
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
--------------------------------
TRƯƠNG NHẬT HOA
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẦU
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 9310105
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2023
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. VŨ CƯƠNG
2. GS.TS. NGUYỄN KHẮC MINH
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận án
cấp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Vào hồi: giờ phút, ngày tháng năm 2023
Có thể tìm hiểu Luận án tại
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện trường Đại học Kinh tế Quốc dân

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo (GDĐT) nói chung và giáo dục bậc đại học nói riêng góp
phần quyết định đến việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, là yếu tố cốt
lõi của đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo phát triển bền
vững của các quốc gia trên thế giới. Đối với các quốc gia đang phát triển (như
Việt Nam), nguồn nhân lực chất lượng cao còn là yếu tố quyết định sự thành công
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là yếu tố quyết định sự học hỏi, ứng
dụng khoa học công nghệ thành công, đẩy mạnh phát triển và, chuyển đổi cơ cấu
nền kinh tế, mô hình tăng trưởng và phát huy lợi thế cạnh tranh đảm bảo phát
triển nhanh bắt kịp với xu thế chung của thế giới, hiệu quả và bền vững và cũng
là điều kiện cho hội nhập kinh tế quốc tế. Đã có nhiều nghiên cứu về giáo dục từ
quan điểm kinh tế như: như: Lucas (1988), Mankiw và cộng sự (1992), Barro &
Sala-i-Martin (1995) và Annabi & Lan (2011). Thêm vào đó cũng có những
nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo dục và năng suất như của Carnoy (1995),
Jung & Thorbecke (2003), Justino (2012), Baldacci, Clements, Gupta, & Cui
(2008). Bên cạnh đó, giáo dục còn có ảnh hưởng tích cực đến những khía cạnh
khác trong đời sống kinh tế xã hội (KTXH) như làm giảm sự bất bình đẳng về
thu nhập, tăng cường gắn kết xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Vì vậy, tất
cả các quốc gia đều coi trọng đầu tư vào giáo dục là đầu tư phát triển cho tương
lai. Có nhiều cách tiếp cận đã được sử dụng để nghiên cứu các nội dung này, các
cách tiếp cận từ các nghiên cứu về sự khác biệt giữa trình độ học vấn của cán bộ,
nhân viên và điều kiện cần thiết cho một công việc cụ thể (Alba-Ram rez, 1993;
hoặc Beneito và cộng sự, 2000).
Một trong những chỉ số quan trọng để phản ánh tiềm năng hình thành nguồn
nhân lực có chất lượng cho một quốc gia là tỉ lệ nhập học thô (GER), đo bằng tỉ
lệ giữa số sinh viên theo học một cấp học nhất định so với tổng dân số đúng độ
tuổi theo học cấp đó. Theo đó, GER của cấp học sau phổ thông (bao gồm cả giáo
dục đại học (GDĐH) và cao đẳng) của Việt Nam năm 2016 là 28%, cao hơn mức
trung bình của nhóm các nước có thu nhập trung bình (24%), nhưng thua xa các
nước trong khu vực (như Thái Lan 50%, Malaysia 42%). Theo Ngân hàng Thế
giới (2019) những quốc gia này đã đạt mức GER của Việt Nam từ 15-20 năm
2
trước (GER của Thái Lan năm 1998 đã là 27%, Malaysia năm 2016 là 29%).
Khát vọng phát triển đến 2035 của Việt Nam dựa trên 3 trụ cột: tăng trưởng
đi đôi với bền vững môi trường: công bằng và hoà nhập xã hội; nhà nước có năng
lực và trách nhiệm giải trình (Ngân hàng thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư
(KH&ĐT), 2016). Để thực hiện được các trụ cột đó, hướng tới một quốc gia thịnh
vượng và sáng tạo, phát triển nguồn lực chất lượng cao đã xác định được một ưu
tiên chiến lược, trong đó GDĐH phải đóng vai trò then chốt. Kinh nghiệm quốc
tế cho thấy, để trở thành một quốc gia đổi mới sáng tạo thì các nước đều phải có
chính sách tích cực để thu hút thêm người học ở cấp đại học và cao đẳng. Chẳng
hạn, ba nền kinh tế có chỉ số đổi mới sáng tạo cao nhất trong khu vực Đông Á
năm 2019 là Singapore (đứng thứ 8), Hàn Quốc (đứng thứ 11) và Hong Kong
(Trung Quốc) đứng thứ 13 đều có GER năm 2016 lần lượt là 84%, 94% và 72%.
Điều đó có nghĩa là muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của
khát vọng phát triển 2035, Việt Nam phải tăng nhanh GER của cấp học sau phổ
thông để đảm bảo cơ hội tiếp cận GDĐH của tất cả những ai có nhu cầu. Chiến
lược phát triển GDĐH của Việt Nam (đang dự thảo) đặt kỳ vọng đến năm 2035
có thể tăng GER của giáo dục sau phổ thông từ mức 30% như hiện nay lên 45%.
Nhận thức được tầm quan trọng của GDĐH trong việc nâng cao chất lượng
lực lượng lao động, trong những năm gần đây, chính phủ Việt Nam đã có nhiều
nỗ lực nhằm đổi mới toàn diện và căn bản lĩnh vực giáo dục ĐT mà trong đó đổi
mới GDĐH là một mũi nhọn quan trọng. Các trường đại học cần được được trao
quyền tự chủ lớn hơn về ba khía cạnh:
(i) Tự chủ về chuyên môn học thuật,
(ii) Tự chủ về bộ máy tổ chức và nhân sự; và
(iii) Tự chủ về tài chính. Bên cạnh những hiệu ứng tích cực của tự chủ đại học,
một hệ quả tất yếu là mặt bằng chung về học phí đại học sẽ tăng mạnh.
Về khía cạnh tài chính, Luật GDĐH 2018 có nhiều thay đổi mang tính đột
phá, trong đó ngân sách nhà nước (NSNN) sẽ chuyển dần từ việc “bao cấp” cho
các trường đại học công lập (ĐHCL) như hiện nay sang (cấp ngân sách cho bên
cung cấp dịch vụ) sang hỗ trợ bên cầu - tức là sinh viên cần trợ giúp tài chính để
có thể đi học đại học, đồng thời cho phép các trường được quyết định mức học
phí đối với các ngành nghề đào tạo có khả năng xã hội hoá dựa trên sự điều tiết

3
của quan hệ cung cầu trên thị trường. Tuy nhiên, các cơ chế hỗ trợ của chính phủ
sẽ được, những chính sách hỗ trợ người học như thành lập quỹ học bổng quốc
gia hoặc chương trình tín dụng dành riêng cho đối tượng sinh viên chưa được
định hình rõ nét. Sự chậm ban hành những cơ chế chính sách như vậy sẽ khiến
một bộ phận người học khó có khả năng tiếp cận được GDĐH, và mục tiêu về
nâng cao GER của GDĐH ở Việt Nam khó lòng thực hiện được.
Đứng từ phía cầu, hộ gia đình (HGĐ) tại Việt Nam, nhìn chung các HGĐ
đều nhận thức được về tầm quan trọng của giáo dục, vì thế sẵn sàng dành một
phần đáng kể thu nhập để chi trả cho việc học hành của con em. Một nghiên
cứu ở Việt Nam đã chỉ ra rằng HGĐ trong năm 2012 sẵn sàng chi 9% thu nhập
của hộ cho giáo dục nói chung (Vũ, 1992). Tỉ lệ này tương đương với xu hướng
chung trên thế giới (ví dụ, nghiên cứu của Glewwe và Patrinos (1999) cho thấy
một gia đình 3 con chi 10% tổng chi tiêu cho gia đình vào việc giáo dục con
cái). Con số này dự kiến còn tăng cao trong các năm tiếp theo. Sau khi con em
tốt nghiệp phổ thông trung học, các HGĐ đứng trước 2 lựa chọn: hoặc là tiếp
tục đầu tư cho con/em vào học tập ở đại học hoặc tham gia thị trường lao động
tìm kiếm thu nhập. Tuy nhiên, trong nhóm HGĐ lựa chọn cho con em đi làm,
nhiều HGĐ có nhu cầu tiếp tục cho con em theo học đại học nhưng không có
khả năng, mà nguyên nhân chính là khó khăn về tài chính và một số yếu tố
thuộc hoàn cảnh cụ thể của từng HGĐ. Trong xu hướng đẩy mạnh tự chủ của
các trường đại học và nhà nước giảm dần bao cấp học phí đại học, quy luật tất
yếu là học phí đại học sẽ tăng, khiến cho tỉ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông có
năng lực và có nhu cầu tiếp tục theo học đại học nhưng buộc phải dừng học do
không đủ khả năng tài chính sẽ có xu hướng tăng lên. Đây không những là một
sự lãng phí nguồn nhân lực trình độ cao cho xã hội trong tương lai, khi quá
trình phát triển của đất nước rất cần, mà nó còn gây ra sự bất bình đẳng trong
tiếp cận GDĐH - một trong những mục tiêu phát triển bền vững (SGDs) của
Liên Hiệp Quốc đến năm 2030 mà Việt Nam đã cam kết: Không để ai bị bỏ lại
phía sau.
Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết cần hiểu rõ cơ chế hình thành cầu và các
nhân tố tác động đến cầu về GDĐH của các HGĐ để có khuyến nghị thích đáng
cho các cấp quản lý cũng như các tổ chức xã hội nhằm xây dựng các kênh hỗ trợ
người học từ cả phía cầu và phía cung nhằm giúp cho Việt Nam có thể đủ nguồn
4
nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển xã hội trong tương lai.
Vì lẽ đó, tác giả lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu giáo dục
đại học của các hộ gia đình tại Việt Nam” làm chủ đề nghiên cứu của Luận án
tiến sĩ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu tổng quát
Xác định các loại cầu GDĐH của HGĐ và các nhân tố chính tác động đến
cầu GDĐH tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường dịch vụ GDĐH đang có
nhiều thay đổi mạnh mẽ cả về bên cung và bên cầu. Từ đó, Luận án đề xuất các
khuyến nghị chính sách đối với Nhà nước nhằm giảm thiểu rào cản tiếp cận
GDĐH của các HGĐ và thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao cho đất nước.
b. Mục tiêu cụ thể
(i) Xác định cầu về giáo GDĐH của HGĐ từ góc độ ra quyết định cầu GDĐH
của CH trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội khác nhau để lựa chọn giữa
HHTD và HHGD hay lựa chọn giữa GDDH hayTTLĐ hoặc lựa chọn giữa
các ĐHCL và ĐHTT.
(ii) Phân tích tác động của những nhân tố kinh tế-xã hội và môi trường đến
những loại cầu đó về GDĐH của HGĐ.
(iii) Xem xét những khuyến nghị chính sách được rút ra từ nghiên cứu để có thể
đưa ra cho chính phủ nhằm hỗ trợ, thúc đẩy cầu về GDĐH của HGĐ nhằm
đạt mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam.
3. Câu hỏi nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nói trên, Luận án tập trung trả lời các câu
hỏi nghiên cứu sau:
(i) Cần sử dụng mô hình nào phương pháp nào để chỉ ra sự giống nhau và
khác nhau giữa các quyết định chi tiêu cho hàng hoá thông thường và
hàng hoá giáo dục, giữa lựa chọn giữa GDDH và TTLĐ, giữa cầu vào
ĐHCL và ĐHTT của các HGĐ trong điều kiện kinh tế xã hội mà các
HGĐ đang sống?
(ii) Thực trạng của cầu GDĐH ở Việt Nam trong thời kỳ từ 2013 đến 2019

5
như thế nào cho thấy những nhân tố kinh tế - xã hội nào có tác động mạnh
mẽ nhất đến các lựa chọn đã kể trên?
(iii) Liệu từ nghiên cứu trên có thể rút ra ra các khuyến nghị chính sách cho
chính phủ nhằm thúc đẩy vcầu GDĐH để nhanh chóng gia tăng độ phủ
của GDĐH như các chiến lược tăng trưởng của quốc gia đang kỳ vọng?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng:
Cầu GDĐH (bao gồm nhu cầu và cầu cùng các dạng khác nhau về GDĐH)
và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu GDĐH của các HGĐ. Trong đó, các loại cầu
này được phân tích chi tiết theo loại hình cơ sở GDĐH (công lập vs. tư thục) và
theo nhóm thu nhập (phân tầng thu nhập).
b. Phạm vi nghiên cứu:
Về phân tích định tính: Luận án sử dụng dữ liệu vĩ mô thu thập từ các niên
giám thống kê, Ngân hàng thế giới và tổ chức giáo dục của Liên hợp quốc để
phân tích thực trạng của cầu giáo dục đại học ở Việt Nam
Việc phân tích định lượng: luận án sử dụng số liệu điều tra hộ gia đình
của Tổng cục Thống Kê Việt Nam năm 2018 với lý do sau:.
Lý do thứ nhất là: hàm cầu GD ĐH mà luận án rút ra từ lý thuyết lợi ích và
lý thuyết đầu tư. Trong trường hợp như vậy thì sử dụng số liệu chéo để ước lượng
hàm cầu là thích hợp. Beneito và cộng sự (2001) trong nghiên cứu nổi tiếng về
các yếu tố xác định cầu giáo dục của Tây Ban Nha sau khi rút ra hàm cầu GDĐH
từ bài toán cực đại lợi ích đã viết: “Cầu cá nhân cho giáo dục có thể được ước
lượng sử dụng dữ liệu chéo, và nó có vẻ hợp lý để với giả thiết đối với cùng kỳ
mọi cá nhân phải đối mặt với cùng một mức giá, với ngoại lệ của sự khác biệt có
thể có giữa các vùng, một hiệu ứng sẽ được kiểm soát một cách gián tiếp bằng
các phương tiện của biến giả khu vực”.
Lý do thứ hai: Bộ số liệu VHLSS của Việt Nam 2 năm mới điều tra 1 lần,
lần điều tra sau chỉ giữ lại một nửa quan sát cũ còn lại là các quan sát mới do đó
nếu sử dụng dữ liệu mảng thì quan sát mất rất nhiều.
Vì hai lý do trên, các hàm cầu GDĐH trong luận án này được ước lượng từ
số liệu điều tra hộ của TCTK năm 2018.
6
5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
a. Cách tiếp cận và khung phân tích
Cách tiếp cận
(i) Cách tiếp cận từ khái quát đến thực tiễn
Với cách tiếp cận này, những kiến thức tổng hợp so sánh,được xem xét,
phân tích. Luận án trước tiên đưa ra khái niệm về cầu giáo dục của HGĐ và xem
xét cầu GDDH trong quan hệ với cầu hàng hóa khác trong bài toán cực đại lợi
ích, sau đó lại xem xét cầu GDĐH theo khía cạnh so sánh lợi ích của người ra
quyết định giữa việc cho con/em đi học ĐH và vào TTLĐ… trên cơ sở logic đó
sẽ dẫn đến việc rút ra các hàm cầu dạng khác nhau.
(ii) Cách tiếp cận hệ thống
Theo cách tiếp cận này, cầu GDDH được đặt trong tổng thể kinh tế xã hội
và đặc biệt là trong một bối cảnh chung của đất nước nên cầu giáo dục đại học
cũng chịu tác động chung của sự phát triển của đất nước. Vì thế, khi xem xét các
nhân tố tác động đến cầu GDĐH, Luận án đã cố gắng xem xét trong bối cảnh
tương tác của nhiều yếu tố khác nhau và sử dụng những kỹ thuật phân tích để xác
định những nhân tố có tác động lớn nhất.
(iii) Cách tiếp cận vi mô
Nghiên cứu này xem xét các nhân tố tác động đến cầu GDDH từ quan điểm
lý thuyết kinh tế (kinh tế vi mô về hành vi của người tiêu dùng) là giả thiết người
đại diện của HGĐ (giả thiết là CH) có hàm lợi ích khi xem xét quyết định cầu
GDDH và với giả thiết là CH luôn mong muốn cực đại lợi ích. Đó chính là mấu
chốt để sinh ra các hàm cầu GDDH và sử dụng các phương pháp phân tích của
kinh tế vi mô để thấy tác động của các nhân tố đến cầu GDĐH.
Khung phân tích
Qua quá trình tổng quan các tài liệu nghiên cứu trước và các vấn đề liên
quan, luận án đã tổng hợp lại và đề xuất khung phân tích khái quát của luận án là
như sau: Xuất phát từ giả thiết hành vi của CH (người đại diện của HGĐ, trên cơ
sở lý thuyết về hành vi của người tiêu dùng) để đi đến các bài toán cực đại lợi ích
của người tiêu dùng trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định và rút ra các
hàm cầu dạng khác nhau. Dựa vào đặc trưng của các bài toán và lý thuyết kinh

7
tế lượng,luận án đề xuất cách khắc phục để có thể được kết quả ước lượng tốt
nhất. Căn cứ vào các kết quả, lý thuyết kinh tế và điều kiện thực tế, luận án rút
ra các khuyến nghị chính sách.
b. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp
Thông tin và số liệu sử dụng trong luận án đều là số liệu thứ cấp, được lấy
từ 3 nguồn chính:
Nguồn dữ liệu thứ cấp đầu tiên là VHLSS 2018 của TCTK. Đó là bộ số
liệu điều tra mức sống dân cư. Bộ số liệu này có những thông tin về hộ, chủ hộ
(CH) cần thiết cho việc xây dựng các biến cho các hàm cầu cần ước lượng. Tuy
nhiên để tránh ước lượng chệch, nghiên cứu này không dùng tất cả quan sát của
bộ số liệu mà chỉ nhặt ra các hộ mà có con/em tốt nghiệp trung học phổ thông.
8
Nguồn dữ liệu thứ cấp thứ hai là dữ liệu thống kê tổng hợp về giáo dục của
TCTK, được thu thập từ các niên giám thống kê hàng năm từ năm 2013 đến 2019.
Nguồn dữ liệu cuối cùng là số liệu từ Bộ GD&DT được thu thập từ
cổng thông tin của bộ hoặc các nguồn trực tiếp từ các vụ của bộ; các nguồn
khác gồm có số liệu từ Ngân hàng Thế giới hoặc tổ chức giáo dục của Liên
hợp quốc.
c. Phương pháp phân tích thống kê, số liệu
Phương pháp thống kê được sử dụng:
(i) Để phân tích thống kê mô tả từ các nguồn số liệu thu thập được.
(ii) Để lọc mẫu cần sử dụng
(iii) Dùng để tạo biến chẳng hạn các phân vị thu nhập hoặc tạo các biến không
có sẵn từ tập dữ liệu như biến trình độ học vấn (tùy theo mô hình mà cấu
tạo thích hợp)…
d. Phương pháp phân tích định lượng
Nghiên cứu này sử dụng 3 mô hình kinh tế lượng khác nhau, phương pháp
kinh tế lượng được thực hiện có thể khái quát như sau:
(i) Mặc dù việc tạo biến được nói đến trong phương pháp thống kê nhưng
điều đặc biệt ở nghiên cứu này là đã ước lượng biến kỳ vọng cho tất cả
các mô hình. Biến kỳ vọng này lại được thực hiện theo thủ tục 2 bước.
trong đó bước một là ước lượng một mô hình kinh tế lượng còn bước 2
là dự báo để hình thành biến kỳ vọng cho các hàm cầu.
(ii) Việc ước lượng mô hình Heckman được thực hiện cả bằng thủ tục 2 bước
và phương pháp ước lượng hợp lý cực đại. Nhưng việc ước lượng mô
hình Heckman khi số lượng biến của phương trình chọn bằng số lượng
biến của phương trình kết cục thường bị chệch. Luận án đã xây dựng một
biến công cụ thỏa mãn điều kiện chỉ ảnh hưởng đến phương trình chọn
mà không ảnh hưởng đến phương trình kết cục làm cho ước lượng mô
hình tránh được chệch.
(iii) Ước lượng các mô hình logit và logit đa thức được thực hiện bằng
phương pháp hợp lý cực đại.
(iv) Luận án cũng ước lượng ảnh hưởng biên của biến giải thích.

