
KINH TẾ - LAO ĐỘNG
tapchikinhtelaodong@dhcd.edu.vn
47
1. Tình hình du học nhật Bản và hàn Quốc của
sinh viên Việt nam
Trong nhiều năm, Nhật Bản luôn là điểm đến
phổ biến nhất của du học sinh Việt Nam. Tính đến
năm 2016, du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản
chiếm 29,2% trong số 130.000 công dân Việt Nam
đang học tập ở nước ngoài. Trong khi đó, Hàn
Quốc trở thành điểm đến mới nổi của sinh viên
quốc tế với tốc độ tăng trưởng là 84% trong giai
đoạn 2010 - 2020 và Việt Nam trở thành thị trường
du học Hàn Quốc có tốc độ tăng trưởng nhanh
nhất từ năm 2017. Năm 2022, có khoảng 14.000 du
học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc.
Nhìn cụ thể vào số lượng du học sinh bậc đại
học, số liệu thống kê của Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế (OECD) cho thấy từ năm 2013 đến
năm 2019, số lượng sinh viên Việt Nam nhập học
tại các trường đại học ở Nhật Bản và Hàn Quốc
liên tục tăng. Năm 2013, có khoảng 1.800 tân sinh
viên Việt Nam tại các trường đại học Nhật Bản, và
500 tân sinh viên tại Hàn Quốc. Đến năm 2019, số
lượng du học sinh Việt Nam đến Hàn Quốc tăng
đáng kinh ngạc với 17 lần. Trong cùng thời kỳ,
nước láng giềng Nhật Bản tăng khoảng 7 lần.
XU HƯỚNG DU HỌC ĐẠI HỌC CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM
TẠI NHẬT bảN VÀ HÀN QUỐC
nguyễn Thanh huyền*
Ngày nhận: 22/8/2025
Ngày phản biện: 24/9/2025
Ngày duyệt đăng: 15/10/2025
Tóm tắt: Trong nhiều năm, Nhật Bản luôn là điểm đến phổ biến nhất của du học sinh Việt Nam. Giữa đại dịch Covid-19, tuy số lượng
du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản giảm, nhưng Việt Nam vẫn đứng thứ 2 trong số các quốc gia gửi sinh viên đến Nhật Bản học đại
học. Trong khi đó, Hàn Quốc đang trở thành quốc gia mới tiếp nhận sinh viên Việt Nam với tốc độ tăng trưởng nhanh và chưa có dấu
hiệu hạ nhiệt. Chương trình giảng dạy của các trường đại học tại Nhật Bản và Hàn Quốc, đặc biệt là chương trình đào tạo bằng tiếng
Anh ngày càng có sức hút do có điều kiện tuyển sinh dễ tiếp cận, chi phí và thời gian hợp lý cùng lợi thế về ngôn ngữ sau khi tốt nghiệp
của sinh viên. Đến năm 2030, du học Nhật Bản và Hàn Quốc được dự báo sẽ tiếp tục là một trong những lựa chọn hàng đầu của sinh
viên Việt Nam. Tuy nhiên, để tăng cường số lượng và chất lượng du học sinh, cần có sự tham gia của cả Chính phủ, các trường đại học,
phụ huynh và sinh viên.
Từ khóa: du học, Nhật Bản, Hàn Quốc, sinh viên Việt Nam.
JEL Codes: I23, F22, O15
TRENDS IN STUDYING ABROAD AT THE UNIVERSITY LEVEL OF VIETNAMESE STUDENTS IN JAPAN AND KOREA
Abstract: For many years, Japan has always been the most popular destination for Vietnamese students. In the midst of the Covid-
19 pandemic, despite the decline in the number of Vietnamese students entering into Japan, Vietnam is still ranked 2nd among the
countries that send their students to Japanese universities. Meanwhile, Korea has become a new receiving country for Vietnamese
students with a fast growth rate without any signs of cooling down. Japanese and Korean universities, especially those that English-
based programs are increasingly attractive with the accessible admissions conditions, cost and time saving, and students' language
advantages after graduation. By 2030, studying abroad in Japan and Korea is forecasted to be one of the top choices of Vietnamese
students as it is at present. However, in order to increase both quantity and quality of international students, there should be joint
participation of the governments, universities as well as students and their parents.
Key words: studying abroad, Japan, Korea, Vietnamese students.
—————
* ThS., Viện Nghiên cứu con người, gia đình và giới.
Email: thanhhuyen9306@gmail.com

KINH TẾ - LAO ĐỘNG
Taåp chñ
Kinh tế & Lao động
Söë 1 thaáng 10/2025
48
Bảng 1. Số lượng sinh viên Việt Nam nhập học tại
các trường đại học ở Nhật Bản và Hàn Quốc
Nguồn: OECD, JASSO, Bộ Giáo dục Hàn Quốc và
tổng hợp của tác giả
Giai đoạn 2020 - 2021, nhiều sinh viên nước
ngoài đã hủy bỏ hoặc hoãn kế hoạch học tập tại
Nhật Bản. Do sự bùng phát và diễn biến căng
thẳng của đại dịch Covid-19 và những biện pháp
kiểm soát biên giới của Nhật Bản, việc nhập cảnh
trở nên khó khăn và hầu hết các trường đại học
chuyển sang hình thức giảng dạy từ xa. Theo đó,
số lượng du học sinh Việt Nam năm 2021 giảm
14,6% so với năm 2019 (JASSO, 2019, 2021). Trong
khi đó, số lượng sinh viên quốc tế nói chung và
sinh viên Việt Nam nói riêng nhập học tại các
trường đại học Hàn Quốc tiếp tục tăng (MOE,
“Objectives and Types of Higher Education Institutions”),
khoảng 13% vào năm 2020 và 5% vào năm 2021.
Nhìn chung, trong giai đoạn này, Việt Nam vẫn là
quốc gia xếp hạng thứ 2 về số lượng du học sinh
đang theo học bậc đại học tại Nhật Bản và Hàn
Quốc (JASSO, 2021; Jung 2020).
Bên cạnh đó, do nhầm lẫn giữa du học và xuất
khẩu lao động, du học sinh Việt Nam nói chung
thường vi phạm pháp luật Nhật Bản và Hàn Quốc
liên quan đến thời gian làm thêm của sinh viên
quốc tế, hay không cân bằng được giữa học tập và
làm thêm dẫn đến điểm chuyên cần và kết quả
học tập không đạt yêu cầu, từ đó bị từ chối yêu
cầu gia hạn thị thực, làm gián đoạn việc học và
thậm chí là lưu trú bất hợp pháp (VNS, 2019). Theo
số liệu của Bộ giáo dục Hàn Quốc, năm 2018,
khoảng 12.500 sinh viên quốc tế lưu trú bất hợp
pháp tại Hàn Quốc - 63% đến từ Việt Nam (Jung,
“South Korea - Future Hub of International Education?”).
Thực trạng này đã dẫn đến mối lo ngại cho sinh
viên và phụ huynh Việt Nam, tạo ra ấn tượng tiêu
cực về việc du học tại hai quốc gia này.
2. Các yếu tố tác
động đến lựa chọn
du học nhật Bản và
hàn Quốc của sinh
viên Việt nam
2.1. Quan hệ đối ngoại bền chặt với Việt Nam
Đến nay, quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng
giữa Việt Nam - Nhật Bản luôn nhận được sự quan
tâm của Chính phủ và nhân dân hai nước. Đặc biệt,
với chính sách đối ngoại nhằm tăng cường ảnh
hưởng của Nhật Bản ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình
Dương, cũng như với vai trò, đóng góp và ảnh
hưởng của Việt Nam trong các vấn đề khu vực và
quốc tế, quan hệ song phương liên tục tạo kỷ lục
mới về thương mại, đầu tư... (Bộ Quốc phòng, 2021).
Tương tự, Việt Nam là đối tác hợp tác chiến lược,
cũng là đối tác trọng tâm trong “Chính sách hướng
Nam mới tăng cường” của Hàn Quốc, hướng tới
xây dựng quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn
diện. Hợp tác về thương mại, giao lưu nhân dân...
luôn được đặc biệt quan tâm trong những năm
gần đây. Sự có mặt của các thỏa thuận hợp tác với
các nhà đầu tư, địa phương, tổ chức của Hàn Quốc
lên đến 76 tỉnh, thành, địa phương của Việt Nam
(Linh, 2021).
Dựa trên nền tảng vững chắc về quan hệ Việt -
Nhật và Việt - Hàn ngày càng phát triển sâu rộng,
chất lượng du học và các vấn đề về an sinh xã hội
của du học sinh Việt Nam ngày càng được chú
trọng để giúp tăng nguồn lao động chất lượng cao
cho cả hai nước. Nói cách khác, tăng cường hợp tác
kinh tế, thương mại song phương đã thúc đẩy hợp
tác giáo dục giữa các nước cũng như thương hiệu
quốc gia của Nhật Bản, Hàn Quốc trong ấn tượng
của người Việt, có tác động không nhỏ đến số
lượng du học sinh Việt Nam và tốc độ tăng trưởng
của những con số này trong các năm qua.
2.2. Văn hóa đặc sắc
Để thu hút sự chú ý quan tâm và gắn kết văn hóa,
Nhật Bản và Hàn Quốc tiến hành nhiều chính sách

KINH TẾ - LAO ĐỘNG
tapchikinhtelaodong@dhcd.edu.vn
49
và phương thức truyền bá văn hóa. Xét đến ảnh
hưởng của văn hóa đối với giới trẻ, một trong những
công cụ thành công nhất chính là phim ảnh và âm
nhạc. Đặc biệt, với sự phổ biến của mạng thông tin
tại Việt Nam hiện nay, học sinh, sinh viên càng có
nhiều khả năng và cơ hội tiếp cận sớm cũng như
hấp thụ những đặc sắc văn hóa Nhật, Hàn.
Với Nhật Bản, hình ảnh đất nước được quảng bá
qua từng khung truyện, thước phim; qua nghệ thuật
xếp giấy Origami; qua sự tinh tế trong nấu ăn và bài
trí ẩm thực... Tất cả những nét văn hóa Nhật này đã
len lỏi vào nhận thức của người trẻ Việt Nam từ thời
thơ ấu, trở thành đặc trưng quốc gia của Nhật Bản.
Chẳng hạn, truyện tranh Manga, hoạt hình Anime
với nội dung đơn giản, nhân vật gần gũi và đầy tính
nhân văn là những ký ức tuổi thơ gắn bó với các thế
hệ trẻ Việt Nam. Đến nay, các loại hình giải trí này
vẫn có sức hút rất lớn, kể cả đối với thanh thiếu niên
Việt Nam. Trong khảo sát về lý do lựa chọn du học
Nhật Bản, 61,3% du học sinh trả lời rằng tình cảm
với xã hội Nhật Bản là một trong những nhân tố
quan trọng, hay 44,3% du học sinh muốn đến Nhật
Bản để tìm hiểu về văn hóa hoặc học tiếng Nhật
(JASSO, 2020).
Không nhẹ nhàng và thầm lặng như quảng bá
văn hóa Nhật Bản, văn hóa Hàn Quốc đến với giới
trẻ Việt Nam một cách nhanh chóng và trở thành
trào lưu mạnh mẽ. Làn sóng Hàn Quốc bắt đầu từ
phim ảnh với nội dung mới mẻ, diễn viên ưa nhìn,
thời trang độc đáo, sau đó mở rộng và phát triển
đột phá qua âm nhạc với những sản phẩm có vũ
đạo chuyên nghiệp, âm thanh bắt tai... (MCST, 2022).
Với sự xuất hiện của những bài hát và nhóm nhạc
Hàn Quốc có độ phủ sóng toàn cầu như Gangnam
Style vào năm 2012, hay nhóm nhạc BTS,
BlackPink... trong những năm gần đây, sự ảnh
hưởng của của văn hóa Hàn đến giới trẻ Việt Nam
ngày càng lớn. Làn sóng Hàn Quốc đã hình thành
hoặc thúc đẩy niềm yêu thích của giới trẻ với văn
hóa cũng như nguyện vọng du học tại xứ sở kim chi,
khiến số lượng du học sinh tại Hàn Quốc đang ngày
càng tăng lên với tốc độ nhanh.
2.3. Chi phí du học hợp lý
Theo thống kê của UNESCO (UNESCO
,
2022), 5
quốc gia tiếp nhận số lượng du học sinh Việt Nam
nhiều nhất theo thứ tự bao gồm: Nhật Bản, Úc, Hàn
Quốc, Canada, Pháp. Trong đó, Nhật Bản và Hàn
Quốc là 2 quốc gia châu Á duy nhất và có chi phí du
học cạnh tranh hơn so với các quốc gia khác.
Biểu đồ 1. Chi phí du học hàng năm ở một số
quốc gia (USD)
Nguồn: HSBC, JASSO, Ministry of Education
of Korea
Trong tình hình hiện nay, khi 75% học sinh trung
học phổ thông quan tâm đến vấn đề chi phí học đại
học khi lựa chọn trường (Selingo, The New Generation
of Students: How Colleges Can Recruit, Teach, and Serve
Gen Z.); đặc biệt, tại Việt Nam, phần lớn sinh viên du
học tự túc thì Nhật Bản và Hàn Quốc trở thành điểm
đến du học được ưu tiên. Với chi phí tương đương
nhau, Nhật Bản có phần chiếm ưu thế nhờ có nền
giáo dục tiên tiến, hiện đại và có chất lượng được
xếp hạng hàng đầu thế giới (CNBC, 2018). Tuy nhiên,
Hàn Quốc cũng được sinh viên Việt Nam đánh giá
cao do thời gian hoàn thành các khóa học để đạt
được chứng chỉ tiếng Hàn tương đương Topik 3 -
trình độ ngoại ngữ tuyển sinh đầu vào của đại học -
là khoảng 1 năm tại các trường tiếng tại Hàn Quốc,
ngắn hơn so với 2 năm để đạt được chứng chỉ tiếng
Nhật tương đương N2 (MAP, 2022); theo đó, chi phí
học ngôn ngữ của sinh viên ít hơn và có cơ hội tham
gia vào thị trường lao động sớm hơn.
2.4. Thông tin minh bạch, dễ tìm kiếm
Ở Nhật Bản và Hàn Quốc - nơi trình độ phát triển
hàng đầu châu Á về khoa học công nghệ, các thành
tựu nghiên cứu công nghệ thông tin được ứng dụng

KINH TẾ - LAO ĐỘNG
Taåp chñ
Kinh tế & Lao động
Söë 1 thaáng 10/2025
50
trong giáo dục để tăng cường trải nghiệm của người
học. Trong công tác tuyển sinh nói riêng, Chính phủ
mỗi quốc gia đã xây dựng một trang thông tin tích
hợp (Study in Korea và Study in Japan) để tổng hợp
thông tin về du học, các trường đại học mà học sinh,
sinh viên có thể so sánh và lựa chọn theo ngành
học, ngôn ngữ giảng dạy chính, khuôn viên trường...
Dựa trên trang thông tin chính thức, đa ngôn ngữ
(trong đó có tiếng Việt) này, cẩm nang du học toàn
diện từ các loại học bổng, chi phí du học, cuộc sống
sinh viên, cơ hội nghề nghiệp... được đưa ra một
cách chính thống. Theo đó, phụ huynh và học sinh
đang tìm kiếm trường đại học có thể yên tâm về tính
chính xác của thông tin.
2.5. Sinh viên Việt Nam có xu hướng tìm kiếm
cơ hội học tập bậc cử nhân ở nước ngoài
Tại Việt Nam, số lượng sinh viên đi du học ngày
càng tăng, còn số lượng tuyển sinh của các trường
đại học trong nước vẫn ở mức ổn định trong những
năm qua. Nói cách khác, sinh viên Việt Nam đang
“trở nên cơ động hơn trên trường quốc tế trong việc
theo đuổi giáo dục đại học”(UNESCO/JICA, 2018). Điều
này có thể được giải thích rằng thu nhập bình quân
đầu người Việt Nam đang dần được cải thiện; theo
đó, khả năng kinh tế của mỗi gia đình đủ để đáp ứng
nhu cầu và nguyện vọng du học của học sinh, sinh
viên. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập
Đảng, Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước đang
phát triển có công nghiệp hiện đại và thu nhập
trung bình cao (Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIII, “Để Việt Nam trở thành nước phát triển, thu
nhập trung bình cao.”).
2.6. Các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh
có nhiều ưu điểm
Từ năm 2009, 13 trường đại học công lập và tư
lập hàng đầu Nhật Bản được Chính phủ hỗ trợ xây
dựng các chương trình học bằng tiếng Anh và tạo
lập các nguồn lực khác để thu hút sinh viên quốc tế
đến học tập các trường đại học này (Foundation,
2022). Bên cạnh đó, thực hiện kế hoạch quốc tế hóa
giáo dục của Chính phủ, các trường đại học khác
như Đại học Quốc tế Tokyo, Đại học Ritsumeikan
APU... cũng triển khai xây dựng và tuyển sinh cho
các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh. Nhìn
chung, tính đến năm 2017, có 48 chương trình cử
nhân được giảng dạy bằng tiếng Anh bởi 37,1%
trường đại học của Nhật Bản (UNESCO/JICA, 2018).
Tại Hàn Quốc, hiện nay, một số trường đại học tư
nhân lớn có khoảng 30% khóa học bằng tiếng Anh,
số lượng chương trình cử nhân được giảng dạy hoàn
toàn bằng tiếng Anh cũng tăng mạnh với sự thành
lập của các Khoa đào tạo Quốc tế (NIIED, 2022).
Để nộp hồ sơ ứng tuyển vào chương trình cử
nhân bằng tiếng Anh, thí sinh không cần đáp ứng
các yêu cầu về năng lực tiếng Nhật hay tiếng Hàn.
Thay vào đó, các trường đại học đặt ra điều kiện
tổng hợp về trình độ học vấn và năng lực tiếng Anh.
Thông thường, thí sinh cần trải qua các vòng như
hồ sơ, thi tuyển và phỏng vấn; trong đó, hồ sơ bao
gồm các tài liệu như: Học bạ trung học phổ thông,
Chứng chỉ tiếng Anh quốc tế, Thư giới thiệu...
Sinh viên theo học chương trình này có lợi thế
cạnh tranh lớn về ngôn ngữ và văn hoá bản địa. Dù
được đào tạo bằng tiếng Anh, nhưng sinh viên vẫn
cần học một số tín chỉ tiếng Nhật/Hàn bắt buộc. So
với chương trình giảng dạy bằng tiếng Nhật hoặc
tiếng Hàn, sinh viên tốt nghiệp chương trình cử
nhân bằng tiếng Anh sẽ biết tối thiểu ba ngôn ngữ
(tiếng mẹ đẻ, tiếng Anh, tiếng Nhật/Hàn). Do đó, sẽ
có nhiều hướng đi hơn cho tương lai như: làm việc
tại các công ty nội địa Nhật/Hàn, các công ty liên
doanh hoặc công ty đa quốc gia, hay học cao học
tại các nước nói tiếng Anh.
2.7. Quan điểm của phụ huynh
Theo báo cáo do INTO University Partnership
công bố năm 2022 liên quan tới quan điểm của giới
trẻ Việt Nam về việc đi du học thì có tới hơn 4/5 học
sinh cho biết cha mẹ họ đóng vai trò quyết định và
hai yếu tố mà phụ huynh quan tâm nhất là chi phí và
sự an toàn. (INTO.U.P, 2022)
Phần lớn học sinh ở cấp phổ thông hoặc đại học
thường chưa tự chủ về tài chính. Trong khi đó, quyết
định đi du học là xác định đầu tư một số tiền không
hề nhỏ. Vì vậy, phụ huynh học sinh - với vai trò “nhà
đầu tư” chính cũng sẽ là người đưa ra quyết định
quan trọng trong việc có cho con đi du học hay
không, lựa chọn quốc gia nào, thành phố nào,
trường nào phù hợp với điều kiện tài chính của gia

KINH TẾ - LAO ĐỘNG
tapchikinhtelaodong@dhcd.edu.vn
51
đình. Như đã đề cập ở phần trên, Nhật Bản và Hàn
quốc là hai quốc gia có mức chi phí du học hợp lý,
nhiều cơ hội học bổng và hỗ trợ tài chính nên đây là
hai điểm đến được nhiều phụ huynh lựa chọn cũng
là điều dễ hiểu.
Nhật Bản và Hàn Quốc đều được xác định là
những quốc gia an toàn, tình hình an ninh, trật tự
luôn được đảm bảo, người dân thượng tôn pháp
luật, đề cao kỷ luật, môi trường học tập nghiêm túc
và chất lượng cuộc sống cao. Với khoảng cách địa lý
khá gần Việt Nam, chỉ mất 4-6 tiếng di chuyển bằng
máy bay với nhiều đường bay thẳng và chi phí hợp
lý, du học sinh thuận lợi về thăm nhà vào các dịp lễ,
Tết. Phụ huynh cũng dễ dàng sang thăm con, đây
chỉnh là những yếu tố giúp phụ huynh cảm thấy an
tâm khi cho con du học tại hai quốc gia này.
3. Dự báo tiềm năng du học nhật Bản, hàn
Quốc tới năm 2030
Theo Kế hoạch Cải cách Giáo dục Quốc gia năm
2013 của Nhật Bản, một trong những ưu tiên giáo
dục hàng đầu là thúc đẩy quốc tế hóa bằng cách
nâng cao tổng số sinh viên đi du học nước ngoài và
duy trì sự cân bằng giữa số lượng du học sinh đến và
đi (Chawala Sophia, 2021). Theo đó, Chính phủ Nhật
Bản luôn tích cực tiếp nhận du học sinh quốc tế, xây
dựng các chương trình thu hút nhân tài đến Nhật
Bản để học tập và nghiên cứu... Đặc biệt, trong quan
hệ với Việt Nam, Nhật Bản chú trọng hợp tác giáo
dục và phát triển ngoại giao văn hóa. Đến nay, Nhật
Bản đã hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao thông qua các học bổng chính phủ, học
bổng do doanh nghiệp Nhật Bản cấp cho sinh viên
Việt Nam, Học bổng phát triển nguồn nhân lực... (Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Cục Hợp tác Quốc tế, 2019). Những
hoạt động trên làm sâu sắc nhận thức và hiểu biết,
tăng cường thiện chí của người Việt với Nhật Bản, từ
đó tiếp tục tác động trực tiếp (cơ hội du học) và gián
tiếp (thiện chí quốc tế) đến lựa chọn du học của sinh
viên Việt Nam.
Về phía Hàn Quốc, chính phủ cũng chia sẻ quan
điểm rằng giáo dục quốc tế góp phần thúc đẩy
ngoại giao văn hóa với các quốc gia. Bên cạnh đó,
trong những năm gần đây, các quốc gia ASEAN trở
thành một trong những thị trường sinh viên quốc tế
mà Hàn Quốc nhắm tới để đối phó với khủng hoảng
trong giáo dục đại học - quá nhiều trường đại học
được thành lập trong ba thập niên vừa qua nhưng
số lượng sinh viên nhập học không đủ để “lấp đầy
Biểu đồ 2. Dự báo tiềm năng du học đại học của sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản và Hàn Quốc
Nguồn: OECD, JASSO, Korean Ministry of Education và tổng hợp của tác giả
Đơn vị: nghìn người

