KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ
Kinh tế & Lao động
Söë 1 thaáng 10/2025
60
1. Đặt vấn đề
Trong các hình thái ý thức xã hội của lịch sử li
người, ý thức thẩm m(hay ý thức nghthuật) một
trong những hình thái ý thức hội được hình thành
từ rất sớm, trước khi hội sphân chia giai cấp.
Bên cạnh những đặc điểm chung giống với các hình
thái ý thức xã hội chính trị, pháp luật, khoa học, đạo
đức, triết học... thì ý thức thẩm mỹ còn đặc điểm
riêng, đặc thù đó phản ánh tồn tại hội bằng hình
tượng nghệ thuật.
Ý thức thẩm mỹ không chỉ phản ánh tồn tại hội
sinh ra còn một hình thức phản ánh sáng tạo,
độc đáo của hoạt động ý thức con người - sáng tạo
thẩm mỹ (sáng tạo nghệ thuật). Sự sáng tạo này thể
hiện sức mạnh của bản chất con người trong quá trình
chinh phục, cải biến tự nhiên, biến đổi hội bản
thân mình nhằm hoàn thiện nhân cách. Do đó, ý thức
thẩm mỹ một hình thái đặc thù của ý thức hội,
phản ánh hiện thực khách quan về mặt thẩm mỹ thông
qua lăng kính sáng tạo chủ quan của chủ thể, nhằm đáp
ứng nhu cầu cảm thụ, đánh giá, thụ hưởng cái đẹp
cải tạo thế giới theo quy luật của cái đẹp.
Với vai trò “là người đang học chương trình đào tạo
trình độ đại học hệ chính quy tại các cơ sở giáo dục đại
học”; “là trung m của c hoạt động giáo dục đào
tạo trong sgiáo dục đại học được bảo đảm điều
kiện thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quyền trong q
trình học tập và rèn luyện tại cơ sở giáo dục và đào tạo”
(Bộ Giáo dục & Đào tạo, 2016)
xác định sinh viên những
chủ thể thẩm mỹ. Sinh viên chủ thể của quá trình
phản ánh tồn tại hội của con người những giai
đoạn lịch sử cụ thể bằng các hình tượng nghệ thuật. Ý
thức thẩm m của sinh viên luôn gắn liền không
tách rời tuyệt đối với ý thức thẩm mỹ chung của xã hội,
của giai cấp, dân tộc.
Ý thức thẩm mỹ của sinh viên hệ thống tri thức
thẩm mỹ; quan điểm, lý luận thẩm mỹ; cảm xúc, thị hiếu
tưởng thẩm mỹ; nhu cầu khát vọng thẩm mỹ
phản ánh các giá trị thẩm mỹ, quan hệ thẩm mỹ, hoạt
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý THỨC THẨM MỸ
CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngày nhận: 22/8/2025
Ngày phản biện: 24/9/2025
Ngày duyệt đăng: 15/10/2025
Tóm tắt: Giáo dục, nâng cao ý thức thẩm mỹ cho sinh viên được coi một trong những mục tiêu hướng tới giáo dục toàn diện của
nền giáo dục quốc dân. Giáo dục toàn diện “con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp”[5,
tr.6] đã xác định vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục, nâng cao ý thức thẩm mỹ góp phần tăng cường các kĩ năng, chuẩn mực cho
sinh viên, hình thành những nền tảng đầu tiên về nhân cách con người. Quá trình hình thành, giáo dục và nâng cao ý thức thẩm mỹ
của sinh viên chịu tác động của rất nhiều yếu tố như: kinh tế, chính trị, văn hóa, hội... bản thân sinh viên. Trong phạm vi bài
viết, tác giả chỉ đi vào tìm hiểu “các nhân tố tác động đến ý thức thẩm mỹ của sinh viên Việt Nam hiện nay”.
Từ khóa: Ý thức thẩm mỹ, sinh viên Việt Nam, nhân tố tác động đến ý thức thẩm mỹ.
JEL Codes: I21, Z11, Z13
FACTORS AFFECTING THE AESTHETIC AWARENESS OF VIETNAMESE STUDENTS TODAY
Abstract: Educating and raising aesthetic awareness for students are seen as one of the goals aimed at the comprehensive education
of the national education system. Comprehensive education in intellect, body, and aesthetics has established the particularly
important role of education, enhancing aesthetic awareness which contributes to the development of skills and standards for
students, forming the initial foundations of human personality. The process of formation, education, and enhancement of aesthetic
awareness in students is influenced by many factors such as: economy, politics, culture, society... and the students themselves. In this
article, the author only seeks to explore the 'factors affecting the aesthetic awareness of Vietnamese students today'.
Keywords: aesthetic consciousness, Vietnamese students, factors influencing aesthetic consciousness.
NguyễN Thhiếu*
——————
* TS., Trường Đại học Công đoàn. Email: hieunt@dhcd.edu.vn
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchikinhtelaodong@dhcd.edu.vn
61
động thẩm mỹ của sinh viên được hình thành, phát
triển trong môi trường giáo dục đại học.
Cấu trúc và nội dung ý thức thẩm mỹ rất phong phú
đa dạng được thể hiện nhiều cấp độ như: cấp độ
phản ánh, ý thức thẩm mỹ bao gồm ý thức thẩm mỹ
thông thường ý thức thẩm mỹ bậc cao; cấp độ chủ
thể thẩm mỹ, ý thức thẩm mỹ bao gồm ý thức thẩm mỹ
nhân ý thức thẩm mỹ cộng đồng; cấp độ các yếu
tố cấu thành của ý thức, ý thức thẩm mỹ bao gồm nhận
thức thẩm mỹ, tình cảm thẩm mỹ ý chí thẩm mỹ.
Trong phạm vi bài viết, tìm hiểu về ý thức thẩm mỹ của
sinh viên chủ yếu được xem xét ở hệ thống cảm xúc, thị
hiếu thẩm mỹ thức thẩm mỹ thông thường)
tưởng thẩm mỹ thức thẩm mỹ bậc cao) của nhân
nhu cầu thẩm mỹ của cá nhân. Đó là quá trình từ nhu cầu
thẩm mỹ đến sự rung động của xúc cảm thẩm mỹ trước
các sự vật, hiện tượng của thiên nhiên, con người, các
sản phẩm lao động, công trình nghệ thuật. Điều đó giúp
cho sinh viên được sự xúc cảm hân hoan, vui sướng,
thích thú trước cái đẹp, nhưng cũng mang đến xúc cảm
xót xa, mến phục, thương tiếc trước cái bi, sự xúc cảm
tôn kính trước cái cao cả. Đồng thời, ý thức thẩm mỹ còn
thị hiếu thẩm mỹ tưởng thẩm mỹ, quá trình
biểu hiện các khả năng của sinh viên khi thỏa mãn nhu
cầu thưởng thức đánh giá về cái đẹp, là nhu cầu tiếp
nhận chọn lọc tạo ra cái đẹp trong học tập, đời
sống, trong lao động, trong giao tiếp ứng xử và cả trong
lĩnh vực nghệ thuật trên cơ sở các giá trị văn hoá truyền
thống của dân tộc. Đây chính nền tảng sở để hình
thành trong sinh viên định hướng sống cao đẹp: sống
lý tưởng, có khát vọng và từ đó hoàn thành mục tiêu về
giáo dục “Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ
năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con
người Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Giáo
dục nhằm phát triển ý thức thẩm mỹ cho sinh viên p
phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện con người
trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Hiện nay, tính lịch sử - cụ thể của thực tiễn thế giới
đất nước đang tạo ra những thời thách thức
cho sinh viên tiếp cận thưởng thức cái đẹp, thưởng
thức các loại hình nghệ thuật cũng như tiếp xúc, giao
lưu hội nhập với các nền văn hóa của các quốc gia, dân
tộc. Đây vừa tạo ra điều kiện giúp sinh viên có khả năng
học hỏi, tiếp thu những giá trị tích cực các nền văn hóa
trên thế giới vừa mang đến sự tiếp nhận nhanh, đa dạng
những giá trị văn hóa không phù hợp với chuẩn mực xã
hội, với truyền thống văn hóa của dân tộc. Điều này, đã
dẫn đến xuất hiện trong một số sinh viên biểu hiện của
sự khủng hoảng năng lực thẩm mỹ, sự thay đổi thị hiếu
thẩm mỹ như: hiện tượng tôn sùng, tuyệt đối hóa văn
hóa nước ngoài xem nhẹ văn hóa truyền thống của dân
tộc, sự dễ dãi, buông thả trong quan niệm tình yêu
n nhân; chy theo c xu ớng: “ni sao”,
“showbiz”; đặc biệt trào lưu đề cao cái tôi nhân trên
các phương tiện truyền thông, mạng hội dẫn đến
xuất hiện chủ nghĩa nhân, ích kỷ, phiến diện, cực
đoan sự lãng phí hay chai sạn cảm xúc. Những hiện
tượng này đang tác động không nhỏ đến nhu cầu thẩm
mỹ, sự xúc cảm thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, tưởng
thẩm mỹ dần dần hình thành trong giới trẻ nói
chung, sinh viên nói riêng lối sống ảo, sống thờ ơ, thực
dụng. Đây những biến đổi ý thức thẩm mỹ của sinh
viên trái ngược với các giá trị Chân - Thiện - Mỹ theo
cách hiểu truyền thống. Vấn đề đặt ra cần tìm hiểu
các nhân tố tác động đến ý thức thẩm mỹ của sinh viên
Việt Nam hiện nay.
2. Nhân tố tác động đến ý thức thẩm mỹ của sinh
viên Việt Nam hiện nay
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ý thức
thẩm mỹ là lĩnh vực ý thức xã hội, có nhiệm vụ phản ánh
tồn tại hội chịu sự quy định của tồn tại hội.
vậy, ý thức thẩm mỹ luôn luôn vận động, biến đổi cùng
với thực tiễn hội sinh ra nó. Đó những biến đổi
thể theo chiều hướng phát triển tích cực hoặc hướng
tiêu cực; những biến đổi mang tính “nhảy vọt”, “bước
ngoặt” trong quá trình hình thành phát triển của ý
thức hội. Việt Nam, ý thức thẩm mỹ được hình
thành, bồi đắp và phát triển trong quá trình dựng nước,
giữ nước phát triển đất nước. Bên cạnh sự phát triển
mang đến dấu mốc lịch sử lớn, ý thức thẩm mỹ còn
những biến đổi theo thời gian những điều kiện nhất
định. Sự biến đổi của ý thức thẩm mỹ do tác động của
những nhân tố chủ yếu sau:
2.1. Nhân tố khách quan
Một là, tác động của kinh tế thị trường.
Công cuộc đổi mới đất nước sau hơn ba mươi lăm
năm đã đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng
kinh tế - xã hội và có sự biến đổi căn bản, toàn diện trên
tất cả các mặt. Đảng Nhà nước ta chủ trương tận
dụng thời cơ khai thác các lợi thế nền kinh tế thị trường
phục vụ thực hiện các mục tiêu chiến lược trên mọi lĩnh
vực trong đó văn hóa, giáo dục, đạo đức, lối sống.
Kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa Việt
Nam vừa mang đầy đủ đặc trưng, quy luật của kinh tế
thị trường nói chung, vừa mang nét đặc trưng riêng của
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ
Kinh tế & Lao động
Söë 1 thaáng 10/2025
62
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù
hợp với từng giai đoạn phát triển của nước ta. Đó là nền
kinh tế hiện đại hội nhập quốc tế, sự quản của
Nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Kinh tế thị trường hai mặt đối lập tác
động tích cực hoặc tiêu cực đối với đạo đức, lối sống.
Với tác động tích cực, nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là cơ sở vật chất cấp bách tác động rất
lớn đến tính năng động, sáng tạo, yêu lao động, thưởng
thức cái đẹp của sinh viên. Đây cũng điều kiện thuận
lợi để sinh viên rèn luyện mục tiêu, tưởng sống, đạo
đức, văn hóa, thẩm mỹ. Với tác động tiêu cực, kinh tế thị
trường cũng tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến ý thức
hội nói chung ý thức thẩm mỹ, lối sống văn hóa của
sinh viên nói riêng. Đó là “biểu hiện xem thường các giá
trị tinh thần, giá trị nhân văn, đề cao lợi ích vật chất. Lối
sống đồng tiền còn làm thay đổi “nhãn quan” trong
đánh giá đạo đức con người, như: trọng tài hơn đức;
trọng tiền bạc hơn tình nghĩa; trọng kinh tế hơn chính
trị, tư tưởng,... theo đó, quan hệ đồng tiền đã len lỏi, chi
phối nhân cách, đạo đức... dẫn tới lối sống buông thả,
thiếu hoài bão, tưởng, vị kỷ, không quan tâm đến cộng
đồng, quay lưng với truyền thống tham gia vào các
tệ nạn xã hội, đi ngược với thuần phong, mỹ tục của dân
tộc”
(Phạm Hoàng Anh, 2023)
. Điều này, tác động rất lớn đến
nhu cầu thẩm mỹ, xúc cảm thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ
và lý tưởng thẩm mỹ của sinh viên.
Hai là, tác động của nhân tố chính trị.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự
quản của Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa
hệ thống chính trị ngày càng hoàn thiện là những nhân
tố không thể thiếu, quyết định sự thành công việc thực
hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, hội,
“độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” ở nước ta
hiện nay.
Đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng Nhà
nước trên cơ sở luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tưởng
Hồ Chí Minh, bản sắc văn hóa dân tộc đậm đà... là những
định hướng then chốt trong sự hình thành, xây dựng và
phát triển ý thức thẩm mỹ của con người nói chung
của thanh niên, sinh viên nói riêng.
Đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng Nhà
nước luôn được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với thời
đại đặc điểm của đân tộc. Đó chính sự vận động
của những nhân tố chính trị qua các kỳ đại hội vừa
phải phù hợp với xu hướng phát triển khách quan tất
yếu của đất nước, vừa phải tác động một cách chủ
quan vào sự hình thành phát triển ý thức thẩm mỹ,
văna của con người, trong đósinh viên. Hội nghị
lần thứ chín của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI
đã xác định: “Xây dựng nền văn hóa con người
Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện
- mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ
và khoa học”
(Ban Chấp hành Trung ương, 2014)
.
Để thực hiện nhiệm vụ đó, bản thân thanh niên, sinh
viên phải không ngừng quyết tâm phấn đấu trong học
tập, nghiên cứu khoa học, trong rèn luyện đạo đức, lối
sống, tích cực tham gia các hoạt động hội, tiếp tục
xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam vừa tài, vừa có đức, giàu
lòng yêu nước, sức khỏe, tri thức, kỹ năng,
thị hiếu thẩm mỹ tưởng thẩm mỹ đúng đắn đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn.
Định hướng của Đảng ta về chủ trương, mục tiêu
xây dựng đất nước chiến lược phát triển kinh tế,
chính trị, văn hóa, hội sẽ định hướng cho các sở
giáo dục, đào tạo xây dựng chiến lược phát triển ý thức
thẩm mỹ, xây dựng môi trường thẩm mỹ lành mạnh,
tích cực cho sinh viên tạo ra các khả năng, nhu cầu sáng
tạo tiềm ẩn, hình thành thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn,
tưởng thẩm mỹ cao đẹp, nâng cao trình độ trách
nhiệm của sinh viên với bản thân, gia đình và hội.
Ba là, tác động của cách mạng công nghiệp 4.0.
Thế giới, khu vực đất nước đang chứng kiến
những thay đổi kỳ diệu của Cách mạng công nghiệp lần
thứ tác động sâu rộng của khoa học, công nghệ
đến sản xuất và đời sống con người. Theo giáo sư Klaus
Schwab đã khẳng định: “Chúng ta đang đứng trước
thềm một cuộc cách mạng sẽ làm thay đổi căn bản cách
chúng ta sống, làm việc, liên hệ với nhau. Tôi cho
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ này sẽ không
giống với bất cứ điều gì nhân loại đã từng trải qua cả về
quy mô, phạm vi độ phức tạp của nó”
(Schwab, 2019)
.
Giáo dục nói chung giáo dục ý thức thẩm mỹ nói
riêng một trong những lĩnh vực chịu tác động mạnh
mẽ của cuộc cách mạng đại đó. Tác giả Hải Quân
cho biết: “Theo dự báo của tổ chức McKinsey công bố
năm 2018 thì đến năm 2030, 70% công ty khắp thế giới
sẽ sử dụng trí tuệ nhân tạo GDP toàn cầu sẽ tăng 13
nghìn tỷ USD”. Điều này cho thấy rằng, hiện nay, với sự
tác động của công nghệ khiến cho vị trí, vai trò của
nghề nghiệp hoán đổi. Câu hỏi đặt ra giới trẻ sẽ phải
nhận định nghề nghiệp nào bị biến mất khi máy móc
thay thế con người, nghề nghiệp nào sẽ xuất hiện mới
sẽ được hội ghi nhận? Từ đó, sẽ hình thành các yêu
cầu chuẩn mực về giáo dục, đạo đức, lối sống. Điều này,
tác động đến sự sáng tạo của con người nói chung
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchikinhtelaodong@dhcd.edu.vn
63
sinh viên nói riêng. đòi hỏi sinh viên giáo dục toàn
diện, các kỹ năng phải nhạy bén hơn, chính xác hơn,
hoàn hảo hơn? Dưới tác động của cách mạng 4.0, sẽ
giúp sinh viên năng động hơn, nhiều công cụ,
phương tiện để học tập, thỏa mãn các nhu cầu nâng cao
năng lực, bản lĩnh của mình, trong đó nhu cầu thị
hiếu thẩm mỹ tưởng thẩm mỹ, hoàn thiện bản
thân để đáp ứng yêu cầu của thời đại. Đồng thời, cách
mạng 4.0 cũng tạo ra các yêu cầu khắt khe cho sinh viên
chuẩn bị đầy đủ các hành trang sức khỏe, tri thức, khoa
học hiện đại phù hợp với xu hướng quốc tế hóa, hội
nhập hiện nay.
Bên cạnh những tác động tích cực, sự tác động của
cách mạng công nghiệp 4.0 cũng tạo ra những tác động
tiêu cực đến lối sống, văn hóa, thẩm mỹ của sinh viên.
Đó là sự hình thành một môi trường ảo, hình thành một
lối sống ảo, phi thực tế trong sinh viên. Điều đó thể
dẫn đến sinh viên những nhu cầu, lối sống, phương
pháp duy lười biếng, thụ động phụ thuộc vào các
phương tiện hỗ trợ, tư duy, ngôn ngữ lắp ghép, hạn chế
sự bay bổng về mặt hình tượng trực quan hoặc tạo ra
những nhu cầu, xúc cảm, lối sống sai lầm. Những đặc
điểm trên đã định hướng tư tưởng và quy định xúc cảm
thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, tưởng thẩm mỹ của sinh
viên. Nếu không sự định hướng theo chuẩn mực,
thể dẫn đến những thị hiếu thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ
lệch lạc trong sinh viên.
Bốn là, tác động của xu thế toàn cầu hóa hội nhập
quốc tế.
Hiện nay, ới c động của nhiều yếu tố, đặc biệt
là cách mạng 4.0 không chỉ thay đổi cách thức sản xuất
mà còn thay đổi, ảnh hưởng đến quản lý và kinh doanh,
tạo ra nhiều hội thách thức cho các nền kinh tế,
dẫn đến xu thế toàn cầu hóa. Dưới tác động của những
biểu hiện toàn cầu hóa như: thị trường được mở rộng,
giao lưu, hợp tác kinh tế, văn hóa phong phú, đa dạng
tạo ra diện mạo mới của bức tranh toàn cảnh thế giới,
vừa sự hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau lợi ích
quốc gia, dân tộc. Qua đó, tạo ra những biến đổi trong
chuyển dịch cấu kinh tế, hợp tác lao động, văn hóa,
giáo dục... tạo hội để con người đón nhận những
thành quả của thời đại, tiếp cận những tri thức văn
hóa của nhân loại. Mặt khác, trong môi trường toàn cầu
hóa - hội nhập quốc tế, các biến động tiêu cực cũng tác
động không nhỏ đến đời sống hội. Biểu hiện các
rủi ro, bất ổn về kinh tế, quan hệ chính trị, trật tự và an
toàn hội... gây những biến đổi đến đạo đức lối
sống trong hội.
Toàn cầu hóa hội nhập quốc tế tất yếu tác động
đến quá trình xây dựng phát triển đất nước ta. Sau
hơn ba mươi lăm năm đổi mới, với đường lối đúng đắn
của Đảng, đất nước tiếp tục ổn định, kinh tế thị trường
định hướng hội chủ nghĩa phát triển, văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, các cuộc thi văn hóa, giáo
dục quốc tế đạt giải cao đã góp phần nâng đời sống
Nhân dân vị thế đất nước trong khu vực trên thế
giới. Điều này, đã tạo hội lớn cho sinh viên học tập,
tiếp cận văn minh nhân loại, nâng cao tri thức nhất
những thành tựu khoa học - công nghệ. Cùng với hội
nhập về kinh tế, hội nhập, giao lưu về văn hóa cũng góp
phần vào quá trình trao đổi, chia sẻ, hợp tác những giá
trị văn hóa vật chất tinh thần của nước ta với các
nước trong khu vực và trên thế giới. Quá trình này tạo ra
những biến đổi trên cả hai mặt tích cực tiêu cực các
giá trị văn hóa. Đó thể là biến đổi để góp phần loại bỏ
những giá trị, chuẩn mực cũ, lạc hậu để thay thế bằng
các giá trị, chuẩn mực tiến bộ, phù hợp với xu thế phát
triển của thời đại. Đồng thời, đó cũng thể tạo ra
những thách thức đối với việc giữ gìn, phát huy bản sắc
văn hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc. Quá trình
giao lưu, hội nhập văn hóa đã và sẽ làm mai một dần đi
một số giá trị văn hóa dân tộc xác lập một số giá trị
mới. Điều này đòi hỏi các giai cấp, tầng lớp mọi lứa
tuổi khác nhau cần phải tri thức, nhận thức, hành vi
đúng đắn trong sự tiếp nhận những biến đổi văn hóa.
Thực tế hiện nay, xuất hiện hiện tượng người lớn tuổi
ngày càng suy giảm khả năng thích nghi với cái hiện đại,
thậm chí cường điệu hóa giá trị dân tộc thì với sinh viên
lại là đối tượng nhạy cảm với giá trị văn hóa mới, có khả
năng hào hứng tiếp thu nhanh chóng những quan
niệm mới, lối sống mới. Mặt khác, xu hướng quốc tế
hội nhập đã tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong nhu cầu,
lối sống, thẩm mỹ của sinh viên. Biểu hiện như xuất hiện
trong sinh viên tính năng động mong muốn được
khẳng định giá trị bản thân. Sinh viên vừa chủ động hơn
trong tìm kiếm môi trường học tập, thưởng thức nghệ
thuật thuận lợi, vừa giúp cho họ thể tham gia đóng
góp vào những hoạt động mang tính cộng đồng, dân
tộc cao. Tuy nhiên, nếu không có định hướng đúng đắn,
lý tưởng thẩm mỹ phù hợp và đề cao giá trị bản thân,
thể dẫn đến hiện tượng sinh viên xem nhẹ đạo đức,
pháp luật, truyền thống dân tộc, tuyệt đối hóa lợi ích
nhân, bỏ qua sự hài hòa lợi ích nhân và hội. Từ đó
làm nảy sinh lối sống vị kỷ, cảm, làm xói mòn truyền
thống văn hóa của dân tộc, tôn sùng quá mức văn hóa
ngoại nhập, hình thành tâm sính ngoại, “bắt chước”
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ
Kinh tế & Lao động
Söë 1 thaáng 10/2025
64
yếu tố văn hóa nước ngoài không phù hợp với chuẩn
mực dân tộc.
Mặt khác, hiện nay ở nước ta, dưới tác động của quá
trình quốc tế hóa và hội nhập, các thế lực thù địch tăng
cường hoạt động xuyên tạc, chống phá trên các lĩnh vực
về chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, chúng tiến hành
đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hoà bình”, kích động
biểu tình gây mất trật tự an ninh, hội với mục đích
làm cho Nhân dân Việt Nam nói chung sinh viên nói
riêng mất niềm tin vào Đảng, chế độ con đường đổi
mới của đất nước, “thậm chí, thể dẫn tới tiếp tay hoặc
cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại
tưởng sự nghiệp cách mạng của Đảng dân tộc”.
Sinh viên là đối tượng dễ tiếp cận để ra sức lôi kéo, kích
động họ tham gia các hoạt động gây mất ổn định tình
hình an ninh chính trị đất nước. Do đó, sinh viên cần
định hướng giáo dục đúng đắn, có đủ bản lĩnh, trình độ,
lẽ sống, tưởng thẩm mỹ phù hợp trong bối cảnh thời
đại những biến đổi của đất nước, từ đó phát huy
những tác động thuận lợi, tận dụng thời cơ, khắc phục
khó khăn, vượt qua thách thức, chống lại sự xuyên tạc,
chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng
tưởng của Đảng.
Như vậy, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều nhân
tố tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực của đời sống
hội trong đó công tác giáo dục nói chung và giáo dục
ý thức thẩm mỹ nói riêng.
Ngoài các yếu tố trên môi trường gia đình, nhà
trường cũng tác động không nhỏ đến ý thức thẩm mỹ
của sinh viên. Gia đình sở ảnh hưởng đầu tiên,
trực tiếp mạnh mẽ nhất đến sự hình thành nhu cầu,
xúc cảm thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ tưởng thẩm
mỹ của mỗi người. Nếu gia đình gieo “hạt giống” tốt thì
sẽ “nảy mầm” những phẩm chất đạo đức, nhân cách tốt
đẹp của mỗi con người nói chung và sinh viên nói riêng.
Ngược lại, nếu gia đình mâu thuẫn, xung đột, các thành
viên sống không trách nhiệm với nhau sẽ nuôi
dưỡng những “hạt giống” khuyết thiếu về tri thức, đạo
đức... cho hội. Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt
Nam tồn tại phát triển với những chuẩn mực như”
kính trên nhường dưới”, “Chị ngã e nâng”,... góp phần
xây dựng nền văn hóa Việt Nam, gia đình truyền thống
Việt Nam hòa thuận, hiếu thảo, khoan dung, chung
thủy. Nhiều học giả nhận định, gia đình rộng hơn
cộng đồng dân “pháo đài” trong sự “va chạm” các
loại hình đạo đức, lối sống. thể làm chậm hoặc
thúc đẩy nhanh những biến đổi đạo đức, lẽ sống, ước
mơ, lý tưởng sống của mỗi người.
Cùng với gia đình, trường học môi trường quan
trọng để nuôi dưỡng, giáo dục, nâng cao ý thức thẩm
mỹ của sinh viên. Tuy nhiên, nếu gia đình giáo dục ý
thức thẩm mỹ chủ yếu thông qua nêu gương, khuyến
khích, động viên thì giáo dục ý thức thẩm mỹ trong nhà
trường có vai trò tác động một cách có mục tiêu cụ thể,
kế hoạch để chuẩn bị cho sinh viên hành trang trí
tuệ, năng, đạo đức, bản lĩnh bước vào cuộc sống.
Trong nhà trường, mục tiêu, kế hoạch giáo dục, đào tạo,
các mối quan hệ bạn bè, thầy trò cũng có tác động tích
cực hay tiêu cực đến quá trình phát triển ý thức thẩm
mỹ, hoàn thiện nhân cách, của sinh viên - những rường
cột của nước nhà.
2.2. Nhân tố chủ quan
Đây là tác động từ bản thân sinh viên - chủ thể thẩm
mỹ - lực lượng trí thức trẻ, nguồn lực chủ yếu trong thời
đại kinh tế tri thức, khoa học công nghệ, đóng vai trò
then chốt trong phát triển đất nước.
Do đặc điểm tâm lứa tuổi, phần lớn sinh viên
độ tuổi từ 18 đến 23 tuổi, đối tượng đang trong quá
trình định hình nhu cầu, lối sống hoàn thiện nhân
cách. Họ những người sức khỏe, sức trẻ, hoài
bão, ước mơ, năng động, thích khám phá, học hỏi cái
mới, mong muốn được khẳng định bản thân và được xã
hội tôn trọng. Họ là những đối tượng được đào tạo một
cách cơ bản, toàn diện theo định hướng chuyên ngành,
là hành trang chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp sau
khi ra trường; họ nhạy bén với cái mới, muốn được
mang tri thức vào cuộc sống. Tuy nhiên, khi được đánh
giá nhóm nhạy cảm nhất trong hội, bản thân sinh
viên cũng chịu sự chi phối mạnh mẽ của các nhân tố
kinh tế, chính trị, hội nhập... vì vậy, những nét tâm lý này
vừa là thế mạnh, vừa nhược điểm trong sinh viên. Nếu
không sự định hướng đúng đắn về lối sống, ý thức
thẩm mỹ thì sinh viên rất dễ tiếp thu những những giá
trị văn hóa không phù hợp với chuẩn mực, truyền thống
của dân tộc, thời đại thể dẫn đến những lệch lạc,
sai lầm, thiếu hụt về nhu cầu, thị hiếu tưởng nói
chung nhu cầu, thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ cho bản thân
sinh viên nói riêng.
Với vai t là lực ợng sáng tạo đặc biệt trong tiến
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội
nhập quốc tế, y dựng kinh tế tri thức, phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
sinh viên là một trong những nhân tố góp phần quyết
định sự thành công hay thất bại của sự nghiệp cách
mạng nước ta hiện nay. Để hoàn thành được sứ