Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389
Thành phần loài, sản lượng và đặc điểm sinh học một số loài cá nổi lớn đại dương trong các chuyến điều tra khảo sát năm 2008 tại vùng biển xa bờ miền Trung
Đoàn Bộ1,*, Trần Chu2, Lê Hồng Cầu2, Trần Liêm Khiết2, Phạm Quốc Huy2 1Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam 2Viện Nghiên cứu Hải Sản
Nhận ngày 25 tháng 11 năm 2009
Tóm tắt. Kết quả 2 chuyến điều tra khảo sát nghề cá và nguồn lợi cá nổi lớn đại dương trên các tàu câu vàng trong năm 2008 tại vùng biển xa bờ miền Trung cho thấy:
1) Thành phần các loài cá nổi lớn đại dương đã bắt gặp trong các mẻ câu tương đối đơn giản, gồm gồm 30 loài (trong đó có 5 loài thuộc họ cá thu ngừ) thuộc 22 giống, 13 họ. Không thấy có sự khác biệt đáng kể về số lượng loài bắt gặp tại cùng một khu vực và trong 2 mùa gió.
2) Sản lượng và năng suất khai thác trong các chuyến điều tra không cao, trong đó sản lượng họ cá thu ngừ chỉ chiếm từ 23-29% tổng sản lượng với CPUE trung bình dao động trong khoảng 0,7-1,5 kg/100 lưỡi câu.
3) Đã bắt gặp 6 loại thức ăn trong thành phần thức ăn của cá ngừ đại dương, chủ yếu gồm cá và mực. Có khoảng 50% cá thể bắt được có độ no dạ dày bậc 2. Quan hệ giữa chiều dài và trọng lượng của các cá thể khá chặt chẽ và không nằm ngoài quy luật tự nhiên với hệ số tương quan đạt trên 0,9. Từ khóa: Đặc điểm sinh học, Cá nổi lớn đại dương, Vùng biển xa bờ.
1. Mở đầu
việc vươn khơi khai thác xa bờ đã và đang được sự khuyến khích đầu tư của Nhà nước và đã trở thành các hoạt động phổ biến của ngư dân, nhất là ở các tỉnh Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa.
Cá ngừ đại dương thuộc nhóm cá nổi lớn, là đối tượng được quan tâm hàng đầu trong hoạt động khai thác hải sản xa bờ ở Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [1], hàng năm sản lượng khai cá ngừ đại dương ở Việt Nam đạt cỡ 10000 tấn, tương đương giá trị gần 1000 tỷ đồng. Hiện tại,
Hiển nhiên hoạt động khai thác xa bờ ngoài những đòi hỏi về trang thiết bị kỹ thuật và lực lượng lao động phù hợp còn rất cần sự đóng góp của khoa học nghề cá. Cho đến nay, mặc dù đã có những nghiên cứu nhất định về nghề cá xa bờ và các đối tượng khai thác của nó, song để có thể tiến tới xây dựng những dự báo ngư
_______ Tác giả liên hệ. ĐT: 84-4-35586898. E-mail: bodv@vnu.edu.vn
381
Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389
382
trường phục vụ khai thác hiệu quả thì những thông tin trong lĩnh vực này vẫn đang là vấn đề thời sự đòi hỏi phải tiếp tục được bổ sung.
Sản) được chuẩn bị đầy đủ để thực hiện các công việc chuyên môn trên biển và bảo quản mẫu.
Độ no dạ dày của cá được xác định theo thang 5 bậc của Nikolsky (1963) [2]. Cá được coi là no khi có độ no dạ dày từ bậc 3 trở lên. Đối với các cá thể có độ no dạ dày từ bậc 1, đã tiến hành thu mẫu dạ dày, ghi chép các thông tin cần thiết và bảo quản trong formaline 7- 10%. Mẫu dạ dày được xử lý bằng cách cân toàn bộ và cân riêng lượng thức ăn và phân tích thành phần thức ăn trên kính soi nổi.
Với mục đích cung cấp và cập nhật thông tin cho kho tư liệu hiện có, bài báo này giới thiệu một số kết quả mới nhất nghiên cứu đặc trưng sinh học một số loài cá nổi lớn đại dương, chủ yếu là 2 loài cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) và ngừ mắt to (Thunnus obesus) thuộc họ cá thu ngừ (Scombridae) ở vùng biển xa bờ miền Trung. Đây là một trong những nội dung nghiên cứu của đề tài cấp Nhà nước KC.09.14/06-10 Ứng dụng và hoàn thiện qui trình công nghệ dự báo ngư trường phục vụ khai thác hải sản xa bờ” thuộc Chương trình Khoa học công nghệ Biển KC.09/06-10.
2. Tài liệu và phương pháp
Độ chín muồi sinh dục của cá được xác định theo thang 6 bậc của Nikolsky (1963) [2]. Cá có độ chín muồi sinh dục ở giai đoạn IV trở lên được coi là thành thục. Đối với các cá thể (con cái) thành thục, đã tiến hành cân toàn bộ buồng trứng, sau đó lấy mẫu ở 3 vị trí khác nhau trên buồng trứng (phần đầu, phần giữa và phần cuối), mỗi vị trí lấy khoảng 1gam. Cân mẫu và tách rời trứng khỏi màng buồng trứng trong đĩa petri chứa nước. Đếm số lượng trứng trong mẫu bằng buồng đếm trên kính soi nổi. Trứng cá được chia theo đường kính thành hai loại, loại lớn (≥ 3mm) và loại nhỏ (< 3mm).
Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá được xác định theo phương pháp hồi quy lặp (Iterative Non-linear Regression) với phương trình dạng W=a.Lb, trong đó W là trọng lượng (kg) và L là chiều dài (cm) của cá, a là hằng số tỷ lệ, b là hệ số sinh trưởng [3].
Trong năm 2008, đề tài KC.09.14/06-10 đã triển khai 2 chuyến khảo sát (tháng 5,6 và tháng 11,12) đại diện cho 2 mùa gió trên các tàu câu vàng tại vùng biển xa bờ miền Trung với tổng số 33 lượt trạm cho mỗi chuyến (hình 1). Tại mỗi trạm, ngoài việc thực hiện khảo sát hải dương học, đã tiến hành thả một mẻ câu (khoảng 10-12 giờ) để thu thập số liệu liên quan về nguồn lợi và các đặc điểm sinh học, sinh thái một số đối tượng cá ngừ. Các dụng cụ cân, thước, dao kéo mổ, bao bì, chai lọ, formaline cố định mẫu... và các biểu bảng ghi chép hiện trường (theo quy cách của Viện Nghiên cứu Hải
Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389
383
Hình 1. Sơ đồ mạng trạm trong các chuyến khảo sát năm 2008.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm thành phần loài
thuộc họ cá thu ngừ, trong đó loài cá ngừ vây vàng có 2 cá thể (11,11%) và loài cá ngừ mắt to có 3 cá thể (16,67%) – bảng 1.
Có thể thấy tổng số loài bắt gặp được trong các chuyến khảo sát năm 2008 không nhiều, gồm 30 loài (trong đó có 5 loài thuộc họ cá thu ngừ) thuộc 22 giống, 13 họ, đồng thời cũng không có sự khác biệt đáng kể (không quá 12%) về số lượng loài bắt gặp tại cùng một khu vực (trạm khảo sát) trong 2 mùa gió. Trong khi đó, số liệu thống kê từ các đợt khảo sát xa bờ trước đây [1] cho thấy, đã bắt gặp 106 loài thuộc 72 giống, 44 họ và thành phần giống, loài có sự khác biệt khá rõ theo mùa vụ. Cụ thể, trong mùa gió tây nam đã bắt gặp 99 loài thuộc 66 giống, 41 họ, trong khi vào mùa gió đông bắc các giá trị tương ứng chỉ là 39 loài, 25 giống, 16 họ.
Trong chuyến khảo sát tháng 5, 6 năm 2008 đã bắt gặp 26 loài thuộc 20 giống, 12 họ, trong đó họ cá thu rắn (Gempylidae) có tần suất bắt gặp 84,85%, họ cá hố ma (Alepisauridae) 66,67%, họ cá đuối (Dasyatidae) 39,39% và họ cá thu ngừ (Scombridae) 39,39%. Trong số 4 loài thuộc họ cá thu ngừ bắt gặp được, loài cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) có 8 cá thể (24,24%) và loài cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) có 3 cá thể (9,09%). Các dẫn liệu tương tự thu được trong chuyến khảo sát tháng 11, 12 năm 2008 là: bắt gặp 15 loài thuộc 12 giống, 9 họ, trong đó họ cá thu rắn có tần suất bắt gặp 94,44%, họ cá hố ma 38,89%, họ cá vền (Bramidae) 38.89%, họ cá thu ngừ 38.90% và họ cá đuối 22.23%. Cũng chỉ bắt gặp 4 loài
Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389
384
Bảng 1. Thành phần loài và sản lượng khai thác trong các chuyến khảo sát năm 2008
Khảo sát tháng 5, 6/2008
Sản lượng (kg) Tần suất bắt gặp (%) Sản lượng (kg) Tần suất bắt gặp (%)
TT 1 Tên họ và loài bắt gặp Alepisauridae 1 Alepisaurus ferox 2 Alopiidae 2 Alopias superciliosus 3
Bramidae 3 Brama brama 4 Brama orcini 5 Brama sp 6 Taractichthys longipinnis 7 Taractichthys steindachneri 4
5 Caracanthidae 8 Prionace glauca Carcharhinidae
9 Carcharhinus brachyurus 10 Carcharias Tricuspidatus 6 Coryphaenidae 11 Coryphaena hippurus 7
8
Dasyatidae 12 Dasyatis bennetti 13 Dasyatis kuhlii 14 Dasyatis sinensis 15 Himantura fai Gempylidae 16 Gempylus serpens 17 Lepidocybium flavobrunneum 18 Promethichthys prometheus 19 Ruvettus pretiosus 20 Thyrsitoides marleyi 9
Lampridae 21 Lampris guttatus 22 Lampris sp Scombridae 10
23 Acanthocybium solandri 24 Katsuwonus pelamis 25 Thunnus alalunga 26 Thunnus albacares 27 Thunnus obesus 11
12 Sphyraenidae 28 Sphyraena jello Xiphiidae 29 Xiphias gladius 13 30 38,89 38,89 38,89 27,78 11,11 5,56 5,56 5,56 5,56 22,23 16,67 5,56 94,44 94,44 66,67 11,11 38,90 5,56 5,56 11,11 16,67 11,11 11,11 (Chưa xác định) (Cá phướn ?)* Cộng % so với sản lượng 14,78 14,78 7,68 7,68 3,66 0,39 0,06 0,11 1,56 1,54 4,30 4,30 0,23 0,23 0,15 0,15 3,88 0,63 0,64 0,21 2,40 27,21 23,61 1,80 0,10 0,06 1,64 1,92 1,92 29,50 1,38 0,17 17,05 10,90 0,65 0,65 6,05 6,05 100,00 66,67 66,67 3,03 3,03 30,30 3,03 3,03 6,06 6,06 12,12 3,03 3,03 6,06 6,06 6,06 6,06 39,39 9,09 6,06 3,03 21,21 84,85 66,67 9,09 3,03 3,03 3,03 3,03 3,03 39,39 3,03 3,03 24,24 9,09 3,03 3,03 18,18 18,18 Khảo sát tháng 11, 12/2008 % so với sản lượng 8,16 8,16 8,16 6,45 1,71 0,72 0,72 0,39 0,39 1,93 1,34 0,59 46,03 25,00 21,03 10,11 10,11 23,39 0,53 2,17 6,57 14,12 1,12 1,12 100,00 62,10 62,10 62,10 49,10 13,00 5,50 5,50 3,00 3,00 14,70 10,20 4,50 350,40 190,30 160,10 77,00 77,00 178,00 4,00 16,50 50,00 107,50 8,50 8,50 761,30 192,55 192,55 100,00 100,00 47,65 5,10 0,80 1,45 20,30 20,00 56,00 56,00 2,95 2,95 1,90 1,90 50,52 8,15 8,30 2,80 31,27 354,26 307,46 23,40 1,30 0,80 21,30 25,00 25,00 384,25 18,00 2,15 222,10 142,00 8,50 8,50 78,80 78,80 1302,38 * Chi chú: Tiêu bản lưu tại Viện Hải dương học, Nha Trang.
Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389
385
3.2. Sản lượng và năng suất khai thác
liệu tương tự cho chuyến khảo sát tháng 11, 12 năm 2008 bao gồm: tổng sản lượng 761,3 kg, trong đó cá ngừ vây vàng 50kg (6,57%), cá ngừ mắt to 107,5 kg (14,12%), cá ngừ vây lưng dài (Thunnus alalunga) 16,5 kg (2,17%) – bảng 1, hình 2. Trọng lượng trung bình cá thể của nhóm cá ngừ đại dương trong chuyến khảo sát này là 25,4 kg, lớn nhất 45,4 kg, nhỏ nhất 9,5 kg và chỉ có 5/18 trạm bắt được chúng.
Tổng sản lượng đánh bắt trong chuyến khảo sát tháng 5, 6 năm 2008 là 1302,38 kg, trong đó cá ngừ vây vàng 222,10 kg chiếm 17,05%, cá ngừ mắt to 142 kg chiếm 10,90%. Trọng lượng trung bình cá thể ngừ đại dương là 30,34 kg, lớn nhất 68 kg, nhỏ nhất 3,5 kg. Trong 33 trạm ở chuyến khảo sát này chỉ có 11 trạm bắt được cá ngừ đại dương, mỗi trạm 01 cá thể. Các dẫn
2063.7
Sản lượng (Kg)
2000
1526.1
1500
1302.4
938.3
1000
761.3
587.8
500
272.1
249
222.1
142
107
50
16.5
16.5
0
0
Tháng 5-6/2008
Tháng 11-12/2008
Tổng 2 chuyến
Ngừ mắt to Cá khác
Ngừ vây vàng Ngừ vây lưng dài Tổng
3.3. Đặc điểm dinh dưỡng, sinh sản và sinh trưởng
Với mỗi mẻ câu sử dụng từ 400 đến 450 lưỡi câu, có thể thấy năng suất khai thác (CPUE – kg/100 lưỡi câu) trong cả 2 chuyến khảo sát là tương đối thấp, trung bình đạt 8,77 ở vụ nam và 10,67 ở vụ bắc. Mẻ câu có CPUE cao nhất ghi nhận được trong vụ nam chỉ đạt 32,42 tại trạm số 1 và trong vụ bắc đạt 29,63 tại trạm số 30. Riêng nhóm cá ngừ đại dương là đối tượng chính của nghề câu cũng chỉ có CPUE trung bình đạt 1,5 trong vụ nam và 0,7 trong vụ bắc đối với cá ngừ vây vàng, tương ứng là 0,96 và 1,49 đối với cá ngừ mắt to. Trong khi đó CPUE trung bình của các nhóm cá khác đạt 6,32 ở vụ nam và 8,48 ở vụ bắc (bảng 2).
Kết quả phân tích mẫu dạ dày thu được trong cả 2 chuyến khảo sát đối với hai loài cá ngừ vây vàng và mắt to cho thấy, cá có độ no bậc 2 chiếm ưu thế (45%), tiếp theo là độ no bậc 1 (25%), bậc 3 (15%) và bậc 4 (15%). Trong các mẫu này đã bắt gặp 6 loại thức ăn khác nhau, trong đó cá và mực chiếm ưu thế về số lượng (60-80%), các loại khác có số lượng mỗi loại không nhiều - là những thức ăn không ưa thích hoặc bị bắt ngẫu nhiên. Có thể thấy thành phần thức ăn như trên là tương đối phong phú bởi cá ngừ đại dương là loài cá nổi lớn thuộc nhóm cá dữ, có tính chọn lọc thức ăn cao và di chuyển nhanh để bắt mồi.
Hình 2. Sản lượng đánh bắt cá ngừ trong hai chuyến điều tra năm 2008.
Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389
386
Kết quả phân tích còn cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về thành phần thức ăn giữa 2 loài cá ngừ vây vàng và mắt to và giữa 2 mùa vụ. Dựa vào kết quả phân tích đã đưa ra chỉ số tần xuất bắt gặp các loại thức ăn của cá ngừ như hình 3. Chỉ số càng lớn thể hiện tính lựa chọn thức ăn càng cao.
Nhìn chung sức chứa trứng tuyệt đối của cá ngừ vây vàng có xu hướng tăng theo trọng lượng cơ thể, dao động tương đối lớn từ 3,3 đến 18,7 triệu trứng, trung bình 12,4 triệu trứng. Trong các mẫu phân tích, trứng có kích thước lớn (≥ 3mm) dao động từ 0,7 đến 15 triệu trứng, trứng nhỏ 2,6 - 5,8 triệu trứng (hình 4). Do không thu được mẫu trứng cá ngừ mắt to nên không có ước tính sức chứa trứng của loài cá này.
Đa phần cá thể cá ngừ đại dương bắt gặp trong các chuyến khảo sát năm 2008 có độ chín của tuyến sinh dục ở giai đoạn III, IV và V.
Bảng 2. CPUE (kg/100 lưỡi câu) của một số đối tượng tại các trạm khảo sát.
Trạm số Cá khác Cá khác
Khảo sát tháng 5-6/2008 (33 trạm) Cá ngừ Cá ngừ mắt to vây vàng 9,33 11,56 15,11 8,44 4,00 8,00 7,67 6,00 4,18 2,40 4,22 0,96 1,50 23,09 8,74 0,33 15,40 2,80 14,44 5,36 4,63 0,00 0,67 4,78 6,39 7,31 11,29 3,51 0,18 0,80 2,67 4,31 2,67 3,31 1,10 14,98 0,62 24,33 3,67 1,16 7,40 0 6,17 14,93 6,66 4,82 6,32 CPUE Chung 32,42 8,74 0,33 15,40 2,80 14,44 16,91 4,63 0,00 15,78 4,78 6,39 7,31 11,29 3,51 0,18 0,80 2,67 12,76 6,67 3,31 1,10 22,98 0,62 24,33 11,33 7,16 11,58 2,40 6,17 14,93 6,66 9,04 8,77 Khảo sát tháng 11-12/2008 (18 trạm) Cá ngừ vây vàng 10,13 2,38 0,7 Cá ngừ mắt to 9,25 6,28 11,35 1,49 5,89 11,83 10,70 11,88 15,40 6,85 2,55 1,75 4,13 10,28 9,15 4,00 15,75 8,80 19,5 6,30 0,75 7,23 8,48 CPUE Chung 5,89 11,83 10,70 11,88 15,40 6,85 11,80 1,75 4,13 10,28 9,15 4,00 22,03 20,15 29,63 6,30 3,13 7,23 10,67 1 2 3 4 5 6 8 9 10 11 12 13 15 16 17 18 19 20 22 23 24 25 26 27 29 30 31 32 33 34 36 37 38 T.B.
Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389
387
Thức ăn khác 25%
Hetero carpus sp. 20%
Nhuyễn thể 5%
Cá 15%
M ực 20%
P o lychaeta 15%
16
Triệu trứng
Trứng loại nhỏ
14
Trứng loại lớn
12
10
8
6
4
2
0
Mẫu 1
Mẫu 2
Mẫu 3
Hình 3. Giá trị trung bình tần số xuất hiện thức ăn trong dạ dày cá ngừ.
được tỷ lệ giữa các giá trị tương ứng có trong bảng 3 đối với 2 loài cá và trong 2 mùa không có sự khác biệt quá nhiều (trừ tỷ lệ của các giá trị cực tiểu). Điều này cho thấy không có biểu hiện khác biệt rõ nét về vai trò của habitat và tác động của nó đến lứa tuổi của hai loài này [4].
Chiều dài và trọng lượng các cá thể cá ngừ vây vàng và mắt to bắt gặp trong các chuyến khảo sát có sự khác nhau đáng kể. Giữa chiều dài cực đại và cực tiểu (tính đến chẽ vây đuôi) của từng đối tượng mặc dù khác nhau không nhiều (từ 1,1 đến 2,7 lần), song trọng lượng cực đại và cực tiểu của chúng lại hơn kém nhau từ 1,8 đến 14,8 lần (bảng 3). Tuy nhiên có thể thấy
Hình 4. Sức chứa trứng tuyệt đối theo kích thước trứng của loài cá ngừ vây vàng.
Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389
388
Bảng 3. Giá trị thống kê chiều dài và trọng lượng cá ngừ vây vàng và mắt to trong 2 chuyến khảo sát
Chiều dài (cm) Trọng lượng (kg)
Tỷ lệ Max/Min Tỷ lệ Max/Min Tên loài Max Trung bình Trung bình Max Min
52 68 1,31 24,7 47,3 1,92 3,5 36 10,29 106,7 136 1,27 145 161 1,11 2,74 1,34 - 14,86 1,89 -
Đã bắt gặp 6 loại thức ăn trong thành phần thức ăn của cá ngừ đại dương, chủ yếu gồm cá và mực. Có khoảng 50% cá thể bắt được có độ no dạ dày ở bậc 2.
Quan hệ giữa chiều dài và trọng lượng của các cá thể khá chặt chẽ và không nằm ngoài quy luật tự nhiên với hệ số tương quan khá cao (R2>0,9).
Với hầu hết các loài cá, giữa chiều dài và trọng lượng luôn có mối quan hệ chặt chẽ. Điều này đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến [3]. Trong nghiên cứu này, mặc dù số lượng mẫu không nhiều, song mối quan hệ nêu trên cũng không nằm ngoài quy luật vốn có với hằng số tỷ lệ a=0,00009, hệ số sinh trưởng b=2,6087, được thể hiện trên hình 5 với hệ số tương quan khá cao (R2>0,9).
40,5 45,4 1,12 82,8 128 1,55 Min Trong chuyến khảo sát tháng 5, 6 năm 2008 Cá ngừ vây vàng (1) 53 120 Cá ngừ mắt to (2) Tỷ lệ (2)/(1) 2,26 Trong chuyến khảo sát tháng 11, 12 năm 2008 65 Cá ngừ vây vàng (3) 120 Cá ngừ mắt to (4) 1,85 Tỷ lệ (4)/(3) 107 134 1,25 25.0 35,8 1,43 9,5 25 2,63 1,65 1,12 - 4,26 1,82 -
Cá Ngừ vây vàng (Thunnus albacares) - n = 9
W (kg)
60
50
W = 9E-05 L2.6087 R2 = 0,97
4. Kết luận
40
30
20
10
0
0
50
100
150
200 LT (cm)
Thành phần loài cá nổi lớn đại dương trong cả 2 chuyến khảo sát năm 2008 khá đơn giản, gồm 30 loài (trong đó có 5 loài thuộc họ cá thu ngừ) thuộc 22 giống, 13 họ, đồng thời cũng không có sự khác biệt đáng kể về số lượng loài bắt gặp tại cùng một khu vực và trong 2 mùa gió.
Hình 5. Tương quan giữa chiều dài toàn thân và trọng lượng của cá ngừ vây vàng.
Tài liệu tham khảo
[1] Đinh Văn Ưu và nnk, Xây dựng mô hình dự báo cá khai thác và các cấu trúc hải dương có liên quan phục vụ đánh bắt xa bờ ở vùng biển Việt Nam, Tuyển tập nghiên cứu nghề cá biển, T. IV, Nxb Nông nghiệp (2006), 55.
Sản lượng và năng suất khai thác trong các chuyến khảo sát nêu trên không cao, trong đó sản lượng họ cá thu ngừ chỉ chiếm từ 23-29% tổng sản lượng với CPUE trung bình dao động trong khoảng 0,7-1,5 kg/100 lưỡi câu. Trong tổng số 51 mẻ câu đã thực hiện trong cả 2 chuyến, chỉ có 4 mẻ câu có CPUE của họ cá thu ngừ đạt trên 10 kg/100 lưỡi câu.
Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389
389
Ninh Thuận, Luận án Tiến sỹ sinh học, ĐHTH Hà Nội, 1996.
[2] G.V. Nikolsy, The ecology of fishes (Translation of “Ekogiya ryb”), Academic Press, London and New York, 1963.
[3] Nguyễn Xuân Huấn, Đặc điểm sinh trưởng, biến động trữ lượng và dự báo khả năng khai thác một số loài cá kinh tế ở vùng biển Bình Thuận-
[4] Đinh Văn Ưu, Đoàn Bộ, Hà Thanh Hương, Tương quan biến động điều kiện môi trường và ngư trường nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển khơi nam Việt Nam, Tạp chí khoa học ĐHQG HN, tXXI, No3AP (2005) 108.
Species composition, yield and biological characteristics of some species of ocean large pelagic fish in surveys at offshore area of Vietnam Centre in 2008
Doan Bo1, Tran Chu2, Le Hong Cau2, Tran Liem Khiet2, Pham Quoc Huy2 1Faculty of Hydro-Meteorology & Oceanography, College of Science, VNU 334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam 2Research Institute for Marine Fisheries
In 2008, we were performed two surveys by longline at offshore area of Vietnam centre and have
some results:
1. Species composition of ocean large pelagic fish is very simply, include in 30 species (in which there are 5 species in the Scomberidae family), 22 genus and 13 families. It is no relatively differed about species composition in the two season.
2. Scomberidae family was about 23-29% of total catch and mean CPUE was about 0,7-1,5kg/100
hooks.
3. Food composition in the stomach of Yellow fin tuna and Big eye tuna consists of 6 kinds, but primarily was fish and squid. In that, about 50% individual catched were full stomach at 2 level. Relationship between length and weight of Yellow fin tuna and Big eye tuna is closely related, with R2>0,9.
Keywords: Biological characteristics, Ocean large pelagic fish, Offshore area.

