BÁO CÁO MÔN HỌC TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Cuộc khủng khoảng nợ ở
Argentina
Nm 12:
Nguyễn Hải Lâm – 40563154
Quang Sơn – 40561548
Văn Thị Hạnh Nguyên- 70360226
Diễn biến toàn cảnh cuộc khủng hong nợ Argentina
Liên tc trong 10 năm của thập niên 1990, Argentina đã thực hiện các
chương trìnhi cấu trúc nền kinh tế rất mạnh mẽ, nổi bật nhất là chương
trình tư hữu hóa hàng loạt xí nghiệp quốc doanh. Cũng ging như các nền
kinh tế đang chuyển đổi hiện nay, việc tư hữu hóa ào ạt, nhất là việc bán
chúng cho các ông chủ nước ngi, bước đầu đã đem lại một lượng dự trữ
ngoi tệ klớn cho quốc gia này.
Nguồn thu từ chương trình tư hữu hóa cùng với việc vay nợ ớc ngoài đã
giúp Chính phủ Argentina ổn định giá trị của đồng nội tệ. Tất cả điều này đã
làm nền tảng cho các tăng trưởng ngoạn mục sau đó. Thêm vào đó, những
thành tựu kinh tế và sự ổn định trong giá trị đồng nội tệ đã dẫn tới một hệ
quđương nhiên, đó là dòng vốn quốc tế chảy ồ ạt vào Argentina.
Những yếu tố đó khiến Argentina được ngợi khen như là một điển hình của
sự thần kỳ mới và là một trong những “học trò xuất sắc” được IMF thừa
nhn trong các tình huống nghiên cứu.
Từ những năm 1999, Argentina đã bắt đầu gặp phải những mất cân đối trong
chi tiêu ngân sách. Do đã tư hữu hóa ào ạt các xí nghiệp quốc doanh trong
thi gian trước đó, chính phủ giờ đây đã không còn nguồn thu nào khác
ngoài thuế để bù đắp thâm hụt, đó là chưa kể vấn đề còn bị trầm trọng thêm
bởi chính phủ liên tc phải trả nợ cho các hóa đơn vay nnước ngoài trước
đây.Đối với các nhà tài trợ quốc tế, khi đang còn trong giai đoạn mặn nồng
thì điều gì cũng là tốt đẹp, thậm chí ngợi khen hết lời, nhưng khi những bất
ổn xảy ra thì sự hủy hoại sẽ đến rất nhanh. Bằng chứng là ngay sau khi Quốc
hi Argentina họp khẩn cấp để triển khai cái gọi là giảm thâm hụt ngân
sách xuống bằng không” (zero deficit plan) vào ngày 11-7-2001, các nhà tài
trợ quốc tế đã phản ánh rất hài hước về kế hoạch này. Moody"s và S&P đã
hthấp điểm xếp hạng tín nhiệm quốc gia Argentina ngay sau khi quốc hội
thông qua kế hoạch hoang tưởng này, các chỉ số niềm tin liên tục sút giảm
như một tín hiệu phản ứng trước vụ việc nước đến chân mới nhảy của quốc
hi nước này. Tm vào đó, IMF lại ngưng không hỗ trợ tín dụng cho
Argentina, khủng hoảng kinh tế toàn diện là điều tất yếu phi xảy đến sau đó
Hệ thống ngân hàng Argentina sụp đổ vào vào tháng 12/2001, nhấn chìm
mt trong những trung tâm kinh tế ng động và thành công nhất tại khu vực
Nam Mỹ. Gần như chỉ sau một đêm, đất nước này rơi vào cảnh đói nghèo.
Tình cảnh sau đó hết sức hỗn độn. Chỉ trong vòng 1 tuần, có tới 5 vị tổng
thống lên và xuống chức. Người dân, công nhân, viên chức xuống đường
biu tình. Chính quyền Argentina cho rằng thủ phạm là các chính sách
Quỹ Tin tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới áp dụng tại đây từ những m
1990. Kể từ đó đến nay, gii lãnh đạo ớcy đi theo một đường lối tài
chính độc lập và đã phục hồi đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn một chng đường
xa để Argentina đạt được sức mnh như họ đã từng có.
Vào thời gian khủng hoảng của Argentina 2001 dẫn đến hàng loạt sự kiện
hong loạn trong đất nước argentina:
Thất nghiệp leo đến mức kỷ lục. Bộ trưởng Tài chính, Bộ trưởng Kinh tế nối
nhau từ chức. Tổng thống ban bố tình trạng khẩn cấp rồi ra đi... Đó là những
din biến cuối cùng, chấm dứt thời kỳ hai năm ông de la Rua lãnh đạo
Argentina, hai năm đất nước hỗn loạn và suy thoái.
10/12/1999: Fernando de la Rua nhm chức tổng thống, hứa hẹn sẽ làm kinh
tế trở lại phồn thịnh sau 10 năm dưới thời Carlos Menem.
16/3/2001: Bộ trưởng Kinh tế Lopez Murphy đưa ra chương trình kinh tế
thắt ng buộc bụng 4,45 tỷ USD trong 2 năm, giảm mạnh chi phí cho giáo
dục.
19/3/2001: Lopez Murphy từ chức sau khi 9 quan chức chính phủ bỏ chức
vụ để phản đối chính sách của ông.
20/3/2001: Domingo Cavallo, nguyên bộ trưởng kinh tế dưới thời Menem,
được mi vào chính phủ với những quyền lực đặc biệt để tái cơ cấu nền kinh
tế.
3/6/2001: Argentina loan báo đã giải quyết xong 29,5 tỷ USD nợ, hoãn trả
7,8 tỷ lãi tới năm 2002.
3/7/2001: Thị trường cổ phiếu sụt giảm tới mức thấp nhất trong 28 tháng sau
khi có tin đồn ông de la Rua sẽ từ chức.
11 - 26/7/2001: 3 tổ chức đánh giá hấp lực đầu tư quốc tế đưa Argentina
xung vị trí thấp hơn, khiến uy tín của nước này giảm mnh.
30/7/2001: Dự thảo kế hoạch tht lưng buộc bụng của chính phủ được thông
qua, bao gồm những biện pháp đảm bảo cho ngân sách không tiếp tục thâm
hụt, giảm 13% lương cho nhân viên chính phủ và trợ cấp u trí.
21/8/2001: Quỹ Tin tệ Quốc tế đề xuất cấp thêm 8 tỷ USD, bổ sung vào
khon vay dự phòng 14 tỷ của Argentina.
1/11/2001: Ông Cavallo thông báo các biện pháp kinh tế mới.
30/11/2001: Ni Argentina đổ xô tới ngân hàng: 1,3 tỷ USD được rút khỏi
các tài khoản cá nhân.
1/12/2001: Ông Cavallo quyết định hạn chế số tiền mà ng chúng được rút
ra, nhằm cứu nguy cho hệ thống ngân hàng.
5/12/2001: IMF thông báo sẽ không giải ngân khoản vin trợ 1,3 tỷ USD
cho Argentina.
6/12/2001: Ông Cavallo chỉ thị chuyển quỹ lương u một phần thành trái
phiếu kho bạc và phần kia dùng để hỗ trợ các doanh nghiệp trả nợ.
13/12/2001: Thất nghiệp leo đến mức 18,3%, cao nhất kể từ giữa năm 1998.
14/12/2001: Bộ trưởng Tài chính Daniel Marx từ chức nhưng đồng ý làm cố
vn trong các cuộc đàm phán tái cơ cấu nợ.
17/12/2001: Chính phủ đưa ra chương trình ngân sách 2002 bao gồm khoản
cắt giảm chi tiêu gần 20%.
18/12/2001: IMF nói Argentina có thể hoãn trả khoản nợ 940 triu USD
(theo hạn phải hoàn vào 1/2002).
19/12/2001: Argentina ban bố tình trạng khẩn cấp để đối phó với các cuộc
biu tình phản đối chính sách kinh tế của ông Cavallo. Hạ vin bãi bỏ các
quyn đặc biệt ông Cavallo được hưởng trước đó.
20/12/2001: Tổng thống de la Rua và Bộ trưởng Kinh tế Cavallo từ chức vì
biu tình đã biến thành bạo loạn khiến ít nhất 20 người thiệt mạng.
Ngun nhân cuộc khủng hoảng nợ ở Argentina 2001:
Cuộc khủng hoảng nợ của Argentina nói lên những bất ổn trong hệ thống
chính tr (tham nhũng, sự phân chia quyền lực giữa các địa phương trong
việc điều tiết các nguồn thu thuế...). Có thể nói một hthống chính trị liên
quan đến một chính phủ tham nhũng lãng phí, đã m thị trường mất niềm
tin về khả năng trả nợ của quốc gia đối với những trái phiếu phát hành trước
đây, cuộc khủng hoảng nợ được đúc kết đơn giản như thế.
Cuộc khủng hoảng nợ của Argentina chính là bài học về sự ảo tưởng q
mức về những thành công trong tăng trưởng mà quên đi những vấn đề ni
bộ. Các vấn đề ni bộ mà từ kinh nghim của Argentina, chúng ta cần phải
chú ý giải quyết triệt để, đó là tình trạng tham nhũng, cổ phần hóa ào ạt và
thất thoát, bộ máy hành thu thuế yếu kém, vay nợ nước ngoài thiếu tính toán.
Nhưng vượt lên trên tất cả những điều này, nguyên nhân của mọi nguyên
nhân, chính là việc quốc gia thiếu cơ chế giám sát hữu hiệu các khoản vay
nnước ngoài, điều mà chúng ta đã thy ở phần trên về sự phản ứng đầy
khôi hài của các nhà tài trợ và người dân về việc quốc hội ớc này vào
cuộc quá chậm trễ để cứu vãn tình hình.
Có 3 nguyên ngân chính:
Hệ thống “Chuẩn tiền tệ” (currency board):
Cơ chế vận hành của “Chun tiền tệ”.i một cách ngắn gọn, chế độ tỷ giá
chun tiền tệ” quy định: cấm không cho phép ngân hàng trung ương phát
hành các khoản nợ - tiền có quyền lực cao (high-power money) - nếu như
không được bảo đảm hỗ trợ 100% bằng lượng dự trữ ngoại tệ tương đương.
Nói cho dễ hiểu, hệ thống này chỉ cho phép ngân hàng trung ương phát hành
thêm một ng tiền tương ứng với lượng ngoại tệ vừa mới bổ sung. Do đó,
giá trị đồng tin luôn được bảo đảm và đồng thời cũng giúp kiềm chế lạm
phát. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng hệ thống “chuẩn tiền tệ” (currency
board) khác với hệ thống “tỷ giá cố định” (fixed exchange rate system). Bởi
, tỷ giá cố địnhmặc dù cũng duy trì giá trị đồng tiền như “chuẩn tiền tệ”
nhưng li không có độ tin cậy cao, nói là “tỷ giá cố định” nhưng thật ra đồng
tin cũng có khả năng bị phá giá. Còn “chuẩn tiền tệ” thì không như vậy,
luôn giữ đúng tỷ giá trao đổi đã được ấn định trước đó. Do đó, “chuẩn tiền
tệ” luôn đạt được sự tin tưởng cao từ các nhà đầu tư.
Nhược điểm:
Đầu tiên là việc chính phủ không thể tự chủ trong chính sách tiền tệ. Đơn
gin là vì lãi suất của đồng nội tệ phải đúng bằng lãi suất của đồng ngoại tệ,
nếu không hoạt động arbitrage sẽ xảy ra. Do đó, chính phủ không thể giảm
lãi suất để kích thích đầu tư hoặc tăng lãi suất để kiềm hãm lạm phát.