
CHƯƠNG VIII
LUẬT DÂN SỰVIỆT NAM
I. Khái quát chung về luật dân sự Việt Nam
1. Khái niệm
Luật dân sự là một ngành luật quan trọng trong hệ thống
pháp luật Việt Nam, gồm tổng hợp các quy phạm pháp
luật quy định về địa vị pháp lý của các cá nhân, pháp
nhân, các chủ thể khác; quy định về quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể liên quan đến nhân thân và tài sản trong
các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động (gọi chung là quan hệ pháp luật
dân sự) (điều 1 Bộ luật dân sự).

2. Đối tượng điều chỉnh
• Đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự gồm hai nhóm
quan hệ quan hệ xã hội sau:
+ Quan hệ tài sản: là quan hê giữa người với người
thông qua một tài sản nhất định. Tài sản theo pháp luật
dân sư có thê là: vật, tiền, giấy trị gia được bằng tiền va
các quyền tài sản.
+ Quan hê nhân thân: là quan hê gắn liền với mỗi ca
nhân, không thê chuyển giao được cho người khác trư
trường hợp pháp luật có quy định. Quan hệ nhân thân
được chia thành hai loại là: quan hệ nhân thân gắn với
tài sản và quan hệ nhân thân không gắn với tài sản.

Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là:
- Cá nhân;
- Pháp nhân;
- Hô gia đình;
- Tổ hợp tác
(năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân đã
tìm hiểu trong chương 4 về quan hệ pháp luật).

3. Phương pháp điều chỉnh:
Luật dân sự sử dụng phương pháp bình đẳng – thoả thuận.
Đặc trưng của phương pháp này là các chủ thể khi tham gia
vào quan hệ pháp luật sự bình đẳng với nhau về quyền và
nghĩa vụ.
Trong pháp luật dân sự Nhà nước không trực tiếp dùng
quyền lực của mình để can thiệp vào các quan hệ xã hội. Các
chủ thể được tự do, tự nguyện giao kết xác lập các quan hệ
pháp luật theo ý chí của mình trên cơ sở không trái với quy
định của pháp luật.

II. Một số chế định cơ bản của Luật dân sự
1. Tài sản và quyền sở hữu tài sản:
•Khái niệm tài sản: bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá
và các quyền tài sản (điều 163 BLDS).
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và
có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả
quyền sở hữu trí tuệ.

