phát: là thương tổn đặc trưng ở da và xuất hiện vào giai
đoạn đầu của bệnh có vai trò quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh da.
+ Thương tổn thứ phát: là thương tổn xuất hiện tiếp theo thương tổn da
nguyên phát, thường do cào, gãi, trợt da…
Trong thực tế thường có sự phối hợp của thương tổn nguyên phát và thứ phát
trên cùng một bệnh nhân. Người thầy thuốc phải tìm ra thương tổn nguyên phát,
kết hợp với vị trí, cách sắp xếp của chúng trên cơ thể bệnh nhân, mà đưa ra chẩn
đoán bệnh. Theo dõi diễn tiến của thương tổn có ý nghĩa trong việc đánh giá kết
quả điều trị.
Dựa vào mặt phẳng da chia làm 3 nhóm chính: ngang mặt da, trên mặt da,
dưới mặt da.
Ngoài ra còn có một số thương tổn đặc biệt xuất hiện tùy loại bệnh lý: cồi,
nang, kén, đường hầm, dãn mao mạch, ban xuất huyết.
2. Phân loại thương tổn căn bản
2.1. Phân loại thương tổn căn bản theo mặt phẳng da
+ Thương tổn nằm ngang mặt da: dát.
+ Thương tổn nằm trên mặt da: sẩn, nốt, sẩn phù, mụn nước, bóng nước,
mụn mủ, củ, áp xe, nang, mài, vẩy, sẹo lồi, lichen.
+ Thương tổn nằm dưới mặt da: teo, xơ hóa, trợt, sẹo lõm, loét, hoại tử

Tài liệu tham khảo: Giáo trình Da Liễu, Bộ môn Da Liễu - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
NXB Y học Hà Nội - 2021 Chủ biên: PGs.Ts. Huỳnh Văn Bá
3
Thương tổn ngang mặt da
Thương tổn trên mặt da
Thương tổn dưới mặt da
2.2. Phân loại tổn thương căn bản theo tiến triển
2.2.1. Thương tổn nguyên phát
- Dát: là thương tổn bằng với mặt da mặt và có sự thay đổi màu sắc, có kích
thước và hình dạng bất kỳ. Dát có thể gặp trong: tàn nhang, bạch biến, lang ben,
hồng ban sắc tố cố định.
- Mụn nước: là thương tổn nhô cao trên mặt da, đường kính nhỏ hơn hoặc
bằng 5 mm, bên trong chứa thanh dịch. Mụn nước có thể nông hoặc sâu, căng
hoặc chùng hoặc lõm ở đỉnh.
- Bóng nước: là thương tổn nhô cao trên mặt da, bên trong chứa dịch trong
như thanh dịch, đục như mủ máu,…Đường kính lớn hơn 5 mm. Bóng nước có thể
căng hoặc chùng khi vỡ ra để lại vết trợt bề mặt ẩm hoặc rỉ dịch, bề mặt có thể có
viền vẩy, sau đó khô lại đóng mày.
- Mụn mủ: là thương tổn nhô cao trên mặt da, bên trong chứa mủ. Mụn mủ có
thể thay đổi về kích thước và hình dạng. Mủ có màu trắng sữa, màu vàng hoặc màu
vàng hơi xanh. Mụn mủ nang lông thường nhọn đầu và trung tâm có sợi lông, loại
mụn mủ này hay gặp trong mụn trứng cá, viêm nang lông.
- Sẩn: là thương tổn nhô cao trên mặt da, bên trong chứa chất đặc, sờ chắc
hoặc mềm, đường kính lên đến 1 cm. Sẩn có thể tròn hay đa giác, đỉnh có thể hình
chóp hay hình vồm, lõm hoặc phẳng trung tâm. Màu sắc có thể trắng như hạt kê,
vàng như ban vàng ở mắt, hồng, đỏ như vẩy nến, mày đay, mụn trứng cá. Sẩn do
tăng sản thượng bì gặp trong mụn cóc. Sẩn do tăng sinh quanh lỗ chân lông gặp
trong dầy sừng nang lông, vẩy phấn đỏ nang lông. Sẩn tích tụ huyết thanh còn gọi
là sẩn phù. Sẩn trên 1cm gọi là mảng hoặc tập hợp nhiều sẩn thành mảng
- Củ: là thương tổn tương tự như sẩn nhưng thâm nhiễm tế bào phần sâu của
lớp bì, tiến triển chậm, khi lành để lại sẹo. Củ có thể nhô cao trên mặt da hoặc
bằng với mặt da. Củ có thể gặp trong bệnh phong…

Tài liệu tham khảo: Giáo trình Da Liễu, Bộ môn Da Liễu - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
NXB Y học Hà Nội - 2021 Chủ biên: PGs.Ts. Huỳnh Văn Bá
4
- Cục: là thương tổn đặc, hình cầu hay hình trứng, nằm sâu trong bì- hạ bì.
Cục có thể nằm nhô cao trên mặt da hay dưới mặt da. Người khám thường
phát hiện bằng cách sờ nắn hơn là nhìn.
- Sùi: là thương tổn nhô cao trên mặt da có giới hạn hoặc trải rộng, trên bề
mặt có các nhú. Thương tổn gặp trong bệnh mào gà…
- Sừng: là một khối tế bào hóa sừng. Thí dụ như mụn cóc.
- Nang: là túi chứa dịch, hình tròn hoặc bầu dục, khi ấn có cảm giác lình
phình. Thí dụ như nang bã.
2.2.2.Thương tổn thứ phát
- Vẩy hoặc vẩy da: là những phiến mỏng của lớp sừng bong tróc trên bề mặt
da.
Có nhiều loại vẩy, vẩy có thể mịn như cám gặp trong bệnh lang ben, vẩy phấn
hồng, hoặc thành phiến gặp trong nấm vẩy rồng.
Có thể tiên phát như da vẩy cá, có thể thứ phát như chàm.
- Vẩy tiết hoặc mày: là khối dịch tiết đông lại, màu vàng (huyết thanh), xanh
(mủ) hay đen (máu). Mày có thể gặp trong bệnh chàm, chốc, thủy đậu.
- Vết xước: vết trầy xước nông của thượng bì, có thể thành đường dài hay
thành đám do cào gãi. Thường gặp trong bệnh da có ngứa như chàm, ghẻ ngứa.
- Vết nứt: là sự phân cắt thành đường của da nhưng không tách rời và có thể
đau. Vết nứt được tạo ra khi da bị dầy, khô và mất tính đàn hồi.
Vết nứt có thể gặp trong chàm khô nứt nẻ.
- Vết trợt hoặc vết lở: là thương tổn lõm dưới mặt da do mất toàn bộ hoặc
một phần thượng bì. Vết trợt khi lành thường không để lại sẹo.
- Vết loét: là thương tổn lõm dưới mặt da do mất toàn bộ thượng bì và tối
thiểu đến lớp bì. Vết loét khi lành thường để lại sẹo như chốc loét, loét do nằm…
- Lichen hóa hoặc hằn cổ trâu: là mảng dày, sạm màu, các nếp da nổi rõ
những rãnh ngang dọc tạo ra các ô không điều. Lichen hóa thường gặp trong bệnh
da có ngứa mạn tính, gãi lâu ngày hoặc cọ xát thường xuyên. Lichen hóa có thể
gặp trong chàm mạn tính, viêm da thần kinh khu trú.
- Teo da: là thượng bì mỏng do giảm số lượng tế bào thượng bì, da hơi trong
có nhiều nếp nhăn hoặc da khô trơn không còn đường rãnh, dễ xếp nếp, có thể thấy
mao mạch li ti dưới da.
- Cứng da: do tăng sinh mô tạo keo trong lớp bì. Cứng da có thể khu trú hay
lan tỏa, mất nếp nhăn, sờ cứng, véo khó. Gặp trong bệnh xơ cứng bì.
- Sẹo: là do sự tân tạo của mô tạo keo sau chấn thương hay phẫu thuật. Sẹo có
thể phì đại hoặc teo hoặc lồi hoặc lõm, da trên bề mặt mỏng, mất các nếp nhăn

Tài liệu tham khảo: Giáo trình Da Liễu, Bộ môn Da Liễu - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
NXB Y học Hà Nội - 2021 Chủ biên: PGs.Ts. Huỳnh Văn Bá
5
bình thường, không có lông, tuyến bã.
3. Hình dáng, cách sắp xếp và phân bố thương tổn trong một số bệnh da
thường gặp
3.1. Hình dáng:
- Hình tròn hay dạng đồng tiền: bệnh chàm đồng tiền, bệnh vẩy nến mảng.
- Hình vòng : bệnh vẩy nến dạng vòng.
- Hình cung hay đa cung: bệnh mày đay, bệnh nấm thân.
- Hình bia: bệnh hồng ban đa dạng.
- Hình ngoằn ngoèo: bệnh ấu trùng di chuyển ở da.
3.2. Cách sắp xếp
- Xếp thành đường: Hiện tượng Kobner, viêm da do thực vật…
- Xếp thành chùm: herpes, zona…
3.3. Sự phân bố
- Khu trú hay lan tỏa
- Có đối xứng hay không đối xứng
- Vị trí có tính đặc hiệu
4. Một số hiện tượng và dấu hiệu thường gặp
Hiện tượng Kobner: Phản ứng đồng dạng của da hình thành sau chấn thương,
một thương tổn đặc hiệu của bệnh. Thí dụ như: Hiện tượng Kobner trong bệnh vẩy
nến.
Hiện tượng Lichen hóa: là mảng da dầy có rãnh ngang dọc do gãi liên tục gặp
trong chàm.
Dấu Nikolsky: dưới một áp lực cọ xát làm trợt da ở vùng da có vẻ bình
thường cạnh bóng nước trên một bệnh nhân có bệnh da bóng nước. Dấu Nikolsky
gặp trong bệnh Pemphigus.
Tóm lại:
Da như một tấm gương phản ánh các bệnh lý bên trong cơ thể cũng như các bệnh
lý do tác động của bên ngoài. Muốn chẩn đoán bệnh da một cách đúng đắn và
khoa học phải phân tích tỉ mỉ các thương tổn căn bản.

