
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
702
BIỂU HIỆN CÁC KHÁNG NGUYÊN DÒNG TUỶ Ở BỆNH NHÂN
ĐA U TUỶ XƯƠNG MỚI ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN
TẠI TRUNG TÂM HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU, BỆNH VIỆN BẠCH MAI
Đỗ Thị Vinh An1, Lê Lan Anh1,2, Nguyễn Tuấn Tùng1
TÓM TẮT85
Giới thiệu: Chúng tôi đã đánh giá mối liên
quan giữa biểu hiện của kháng nguyên dòng tủy
trên tế bào plasmo và tiên lượng bệnh nhân. Đối
tượng và phương pháp: Trạng thái biểu hiện
của CD13, CD19, CD20, CD33, CD38, CD200,
CD27, CD56, CD11c và CD117 đã được phân
tích trên tế bào plasmo từ 58 bệnh nhân mới
được chẩn đoán, sau đó bệnh nhân được điều trị
hoá chất, đánh giá kết quả điều trị sau 8 đợt điều
trị. Kết quả: Độ tuổi trung bình của nhóm
nghiên cứu là 61,47 (thấp nhất 33 tuổi, cao nhất
77 tuổi). Tỷ lệ nam giới cao hơn nữ giới
(53,44%). Các đặc điểm lâm sàng và thông số xét
nghiệm được phân tích như sau: lượng huyết sắc
tố, số lượng tiểu cầu, mô bệnh học tủy xương và
các đặc điểm di truyền tế bào. CD13+ và CD33+
được phát hiện lần lượt ở 10,3% và 25,86%.
Bệnh nhân đa u tuỷ xương CD33+ có lượng
huyết sắc tố trung bình thấp (p=0,021) và số
lượng tiểu cầu giảm (p=0,018) hơn đáng kể so
với bệnh nhân CD33−. Nhóm bệnh nhân có
CD33+ có tỷ lệ lui bệnh thấp hơn so với các
nhóm kháng nguyên khác đồng biểu hiện trên các
tế bào plasmo. Bệnh nhân có biểu hiện CD13 có
1Bệnh viện Bạch Mai
2Trường Đại học Y Hà Nội
Chịu trách nhiệm chính: Đỗ Thị Vinh An
SĐT: 0903451615
Email: vinhanbm@gmail.com
Ngày nhận bài: 30/04/2025
Ngày phản biện khoa học: 15/06/2025
Ngày duyệt bài: 30/07/2025
xu hướng khu trú plasmo thành nhiều đám lớn
trong các khoang sinh máu trên mô bệnh học tuỷ
xương. Kết luận: Nghiên cứu này cho thấy biểu
hiện CD13 và CD33 có liên quan đến tiên lượng
kém ở những bệnh nhân mắc đa u tuỷ xương, đề
nghị phân tích thêm các dấu hiệu này trong chẩn
đoán đa u tuỷ.
Từ khoá: đa u tuỷ xương, tiên lượng, kháng
nguyên.
SUMMARY
EXPRESSION OF MYELOID ANTIGEN
IN PATIENTS WITH NEWLY
DIAGNOSED MULTIPLE MYELOMA
AT THE CENTER OF HEMATOLOGY -
BLOOD TRANSFUSION, BACH MAI
HOSPITAL
Background: We evaluated the association
between myeloid antigen’s expression on plasma
cells and patient prognosis. Populations and
Methods: The expression status of CD13, CD19,
CD20, CD33, CD38, CD200, CD27, CD56,
CD11c, and CD117 was analyzed on plasma
cells from 58 newly diagnosed patients who
subsequently received chemotherapy, and the
treatment outcomes were evaluated after 8
treatment cycles. Results: The mean age of the
study group was 61.47 years (minimum 33 years,
maximum 77 years). The proportion of male was
higher than that of female (53.44%). The clinical
characteristics and laboratory parameters
analyzed were as follows: hemoglobin level,
platelet count, bone marrow histopathology, and
cytogenetic characteristics. CD13+ and CD33+

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
703
were detected in 10.3% and 25.86%,
respectively. CD33+ multiple myeloma patients
had significantly lower mean hemoglobin level
(p=0.021) and platelet count (p=0.018) than
CD33− patients. The CD33+ group of patients
had a lower remission rate than other antigen
groups co-expressed on plasma cells. Patients
with CD13 expression tended to localize plasma
cells in large clusters in hematopoietic
compartments on bone marrow histopathology.
Keywords: multiple myeloma, prognosis,
antigen.
I. TỔNG QUAN
Phân tích tế bào dòng chảy (flow
cytometry - FCM) được sử dụng rộng rãi để
chẩn đoán và theo dõi các rối loạn về huyết
học, chẳng hạn như bệnh bạch cầu cấp tính
hoặc u lympho [1]. Phân tích tế bào dòng
chảy các tế bào plasmo ở những bệnh nhân
được chẩn đoán mắc bệnh đa u tủy xương
(ĐUTX) có thể phân biệt các quần thể tế bào
plasmo ác tính hay plasmo bình thường trong
tuỷ xương và có thể được sử dụng để xác
định bệnh tồn dư tối thiểu trong quá trình
điều trị.
Ở các tế bào plasmo có CD138+/CD38+,
biểu hiện bất thường của CD56 kèm theo
CD19- và CD27- cho thấy mối liên quan với
bệnh ác tính. Giảm biểu hiện của CD56 và
biểu hiện cao hơn của CD44 có liên quan đến
sự xâm lấn ngoài tủy của các tế bào plasmo
ác tính. Mặc dù nhiều nghiên cứu đã báo cáo
mối liên quan giữa biểu hiện của một số
kháng nguyên, bao gồm CD19, CD28, CD56
và CD117 với tiên lượng bệnh nhân, vẫn
chưa có sự đồng thuận nào về trạng thái biểu
hiện của kháng nguyên và sự liên quan lâm
sàng của chúng [2,3].
Trong nghiên cứu của Sahara (2006) và
Hyoeun Shim (2014) về biểu hiện CD33 và
CD13 cho thấy tác động tiên lượng tiềm tàng
và có liên quan đến tỷ lệ sống sót chung thấp
hơn (OS; p = 0,001 và p = 0,025) trong phân
tích Kaplan-Meier. Phân tích đa biến cho
thấy CD33 có khả năng tiên lượng độc lập về
tỷ lệ sống sót không tiến triển ngắn hơn
(PFS; p = 0,037) và OS (p = 0,001) với sự
điều chỉnh các yếu tố tiên lượng lâm sàng
[4,5]. Ở đây, chúng tôi tìm hiểu mối liên
quan giữa biểu hiện của các kháng nguyên
dòng tuỷ CD13, CD33 trên tế bào plasmo và
tiên lượng của bệnh nhân được chẩn đoán
mắc ĐUTX.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 58 bệnh nhân mới được chẩn
đoán mới đa u tuỷ xương tại Trung tâm
Huyết học - Truyền máu, bệnh viện Bạch
Mai từ tháng 01 năm 2023 đến tháng 12 năm
2024.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Các mẫu hút dịch tủy xương được lấy từ
bệnh nhân mới được chẩn đoán nghĩ tới đa u
tuỷ xương với các biểu hiện gồm đau xương,
chụp X-quang xương có khuyết xương, canxi
máu tăng, LDH tăng…
Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang.
Phân tích tế bào dòng chảy được thực
hiện trong điều kiện tế bào plasmo trên 10%
trong các mẫu dịch tuỷ xương, ở các bệnh
nhân ĐUTX mới. Các mẫu dịch tuỷ xương bị
ly giải hồng cầu, sau đó được nhuộm bằng
các tổ hợp kháng thể sau (FITC/PE/ECD/
Pc7/ PC. 5.5/APC/ APC750):
Tube 1. CD38/CD19/CD138/CD34/ CD45,
Tube 2. CD20/CD33/CD13/CD138/ CD45,
Tube 3. CD38/CD27/CD11c/CD45,
Tube 4. CD117/CD56/CD38/CD200/CD81/
CD45,
Tube 5. cyto-Kappa/cyto-Lambda/

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
704
CD138/CD45.
Để đánh giá biểu hiện kháng nguyên, các
kháng nguyên được nhuộm và ủ tối, sau đó
rửa bằng dung dịch PBS. Phân tán bên (SSC)
và biểu hiện mức cao của CD38 được sử
dụng để gating quần thể tế bào plasma. Độ
dương tính với biểu hiện kháng nguyên được
xác định khi dương tính >20% tế bào, các
mẫu được phân tích trên máy Naviox Ex-
hãng Becman Coulter, Mỹ. Đánh giá tồn dư
tối thiểu (MRD) cũng được sử dụng panel
trên, phân tích trên số lượng tế bào tối đa
3x106 tế bào.
Các đặc điểm của bệnh nhân được đánh
giá hồi cứu, bao gồm các thông số xét
nghiệm bao gồm lượng huyết sắc tố, số
lượng tiểu cầu, đặc điểm mô bệnh học trên
sinh thiết tuỷ xương. Di truyền tế bào được
đánh giá bằng kĩ thuật FISH bao gồm
IGH/FGFR t (4;14) và trisomy 1q (1q21).
Bệnh nhân được điều trị hoá chất phác đồ
VRD hoặc VTD, sau 8 đợt điều trị được
đánh giá tồn dư tối thiểu. Tỷ lệ sống không
tiến triển (PFS) được tính từ ngày chẩn đoán
đến ngày tái phát, tiến triển bệnh hoặc tử
vong do bất kỳ nguyên nhân nào. Tỷ lệ sống
chung (OS) được tính là thời gian từ ngày
chẩn đoán đến ngày tử vong do bất kỳ
nguyên nhân nào.
2.3. Phương pháp xử lí số liệu
Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm
SPSS 26.0. Sử dụng test thống kê Chi-bình
phương, giá trị p<0,05 được coi là có ý nghĩa
thống kê.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
58 bệnh nhân mắc ĐUTX đã được phân tích, với 31 nam (53,4%) và 27 nữ (46,6%).
Đặc điểm cụ thể được mô tả ở bảng sau:
Bảng 1. Các đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Đặc điểm
Giá trị trung bình (+/- SD)
Độ tuổi trung bình
61,47 (33-77)
Giới nam/nữ
31/27
Lượng Hb (g/l)
98,2 (68-124)
Số lượng tiểu cầu trung bình (G/l)
197,5 (47-412)
IGH/FGFR t(4;14)
22/58
Biểu hiện của CD56, một dấu hiệu liên
quan đến việc neo tế bào plasmo vào các cấu
trúc mô đệm, được phát hiện ở 55,2% trường
hợp (32/58). CD13 và CD33, các kháng
nguyên của dòng tủy, được phát hiện ở
10,3% (6/58) và 25,9% (15/58) trường hợp.
CD117, một thụ thể tyrosine kinase được
phát hiện ở 44,8% (26/58).

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
705
Bảng 2. Các biểu hiện kháng nguyên dòng tuỷ ở bệnh nhân nghiên cứu
Loại kháng nguyên – CD
Tỷ lệ % (số BN/tổng số)
CD13
10,3% (6/58)
CD33
25,9% (15/58)
CD56
55,2% (32/58)
CD117
44,8% (26/58)
Các kháng thể với các tổ hợp dương tính
khác nhau có mức độ biểu hiện khác nhau
của các tế bào plasmo trong tuỷ xương và
trong đánh giá lui bệnh bằng tồn dư tối thiểu
MRD. Nhóm bệnh nhân có các kháng thể
CD56+/CD117+/CD33+ biểu hiện đồng thời,
có tỷ lệ lui bệnh thấp hơn so với các nhóm
kháng nguyên khác đồng biểu hiện trên các
tế bào plasmo (bảng 3).
Bảng 3. Kiểu hình biểu hiện kháng nguyên dòng tuỷ đồng thời trên tế bào plasmo ở
bệnh nhân ĐUTX với tương quan tỷ lệ lui bệnh
Nhóm kháng nguyên
Số bệnh nhân
Tỷ lệ % MRD (min-max)
CD56+/CD117+/CD33+
8
2,262% (0,082-4,873)
CD56-/CD117+/CD33+
3
1,98% (0,097-3,251)
CD56+/CD117-/CD33+
4
0,936% (0,021-2,57)
CD56+/CD117+/CD33-
12
0,152% (0,009-0,436)
CD56+/CD117-/CD33-
8
0,061% (0,028-0,315)
CD56-/CD117+/CD33-
3
0,092% (0,017-1,023)
Nhóm các bệnh nhân ĐUTX có CD33+
có tình trạng thiếu máu và giảm tiểu cầu nặng
hơn nhóm bệnh nhân CD33- có ý nghĩa
thống kê với p=0,021 (bảng 4)
Bảng 4. Mối tương quan giữa nhóm bệnh nhân ĐUTX có CD33+ với thông số huyết
sắc tố, số lượng tiểu cầu trong máu ngoại vi
Biểu hiện kháng nguyên
Lượng huyết sắc tố trung bình
(g/l)
Số lượng tiểu cầu trung bình
(G/l)
CD138+/CD33+
87
112
CD138+/CD33-
103
225
Biểu hiện CD13 không cho thấy mối liên
quan với các đặc điểm lâm sàng ngoại trừ
kiểu khu trú thành nhiều đám lớn trong các
khoang sinh máu trên mô bệnh học tuỷ
xương, thậm chí lấn át gần hoàn toàn các tế
bào sinh máu khác (hình 1).

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
706
Hình 1. Các tế bào plasmo có biểu hiện kháng thể CD33+/CD13+/CD138+ lan tràn
trên tiêu bản sinh thiết tuỷ xương
Bảng 5. Mối tương quan giữa nhóm bệnh nhân ĐUTX có CD33+ / CD13+ và
CD33+/CD13-với tỷ lệ sống không tiến triển (PFS) và tỷ lệ sống chung (OS)
Biểu hiện kháng nguyên
Tỷ lệ sống không tiến triển (PFS)
(tháng)
Tỷ lệ sống chung (OS)
(tháng)
CD138+/CD33-/CD13-
24,5
28,6
CD138+/CD33+/CD13-
19,5
23,1
CD138+/CD33+/CD13+
18,5
21,2
Tỷ lệ sống không tiến triển (PFS) được
tính từ ngày chẩn đoán đến ngày tái phát,
tiến triển bệnh hoặc tử vong do bất kỳ
nguyên nhân nào. Tỷ lệ sống chung (OS)
được tính là thời gian từ ngày chẩn đoán đến
ngày tử vong do bất kỳ nguyên nhân nào.
Thời gian 26 tháng đã theo dõi bệnh nhân
trong nghiên cứu, có 02 bệnh nhân có
CD33+/CD13- và 01 bệnh nhân có
CD33+/CD13+ đã tử vong, 02 bệnh nhân
ghép tế bào gốc có tái phát sau ghép lần lượt
là 05 và 06 tháng.
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu này cho thấy kháng nguyên
dòng tủy CD13 và CD33 có liên quan đến
tiên lượng xấu ở bệnh nhân ĐUTX (bảng 5).
Một nghiên cứu trước đây của Sahara N
(2006) đã chỉ ra rằng tình trạng dương tính
với CD33 có liên quan đến tỷ lệ thiếu máu
hoặc giảm tiểu cầu cao hơn [4]. Nghiên cứu
của Hyoeun Shim cho thấy trong nghiên cứu
các bệnh nhân ĐUTX có CD33+ và CD13+
có thời gian sống sót thấp hơn so với nhóm
CD33- và CD13- [5]. Tuy nhiên, trong
nghiên cứu của chúng tôi, các tế bào plasmo
có CD33+ cao hơn tỷ lệ các tế bào có CD13+
như trong nghiên cứu của Hyoeun Shim,
nhưng tương đồng với kết quả nghiên cứu
của Moshe Levy và tương đồng với một số

