
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
**********
CHỦ ĐỀ: LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
Lớp: CLC47D
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
1
STT HỌ VÀ TÊN MSSV
1 Nguyễn Minh Nhung (Nhóm trưởng) 2253801015242
2 Nguyễn Vân Anh 2253801013010
3 Phan Viên Thu Trang 2253801013196
4 Nguyễn Đặng Nhật Linh
5 Nguyễn Đoàn Phương Thảo
6 Phạm Thị Kỳ Duyên
7 Nguyễn Thuỳ Dương

1. Cơ sở lý luận về lãi suất trong hoạt động ngân hàng
1.1. Định nghĩa, đặc điểm của lãi suất trong hoạt động ngân hàng
1.1.1. Định nghĩa lãi suất
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, nền kinh tế trên thế giới chịu sự ảnh
hưởng lẫn nhau một cách mạnh mẽ và diễn biến khá phức tạp. Hiện tượng này gây ra
nhiều khó khăn, thách thức cho hoạt động ngân hàng và quản lý kinh tế. Sự biến động
về kinh tế, xã hội và biến động của cung - cầu vốn trên thị trường tiền tệ dẫn đến sự
biến động của lãi suất. Diễn biến của lãi suất có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống
hàng ngày của mỗi chủ thể kinh tế. Nó tác động đến những quyết định của các cá nhân
như chi tiêu hay để dành, mua nhà hay mua trái phiếu hay gửi tiền vào một tài khoản
tiết kiệm. Lãi suất cũng tác động đến những quyết định kinh tế của các doanh nghiệp
như: dùng tiền để đầu tư mua thiết bị mới cho các nhà máy hoặc để gửi tiết kiệm trong
một ngân hàng. Do đó, việc ổn định lãi suất là một trong những điều kiện tiên quyết
để đảm bảo an ninh tài chính - chính sách tiền tệ quốc gia, đặc biệt là tại những nước
có độ mở kinh tế cao như Việt Nam.
Khái niệm lãi suất được hiểu theo những nghĩa khác nhau trong môi trường dân
gian, trong môi trường kinh tế, trong khoa học pháp lý và trong quy định pháp luật.
Theo Từ điển tiếng việt, lãi suất được hiểu là “Tỷ lệ phần trăm giữa lãi so với
vốn”.
Dưới góc độ kinh tế, lãi suất được hiểu là “giá cả của tín dụng - giá cả của quan
hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các
dạng thức tài sản khác nhau”, là tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn. Có
thể hiểu vốn tiền tệ ở đây là một loại tài sản để cho vay mượn, người muốn có quyền
sử dụng tài sản này trong một thời gian nhất định thì phải trả chi phí tương ứng được
đo bằng lãi suất.
Dưới góc độ pháp luật, đầu tiên, theo Từ điển luật học của Viện Khoa học pháp
lý - Bộ tư pháp, “lãi suất là tỷ lệ phần trăm tính trên số vốn đầu tư để xác định lãi của
người đầu tư”. Khái niệm này có điểm tương đồng so với quan điểm của các nhà kinh
tế học, cho rằng lãi suất là một tỷ lệ phần trăm, thể hiện giá cả của quyền sử dụng vốn
tiền tệ.
Ngoài ra, lãi suất còn được đề cập trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật.
Tuy nhiên, các văn bản pháp luật này đều không đưa ra một khái niệm cụ thể nào về
lãi suất mà chỉ đề cập gián tiếp thông qua các quy định về mức lãi suất, phương thức
tính lãi suất. Cụ thể, những quy định về ấn định mức lãi suất tại khoản 1 Điều 12 Luật
2

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, khoản 1 Điều 100 Luật các tổ chức tín
dụng năm 2024 hay quy định về lãi suất cho vay trong Hợp đồng vay tài sản tại Điều
468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngay cả trong Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày
28/6/2023 của Ngân hàng nhà nước mới đây sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông
tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 cũng không nêu rõ định nghĩa lãi suất mà
chỉ quy định chung lãi suất được điều chỉnh thế nào, xác định ra sao.
Từ những định nghĩa trên, có thể khái quát về lãi suất như sau: “Lãi suất là tỷ lệ
phần trăm của số tiền gốc mà người đi vay hoặc nhà đầu tư phải hoàn trả. Lãi suất
đóng vai trò vừa là khoản lợi nhuận cho Ngân hàng để bù đắp chi phí và duy trì hoạt
động của ngân hàng, còn là công cụ hữu hiệu để ngân hàng nhà nước điều tiết cung
cầu về tiền, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia”.
1.1.2. Định nghĩa lãi suất trong hoạt động ngân hàng
Căn cứ khoản 1 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 và khoản 17
Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2024 quy định, “hoạt động ngân hàng” là việc kinh
doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín
dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
- Hoạt động nhận tiền gửi: Theo khoản 27 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng
2024 thì nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền
gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi
và hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo
thỏa thuận cho tổ chức, cá nhân gửi tiền (sau đây gọi là người gửi tiền).
Việc nhận tiền gửi được thực hiện diễn ra liên tục và thường xuyên nhất tại Ngân
hàng, việc nhận tiền gửi là một trong những hoạt động giúp cho ngân hàng huy động
được nguồn vốn để duy trì hoạt động khác của mình.
- Hoạt động cấp tín dụng: Theo khoản 14 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2024
thì cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc
cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ
cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín
dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Đây là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, việc cấp tín dụng cho một tổ chức hay
cá nhân được phép sử dụng được hiểu như một giao kết qua lại giữa các bên khách
hàng và ngân hàng đó.
- Hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: Theo khoản 14 Điều 4
Luật các Tổ chức tín dụng 2024 thì cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc
3

cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm
chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng
thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng.
- Hoạt động cho vay: Theo khoản 7 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2024 thì
cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao
cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian
nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho
vay.
Như vậy, có thể hiểu “lãi suất trong hoạt động ngân hàng là tỷ lệ phần trăm
giữa tiền vốn gửi vào hoặc cho vay gắn liền với các hoạt động Ngân hàng với mức lãi
trong một thời kỳ nhất định do Ngân hàng quy định hoặc thỏa thuận phù hợp với hệ
thống Ngân hàng”.
1.1.3. Đặc điểm của lãi suất trong hoạt động ngân hàng
Thứ nhất, lãi suất là giá cả của quyền sử dụng tiền. Không giống như giá cả hàng
hóa, lãi suất được biết đến là giá cả quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một đơn
vị thời gian. Lãi suất được hình thành trên cơ sở giá trị sử dụng chứ không trên cơ sở
giá trị.
Thứ hai, lãi suất là chi phí bỏ ra cho việc vay tiền. Khi cần một khoản tiền lớn để
thực hiện các kế hoạch cá nhân như mua nhà, mua xe, hay đầu tư vào một dự án mới,
nhiều người thường chọn cách vay từ ngân hàng. Tuy nhiên, một điều quan trọng
không thể bỏ qua khi vay vốn chính là chi phí phải trả cho khoản vay này. Chi phí này
không chỉ đơn giản là số tiền vay, mà còn bao gồm lãi suất - một yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của chủ thể vay. Trong thời hạn cho vay, Ngân hàng
có thể xảy ra các vấn đề như chủ thể vay không trả được phần lãi phát sinh hay thậm
chí không trả được phần vốn vay, do đó việc yêu cầu một khoản lợi nhuận nhất định
từ khách hàng là điều hết sức cần thiết. Ngân hàng sẽ dùng phần lợi nhuận đó để chi
trả cho các khoản phí duy trì hoạt động, hoặc trong trường hợp có rủi ro thì phải chi
trả cho các phần bù rủi ro hay phần bù lạm phát. Tùy thuộc vào điều kiện cho vay (uy
tín của người vay, thời gian vay, khả năng trả nợ đúng hạn,...) mà mức lãi suất yêu cầu
cho khoản vay đó sẽ khác nhau.
Thứ ba, lãi suất được thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm. Bởi lẽ lãi suất không được
biểu thị bằng số tuyệt đối mà biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm và cũng được coi là tỷ lệ
sinh lời mà chủ sở hữu nhận được từ khoản vay.
Thứ tư, lãi suất không tồn tại một cách độc lập. Lãi suất luôn gắn liền với thời
gian vay và giá trị khoản vay. Bản chất của lãi suất là một tỷ lệ nhất định mà bên vay
4

phải trả cho bên cho vay dựa vào số tiền vay gốc trong một thời hạn nhất định. Do đó,
sẽ không thể có lãi suất nếu không tồn tại số tiền gốc và thời gian vay trong hợp đồng.
Thứ năm, lãi suất được xác định dựa trên quan hệ cung cầu. Sự biến động của
cung và cầu vốn vay ảnh hưởng trực tiếp đến mức lãi suất. Khi nhu cầu vay tăng cao
nhưng nguồn cung vốn hạn chế, lãi suất có xu hướng tăng lên. Ngược lại, nếu nguồn
vốn trên thị trường dư thừa trong khi nhu cầu vay ít, lãi suất sẽ giảm xuống.
1.2. Các loại lãi suất trong hoạt động ngân hàng
Tuỳ thuộc vào cách lựa chọn tiêu chí và mục tiêu phân loại, lãi suất có thể được
chia thành nhiều loại tương ứng khác nhau. Dưới đây là một số loại lãi suất phổ biến
trong hoạt động Ngân hàng.
1.2.1. Căn cứ vào tính chất của khoản vay
- Lãi suất tiền gửi, là loại lãi suất mà các ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng trả
cho khách hàng khi gửi tiền, bao gồm tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán. Mức lãi
phụ thuộc vào loại tiền, số tiền, kỳ hạn gửi của khách hàng.
Ví dụ: A gửi 100 triệu đồng vào tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng Sacombank
với kỳ hạn 12 tháng và lãi suất là 6,0%/năm. Sau khi kỳ hạn gửi kết thúc, A sẽ nhận
được thêm số tiền lãi bằng 6% của số tiền đã gửi.
- Lãi suất cơ bản, là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố và chỉ áp dụng với
đồng Việt Nam. Từ mức lãi suất cơ bản, các ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín
dụng có thể quy định mức lãi suất phù hợp cho các dịch vụ tín dụng khác nhau, phù
hợp với tình hình kinh doanh. Theo Điều 1 Quyết định số 2868/QĐ-NHNN năm 2010,
mức lãi suất cơ bản đang được áp dụng tại Việt Nam là 9,0%/năm.
- Lãi suất tín dụng (hay lãi suất cho vay), là mức lãi suất mà ngân hàng hoặc tổ
chức tín dụng áp dụng cho các khoản vay của khách hàng. Nó được áp dụng để tính
lãi mà khách hàng phải trả cho Ngân hàng. Mức lãi suất này phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như loại hình vay, sự thống nhất giữa bên cho vay và bên vay,...
- Lãi suất chiết khấu, là lãi suất do Ngân hàng nhà nước ấn định, tính trên khoản
tiền mà các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng vay vì có nhu cầu sử dụng tiền
mặt trong một thời gian ngắn, cho các trường hợp cần thiết, ví dụ như khi tỷ lệ tiền
mặt dự trữ của Ngân hàng không thể bảo đảm an toàn tín dụng trong trường hợp
khách hàng rút tiền đồng loạt.
- Lãi suất tái chiết khấu, là lãi suất tính trên số tiền ghi trên thương phiếu hoặc
giấy tờ có giá trị trước khi đến hạn thanh toán. Lãi suất tái chiết khấu là giá cả của
dịch vụ mua, bán thương phiếu, giấy tờ có giá, ví dụ: trái phiếu…
5

