
1
ĐẠI HỌC HUÊ
ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
Bài giảng:
ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Giảng viên: TS. Nguyễn Thị Thuý Hằng
Huế, 09/2023

2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
1.1. Đầu tư
1.1.1. Khái niệm về đầu tư
Nhà kinh tế học P.A. Samuelson cho rằng: “Đầu tư là hoạt động tạo ra vốn tư bản thực sự,
theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng
và tăng thêm hàng tồn kho. Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng
nguồn lực, nghiên cứu, phát minh...”.
Nhà kinh tế học John M. Keynes cho rằng: “Đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến
hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản chính để thu lợi nhuận”. “Khi một người mua hay đầu tư một
tài sản, người đó mua quyền để được hưởng các khoản lợi ích trong tương lai mà người đó hi vọng có
được qua việc bán sản phẩm mà tài sản đó tạo ra”. Quan niệm này đã nói lên kết quả của đầu tư về
hình thái vật chất là tăng thêm tài sản cố định, tạo ra tài sản mới về mặt giá trị.
Theo lĩnh vực kinh tế, đầu tư là sự bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm mục đích tạo ra sản phẩm
cho xã hội và sinh lợi (cho chủ đầu tư).
Xét một cách đầy đủ hơn, hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn
lực tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián
tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung,
các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ của ngành, cơ quan quản lý và xã hội nói riêng.
Người bỏ vốn đầu tư được gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư. Đối tượng được bỏ vốn đầu tư
thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư.
Vốn đầu tư được thể hiện dưới các dạng:
+ Các loại tiền tệ (ngoại tệ, nội tệ, vàng – bạc, đá quý).
+ Các loại tài sản khác như: tài sản hữu hình (nhà xưởng, tư liệu sản xuất, tài nguyên khoáng
sản, đất đai...) hoặc các tài sản vô hình (quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, dịch vụ, thương
hiệu...).
Nếu xét theo phạm vi quốc gia, có 2 loại:
+ Đầu tư trong nước
+ Đầu tư nước ngoài (đầu tư quốc tế)

3
1.1.2. Đặc trưng của hoạt động đầu tư
Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư bao gồm:
- Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư thường là quyết định tài chính.
Vốn được hiểu như là các nguồn lực sinh lợi. Dưới các hình thức khác nhau nhưng vốn có thể
xác định dưới hình thức tiền tệ. Vì vậy, các quyết định đầu tư thường được xem xét trên phương diện
tài chính (khả năng sinh lời, tổn phí, có khả năng thu hồi được hay không…). Trên thực tế, các quyết
định đầu tư cân nhắc bởi sự hạn chế của ngân sách nhà nước, địa phương, cá nhân và được xem xét
từ các khía cạnh tài chính nói trên. Nhiều dự án có khả thi ở các phương diện khác (kinh tế – xã hội)
nhưng không khả thi về phương diện tài chính vì thế cũng không thể thực hiện được trên thực tế.
- Hoạt động đầu tư là hoạt động có tính chất lâu dài.
Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính khác, đầu tư luôn là hoạt
động có tính chất lâu dài. Do đó, mọi sự trù liệu đều là dự tính và chịu một xác suất biến đổi nhất định
do nhiều nhân tố biến đổi tác động. Chính điều này là một trong những vấn đề then chốt phải tính đến
trong nội dung phân tích, đánh giá của quá trình thẩm định dự án.
- Hoạt động đầu tư là một trong những hoạt động luôn cần có sự cân nhắc giữa lợi ích trước
mắt và lợi ích trong tương lai.
Đầu tư về một phương diện nào đó là sự hy sinh lợi ích hiện tại để đánh đổi lấy lợi ích trong
tương lai. Vì vậy, luôn có sự so sánh cân nhắc giữa hai loại lợi ích này và nhà đầu tư chỉ chấp nhận
trong điều kiện lợi ích thu được trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện này họ phải hy sinh - đó là chi phí
cơ hội của nhà đầu tư.
- Hoạt động đầu tư chứa đựng nhiều rủi ro.
Các đặc trưng nói trên đã cho ta thấy đầu tư là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro do chịu
xác suất nhất định của yếu tố kinh tế – chính trị – xã hội – tài nguyên thiên nhiên…Bản chất của sự
đánh đổi lợi ích và lại thực hiện trong một thời gian dài không cho phép nhà đầu tư lường hết những
thay đổi có thể xảy ra trong quá trình thực hiện đầu tư so với dự tính. Tuy nhiên, nhận thức rõ điều
này nên nhà đầu tư cũng có những cách thức, biện pháp để ngăn ngừa hay hạn chế để khả năng rủi ro
là ít nhất. Những đặc trưng nói trên cũng đặt ra cho người phân tích, đánh giá dự án chẳng những quan
tâm về mặt nội dung xem xét mà còn tìm các phương pháp, cách thức đo lường, đánh giá để có những
kết luận giúp cho việc lựa chọn và ra quyết định đầu tư một cách có căn cứ.
1.1.3. Phân loại đầu tư
Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư và tuỳ theo tiêu chí mà xếp loại đầu tư.
- Phân loại theo thời hạn đầu tư, bao gồm:

4
+ Đầu tư ngắn hạn;
+ Đầu tư trung hạn;
+ Đầu tư dài hạn.
- Phân loại theo mục đích đầu tư, bao gồm:
+ Đầu tư nhằm mục đích phát triển kinh tế, tăng thu ngân sách.
+ Đầu tư nhằm giải quyết vấn đề xã hội.
+ Đầu tư nhằm nô dịch đối tượng khác.
- Phân loại theo lĩnh vực kinh tế, đầu tư bao gồm 6 nhóm:
+ Đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng.
+ Đầu tư vào sản xuất công nghiệp
+ Đầu tư vào khai khoáng, khai thác tài nguyên
+ Đầu tư vào sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp.
+ Đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ - thương mại – du lịch
+ Đầu tư vào lĩnh vực tài chính.
- Phân loại theo nguồn vốn đầu tư, bao gồm 3 loại:
+ Đầu tư bằng ngân sách Nhà nước.
+ Đầu tư bằng vốn tư nhân.
+ Đầu tư bằng vốn cổ phần (các nguồn hỗn hợp).
- Phân loại theo hình thức đầu tư. Luật Đầu tư của Việt Nam 2005 chia hoạt động đầu tư thành
nhiều loại:
+ Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của
nhà đầu tư nước ngoài.
+ Thành lập tổ chức kinh tế Liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
+ Đầu tư theo các hình thức: Hợp đồng Hợp tác kinh doanh (BCC); Xây dựng – Vận
hành – Chuyển giao (BOT); Xây dựng – Chuyển giao – Vận hành (BTO); Xây dựng – Chuyển giao
(BT).
+ Đầu tư phát triển kinh doanh.

5
+ Mua cổ phần, góp vốn trực tiếp vào các tổ chức kinh tế.
+ Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
+ Các hình thức đầu tư trực tiếp hợp pháp khác.
- Theo mức độ tham gia quản lý của các nhà đầu tư vào đối tượng bỏ vốn, đầu tư quốc tế có
thể xem xét theo những quan điểm khác nhau tuỳ theo vị trí của nhà đầu tư.
+ Đầu tư trực tiếp:
Theo quan điểm vĩ mô: Chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp đưa vốn và kỹ thuật vào nước nhận
đầu tư; tổ chức sản xuất – kinh doanh, trên cơ sở thuê mướn, khai thác các yếu tố cơ bản ở nước sở
tại (như tài nguyên, sức lao động, cơ sở vật chất…). Đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu được thực
hiện thông qua hình thức đầu tư của nhà tư bản tư nhân.
Theo quan điểm vi mô: Chủ đầu tư góp vốn với tỷ lệ đủ lớn, trực tiếp tham gia vào quản lý,
điều hành đối tượng bỏ vốn.
+ Đầu tư gián tiếp:
Theo quan điểm vĩ mô: Nước chủ nhà nhận vốn từ nước ngoài dưới hình thức vay vốn hoặc
nhận viện trợ của một tổ chức quốc tế hoặc một nước nào đó. Nước chủ nhà sử dụng vốn vay để phục
vụ cho quá trình phát triển kinh tế và kinh tế - xã hội quốc gia, sau một thời gian (như đã thoả thuận)
phải hoàn trả cả gốc và lãi dưới hình thức tiền tệ hay hàng hoá. Hoặc Chính phủ bán trái phiếu ra nước
ngoài để huy động ngoại tệ từ nước ngoài. Nói cách khác: đầu tư gián tiếp là một hình thức đầu tư của
Chính Phủ.
Theo quan điểm vi mô: Chủ đầu tư góp vốn với tỉ lệ nhỏ; họ không được quyền tham gia trực
tiếp vào việc điều hành, chi phối hoạt động của đối tượng mà chỉ đơn thuần là góp vốn để được nhận
một phần lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp.
1.1.4. Dự án đầu tư (DAĐT)
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì “DAĐT là một tập hợp các hoạt động đặc
thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phương pháp trên cơ sở các nguồn lực nhất định”. Ở Việt Nam,
khái niệm DAĐT được trình bày trong nghị định 52/1999 NĐ-CP về quy chế quản lý đầu tư và xây
dựng cơ bản: “DAĐT là tập hợp các đề xuất có liên quan tới việc bỏ vốn để tạo vốn, mở rộng hoặc
cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải
tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian nhất định”.
- Về mặt hình thức: DAĐT là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết có hệ thống các
hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu
nhất định trong tương lai.

