
LIÊN KẾT HÓA HỌC & CẤU TẠO PHÂN TỬ

1. Những khái niệm cơ bản về liên kết hóa học
Về hình thức, liên kết hóa học là sự kết hợp giữa các nguyên tử để tạo thành
phân tử hay tinh thể bền vững hơn;
Về bản chất, liên kết hóa học là lực, giữ cho các nguyên tử cùng nhau trong
các phân tử hay các tinh thể;
1.1. Bản chất liên kết :
Theo quan niệm hiện đại, liên kết hóa học có bản chất điện, nguyên nhân là do
cơ sở tồn tại của mọi liên kết hóa học đều là lực hút giữa các hạt tích điện chính là
các electron và hạt nhân nguyên tử. Electron thực hiện liên kết hóa học chủ yếu là
electron của những phân lớp ngoài cùng (electron hóa trị).

1.2. Một số đặc trưng của liên kết :
1.2.1. Độ dài liên kết: là khoảng cách giữa hai hạt nhân của các nguyên tử tương tác
với nhau.
Nếu các nguyên tử tham gia liên kết như nhau, thì liên kết càng bền khi độ dài liên
kết càng bé.
1.2.2. Góc hóa trị: là góc tạo thành bởi hai đoạn thẳng tưởng tượng nối hạt nhân
nguyên tử trung tâm với hai hạt nhân nguyên tử liên kết.
1.2.3. Năng lượng liên kết: là năng lượng cần tiêu tốn để phá hủy liên kết.
Năng lượng liên kết đặc trưng cho độ bền của liên kết, năng lượng liên kết càng lớn
thì liên kết càng bền.

Độ dài liên kết càng nhỏ năng lượng liên kết càng lớn

1.2.4. Mômen lưỡng cực
Trong nguyên tử, các electron bao quanh hạt nhân được phân bố toàn toàn đối
xứng khắp mọi phía nên trọng tâm của các điện tích trùng với tâm của hạt nhân (trọng
tâm của điện tích dương).
Trong phân tử, trọng tâm của các điện tích âm và dương có thể trùng nhau hoặc
không trùng nhau.
Nếu trọng tâm điện tích dương và trọng tâm điện tích âm trong phân tử trùng nhau
ta có phân tử không phân cực.
Ví dụ: phân tử H2, N2, F2…
Nếu trọng tâm điện tích âm và dương không trùng
nhau (xuất hiện ở 2 nguyên tử có sự chênh lệch về độ
âm điện) thì ta có phân tử phân cực. Lúc này phân tử
xuất hiện một mômen lưỡng cực.
Ví dụ: phân tử H2O
Độ phân cực của liên kết được đánh giá qua
mômen lưỡng cực μ (muy), có đơn vị đo là Debye (D).

