CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG "SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC"
NĂM 2007
Tên công trình:
CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT
TRONG "THANH HIÊN THI TẬP
VÀ "NAM TRUNG TẠP NGÂM" CỦA NGUYỄN DU
Thuộc nhóm ngành: XH2a
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG "SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC"
NĂM 2007
Tên công trình:
CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT
TRONG "THANH HIÊN THI TẬP
VÀ "NAM TRUNG TẠP NGÂM" CỦA NGUYỄN DU
Thuộc nhóm ngành: XH2a
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU ..................................................................................... 3
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ......................................................................................... 3
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ................................................................................................ 4
3. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI ............................................................................................... 5
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................................... 6
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI – KẾT CẤU ĐỀ TÀI ................................................ 6
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG ..................................................................................... 7
CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ................................................................ 7
1. Thời đại - gia thế và cuộc đời Nguyễn Du ......................................................... 7
1.1. Thời đại Nguyễn Du ................................................................................... 7
1.2. Gia thế và cuộc đời Nguyễn Du .................................................................. 8
2. Thơ chữ Hán Nguyễn Du ................................................................................... 9
2.1. "Thanh Hiên thi tập" ................................................................................. 10
2.2. "Nam Trung tạp ngâm": ............................................................................ 10
2.3. "Bắc hành tạp lục" .................................................................................... 10
3. Cảm hứng nghệ thuật dƣới mắt các nhà lý luận ............................................... 11
3.1. Khái niệm cảm hứng ................................................................................. 11
3.2. Cảm hứng nghệ thuật ................................................................................ 11
CHƢƠNG II: CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG "THANH HIÊN THI TẬP"
VÀ "NAM TRUNG TẠP NGÂM" CỦA NGUYỄN DU ................................................... 13
Trang 1
1. Cảm hứng trữ tình ............................................................................................ 13
1.1. Buồn hận và cô độc ................................................................................... 13
1.2. Bức chân dung tự họa ............................................................................... 16
1.3. Nỗi nhớ quê hƣơng và ngƣời thân ............................................................ 18
1.4. Sự trôi nhanh của thời gian ....................................................................... 19
1.5. Cuộc đấu tranh giữ mình ........................................................................... 21
2. Cảm hứng hiện thực ......................................................................................... 25
2.1. Những nghịch lý cuộc đời ......................................................................... 25
2.2. Danh lợi chốn quan trƣờng ....................................................................... 29
CHƢƠNG III: VÀI NÉT ĐẶC SẮC VỀ PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN CẢM
HỨNG NGHỆ THUẬT ....................................................................................................... 31
1. Những biểu tƣợng nghệ thuật .......................................................................... 31
2. Giọng điệu nghệ thuật ...................................................................................... 38
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN ..................................................................................... 42
THƢ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 43
Trang 2
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Nhắc tới Nguyễn Du, ngƣời ta nghĩ ngay đến "Truyện Kiều" - một dấu son chói
lọi trong sự nghiệp sáng tác của ông. Nhƣng sẽ thật thiếu sót nếu nhƣ chúng ta chỉ nhắc đến
"Truyện Kiều" mà quên dành cho thơ chữ Hán Nguyễn Du sự quan tâm và một vị trí xứng
đáng. Những áng thơ chữ Hán của ông đƣợc đánh giá là "mới lạ, độc đáo trong một nghìn
năm thơ chữ Hán của ông cha ta" cũng nhƣ so với mấy ngàn năm thơ chữ Hán của Trung
Quốc nữa [dẫn theo tr.3; 24].
"Về phương diện kết tinh nghệ thuật, thơ chữ Hán Nguyễn Du đã đạt đến trình độ cổ
điển, đỉnh cao của nền văn học trung đại Việt Nam ". Mặt khác "về tư tưởng, thơ chữ Hán
của ông như một khối trầm tích lớn, phần chìm cùa tảng băng trôi" [tr. 11; 1]. Nếu nhƣ ở
Truyện Kiều, tâm tình Nguyễn Du đƣợc bộc lộ gián tiếp, đƣợc ánh xạ qua sự kể chuyện
khách quan thì thơ chữ Hán đƣợc xem là nơi giải bày trực tiếp tấm lòng của ông, ghi dấu
trung thành những sự biến trong cuộc đời thăng trầm của nhà thơ.
Lựa chọn đề tài "Cảm hứng nghệ thuật trong "Thanh Hiên thi tập" và "Nam trung
tạp ngâm" của Nguyễn Du, ngƣời viết muốn nhận diện sâu sắc hơn về một bản sắc thơ độc
đáo đã chiêm một vị trí đặc biệt quan trọng trên văn đàn văn học dân tộc giai đoạn cuối thế
kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX. Những giá trị đặc sắc về nghệ thuật và tầm vóc tƣ tƣởng thơ chữ
Hán Nguyễn Du đã đóng góp lớn lao vào tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.
1.2. Thực hiện đề tài này, ngƣời viêt bƣớc đầu làm quen với công việc nghiên cứu
khoa học - một công việc đòi hỏi tính nghiêm túc, khoa học cao. Mặt khác, bên cạnh "Truyện
Kiều", thơ chữ Hán Nguyễn Du đã đƣợc đƣa vào giảng dạy ở trƣờng phổ thông. Đây là lĩnh
vực còn mới mẻ và gây không ít khó khăn đối với giáo viên. Vì vậy việc thực hiện đề tài này
sẽ giúp ngƣời viết trang bị cho
Trang 3
mình những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết nhằm phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy ở
trƣờng phổ thông sau này.
1.3. Đề tài "Cảm hứng nghệ thuật trong "Thanh Hiên thi tập" và "Nam trung tạp
ngâm" của Nguyễn Du" thực sự đã gây hứng thú cho ngƣời viết ngay từ những buổi đâu tập
hợp tƣ liệu. Điều đó đã trở thành động lực trong suốt quá trình ngƣời viết thực hiện khoa
luận.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Về mảng thơ chữ Hán, ngƣời viết chỉ chú ý điểm qua những công trình nghiên cứu từ
sau cách mạng tháng Tám năm 1945.
Năm 1965, một công trình nghiêm túc đáng đƣợc chú ý ra mắt vào dịp kỷ niệm 200
năm năm sinh Nguyễn Du. Đó là cuốn "Thơ chữ Hán Nguyễn Du" do Lê Thƣớc, Trƣơng
Chính sƣu tầm, hiệu đính và chú thích với 249 bài thơ.
Đến năm 1978, cuốn sách trên đƣợc tái bản, nhà xuất bản Vãn học ấn hành. Trong
phần giới thiệu, Trƣơng Chính nhận xét: Thơ chữ Hán Nguyễn Du, "bài nào cũng chứa đựng
một lời tâm sự " và "bộc lộ thái độ sống của ông một cách rõ nét".
Nguyễn Lộc trong cuốn "Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ
XIX" có những nhận định xác đáng về tâm sự của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán: "Buồn
thương như một tiếng đàn réo rắt, não ruột vang lên trong hầu hết các thi phẩm của ông" [tr.
304; 10].
Năm 1960, Hoài Thanh trong bài viết "Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ
Hán" khẳng định: "Các điều rõ ràng là Nguyễn Du không bằng lòng với toàn bộ cuộc đời lúc
bấy giờ" [tr. 35; 5].
Năm 1966, trong một bài viết có tên "Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán"
đăng trên Tạp chí Văn học, Xuân Diệu tỏ ra sắc sảo khi cho rằng: "Chính thơ chữ Hán chứa
đựng bóng hình, đời sống, nét mặt, mái tóc, dấu chân, tâm tình, suy nghĩ của Nguyễn Du" [tr.
44; 5].
Ở bài viết "Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán". Nguyễn
Huệ Chi đã chú ý đến mặt trữ tình trong cảm hứng nghệ thuật
Trang 4
Nguyễn Du: "Thơ chữ Hán khắc họa cái hình ảnh trữ tình của chỉnh Nguyễn Du, một hình
ảnh rất động trước mọi biến cổ của cuộc đời" [tr. 57; 5]. Nguyễn Huệ Chi dành sự quan tâm
đến một cảm hứng khác của Nguyễn Du là: "Xót thương cho một loại người có tài và có tình"
[tr. 71; 5].
Trong luận án "Nguyễn Du và Đỗ Phủ - những tương đồng và dị biệt về tư tưởng
nghệ thuật", Hoàng Trọng Quyền nhấn mạnh "cảm quan hiện thực" của Nguyễn Du trong
sáng tác chữ Hán, thể hiện ở hai khía cạnh của "cái nhìn hiện thực" là "cải nhìn từ những
nghịch lý" và "cải nhìn chiều kích".
Xét về phƣơng diện nghệ thuật, công trình nghiên cứu đáng lƣu ý là cuốn "Đặc điểm
nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du" của Lê Thu Yến. Công trình này tiến hành những khảo
sát cụ thể, những chất liệu minh họa và phân tích phạm trù: hình ảnh con ngƣời nghệ thuật,
không gian và thời gian nghệ thuật. Qua đó, tác giả Lê Thu Yến nhận thấy: "có rất nhiều
Nguyễn Du trong một Nguyễn Du".
Trên đây là một số bài viết, công trình nghiên cứu về thơ chữ Hán Nguyễn Du có đề
cập hoặc có liên quan trực tiếp đến đề tài cảm hứng nghệ thuật. Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu
kết quả của những ngƣời đi trƣớc, chúng tôi bắt đầu sắp xếp, hệ thống lại và phân tích rõ hơn
nhằm làm sáng tỏ yêu cầu của đề tài.
3. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Do điều kiện thời gian và tài liệu hạn chế, chúng tôi chọn khảo sát các tác phẩm thơ
chữ Hán Nguyễn Du đƣợc trích trong cuốn "Nguyễn Du - tác phẩm và lịch sử văn bản" do
Nguyễn Thạch Giang và Trƣơng Chính biên khảo và chú giải, nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh
ấn hành, tái bản năm 2000. Đây là cuốn sách đƣợc đánh giá là có độ tin cậy cao. Ngƣời viết
tiến hành khảo sát thơ chữ Hán trong hai tập "Thanh Hiên thi tập" và "Nam trung tạp
ngâm" là chủ yếu, bên cạnh đó có xem xét đối chiếu một số bài thơ trong tập "Bắc Hành tạp
lục".
Cảm hứng nghệ thuật là một vấn đề thuộc phạm trù lý luận văn học. Cảm hứng nghệ
thuật đƣợc phân biệt ở hai dạng thức: Cảm hứng sáng tạo của nhà văn và cảm hứng tƣ tƣởng
của tác phẩm. Hai cảm hứng này liên quan chặt chẽ với nhau nhƣng không phải là một. Nói
tới cảm hứng sáng tạo của nhà văn là nói đến trạng thái tâm lý sáng tạo. Còn nói tới cảm
hứng tƣ tƣởng - cảm hứng chủ đạo -
Trang 5
cảm hứng nghệ thuật của tác phẩm là cảm hứng của nhà văn đƣợc truyền đến hệ thống hình
tƣợng mà họ miêu tả. Đề tài mà chúng tôi lựa chọn hƣớng đến mục tiêu tìm hiểu cảm hứng
này. Điều đó đồng nghĩa với việc nhận ra giá trị của sáng tác Nguyễn Du, tìm ra những lời
nhắn gửi đích thực của thi nhân cho hậu thế.
Thơ chữ Hán Nguyên Du không nói hết đƣợc tâm hồn ông, cần phải tổng hợp cả thơ
Nôm và thơ Hán mới có cái nhìn toàn diện và sâu sắc. Tuy nhiên trong đề tài này ngƣời viết
chỉ xét hai tập thơ chữ Hán thể hiện rõ nhất "những suy tư bạc tóc" của thi nhân.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi phối hợp vận dụng nhiều phƣơng pháp: phƣơng
pháp phân tích và tổng hợp, phƣơng pháp phân loại thống kê, phƣơng pháp so sánh liên
tƣởng, phƣơng pháp phối hợp đồng đại và lịch đại. Đồng thời, kết hợp các thao tác: diễn dịch,
quy nạp. Tất cả đều dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và quan điểm lịch sử cụ thể.
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI – KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Khoa luận đƣợc thực hiện trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của những
ngƣời đi trƣớc, ngƣời viết chỉ sắp xếp lại, hệ thống lại những luận điểm quan trọng. Bên cạnh
đó, ngƣời viết miêu tả sâu hơn, phân tích và lý giải thơ chữ Hán Nguyễn Du gắn liền với lý
luận văn học - vấn đề cảm hứng nghệ thuật, mà cụ thể hơn là cảm hửng nghệ thuật trong thơ
trữ tình trung đại.
Kết cấu phần NỘI DUNG của đề tài gồm 3 chƣơng:
Chƣơng I: Những vấn đề chung
1. Thời đại - gia thế và cuộc đời Nguyễn Du
2. Thơ chữ Hán Nguyễn Du
3. Cảm hứng nghệ thuật dƣới mắt các nhà lý luận
Chƣơng II: Cảm hứng nghệ thuật trong "Thanh Hiên tập" và "Nam trung tạp ngâm"
1. Cảm hứng trữ tình
1.1. Buồn hận và cô độc
1.2. Bức chân dung tự họa
Trang 6
1.3. Nỗi nhớ quê hƣơng
1.4. Sự trôi nhanh của thời gian
1.5. Cuộc đấu tranh giữ mình
2. Cảm hứng thế sự
2.1. Những nghịch lý cuộc đời
2.2. Danh lợi chốn quan trƣờng
Chƣơng III: Vài nét đặc sắc về phƣơng thức biểu hiện cảm hứng nghệ thuật
1. Những biểu tƣợng nghệ thuật
2. Giọng điệu nghệ thuật
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Thời đại - gia thế và cuộc đời Nguyễn Du
1.1. Thời đại Nguyễn Du
Nguyễn Du sống trong một thời đại vô cùng rối ren: nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu
thế kỷ XIX.
1.1.1. Chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng
Xét trên bình diện hệ thống các sự kiện, bức tranh toàn cảnh xã hội Việt Nam thời Lê
mạt - Nguyễn sơ đầy rẫy những biến động. Chế độ phong kiến tập quyền ngày càng lộ rõ
những ung nhọt, ngày càng lún sâu hơn vào những căn bệnh trầm kha. Đặc biệt là cuộc đối
đầu giữa hai dòng họ: họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong kéo dài hơn hai
thế kỷ (từ năm 1570 đến 1786).
1.1.2. Đời sống nhân dân cực khổ lầm than
Trăm họ, muôn dân thời này khốn đốn trăm bề. Chiến tranh, thiên tai và áp bức, thuế
khóa nặng nề khiến ngƣời dân không một ngày thấy mặt trời. Nạn đói lan tràn, "Việt sử thông
giảm cương mục" còn ghi lại cảnh tƣợng "Dân lưu vong bồng bế, dắt díu nhau đi kiếm ăn đầy
đường (...). Người chết đói ngổn
Trang 7
ngang, người sống không còn một phần mười. Làng nào có tiếng là trù mật cũng chi còn năm
ba hộ mà thôi".
1.2. Gia thế và cuộc đời Nguyễn Du
1.2.1. Gia thế
Nguyễn Du xuất thân từ một gia đình đại quý tộc, thuộc dòng họ nổi tiếng về đƣờng
khoa hoạn, nhiều ngƣời đỗ đạt, làm quan to. Dân gian thƣờng truyền tụng câu ca dao:
Bao giờ ngàn Hống hết cây
Sông Rum hết nước, họ này hết quan
Cha Nguyễn Du - ông Nguyễn Nghiễm thông minh học rộng, từng giữ chức tể tƣớng
trong triều Lê. Anh em Nguyễn Du đều đậu cao, làm quan to: Nguyễn Khản đậu tiến sĩ,
Nguyễn Triều trúng tam triều thi hội, giữ chức Trấn thủ Hƣng Hóa. Nguyễn Luyện trúng tam
trƣờng thi hƣơng, Nguyễn Tƣớc và Nguyễn Nễ trúng tứ trƣờng thi hƣơng.
Gia đình Nguyễn Du có bề dày lịch sử, về truyền thống văn học nghệ thuật nổi tiếng.
Ông nội Nguyễn Du - Nguyễn Quỳnh là ngƣời chú giải Kinh Dịch. Cha lại là một sử gia, làm
nhiều thơ văn. Anh cả Nguyễn Khản giỏi thơ Nêm, thƣờng hay xƣớng họa với chúa Trịnh
Sâm. Đặc biệt, Nguyễn Du chịu ảnh hƣởng sâu sắc từ ngƣời mẹ trong những ngày còn thơ bé.
Mẹ ông là bà Trần Thị Tân (vợ thứ ba của Nguyên Nghiêm) vốn là một cô gái xứ Kinh Bắc
giỏi nghề hát xƣớng.
1.2.2. Cuộc đời Nguyễn Du
Nguyễn Du tên chữ là Tố Nhƣ, hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi
Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh năm 1766 (có nơi ghi 1765) niên hiệu Cảnh Hƣng thứ 26 đời
vua Lê Hiển Tôn. Ông là con thứ bảy của Xuân quận công Nguyễn Nghiễm. Tuy đỗ thấp (thi
hƣơng ở Sơn Nam, đỗ tam trƣờng), nhƣng ông là ngƣời thông minh, học rộng, thông hiểu cả
tam giáo: Nho, Phật, Đạo. Cảnh sống sung túc từ thuở bé mau chóng chấm dứt trƣớc những
biến động của xã hội và gia đình. Năm Nguyễn Du mƣời tuổi, cha ông qua đời. Ba năm sau,
mẹ
Trang 8
Nguyễn Du cũng mất, bỏ lại ông và bốn anh em, chƣa một ai đến tuổi trƣởng thành. Mồ côi
cả cha lẫn mẹ, anh em Nguyễn Du phải đến nƣơng nhờ ở nhà anh cả khác mẹ là Nguyễn
Khản. Chiến tranh loạn lạc xảy ra, bản thân Nguyễn Du cũng trôi dạt, "mười năm gió bụi" với
biết bao nỗi niềm.
Ông tận mắt chúng kiến cảnh "thay đổi sơn hà", gia đình ly tán, anh em lƣu lạc mỗi
ngƣời một nơi. Khi Quang Trung tiến quân ra Bắc, Nguyễn Du từng chạy theo vua Lê Chiêu
Thống nhƣng không kịp. Bản thân ông cũng từng có lúc đau khổ gần nhƣ tuyệt vọng: trôi dạt
từ đầu sông đến cuối bể, cơm không đủ ăn, ốm không thuốc uống. Nhƣng cũng chính những
bƣớc đƣờng thƣơng đau ấy đã giúp ông thật sự có dịp hiểu biết quần chúng, sống gần quần
chúng - ngọn nguồn của mọi giá trị tinh thần cao quý của dân tộc.
Trong thời gian ở Thái Bình - quê vợ Nguyễn Du, gia phả chép rằng "Ông tập hợp
hào mục, tính việc phục quốc nhưng chí không thành". Khi ngƣời vợ họ Đoàn mất, ông về
quê Hà Tĩnh làm "người đi săn ở núi Hồng" (Hồng Sơn Liệp Hộ), "người câu cá ở biển
Nam" (Nam Hải điếu đồ). Năm 1796 ông có ý định vào Nam giúp Nguyễn Ánh nhƣng bị trấn
tƣớng của Tây Sơn ở Nghệ An là Nguyễn Thận bắt giam, sau đó đƣợc tha. Từ đó, Nguyễn Du
về ở hẳn ở làng Tiên Điền một thời gian dài. Đây là những năm Nguyễn Du ở "dưới chân núi
Hồng".
Năm 1802, Gia Long lật đổ triều đại Tây Sơn. Tháng 8 năm ấy, Nguyễn Du đƣợc bổ
nhiệm làm tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam. Từ đó, Nguyễn Du đƣợc giữ
nhiều chức vụ khác nhau trong triều. Năm 1813, Nguyễn Du đƣợc thăng Cần chánh điện học
sĩ và đƣợc cử làm Chánh sứ Trung Quốc. Năm 1820, Minh Mệnh lên ngôi, định cử ông làm
Chánh sứ đi Trung Quốc lần nữa nhƣng chƣa kịp đi thì ông bị bệnh và mất đột ngột vào ngày
10 tháng 8 năm Đinh Thìn.
2. Thơ chữ Hán Nguyễn Du
Theo sự xác định của hai ông Lê Thƣớc và Trƣơng Chính, những ngƣời biên soạn
cuốn "Thơ chữ Hán Nguyễn Du" thì thơ chữ Hán Nguyễn Du đƣợc sáng tác liên tục trong
một thời gian dài từ năm nhà thơ 21 tuổi (1786) cho đến năm 49 tuổi (1814) trƣớc lúc chết
năm năm. Ba tập thơ chữ Hán của ông là:
Trang 9
- Thanh Hiên thi tập (Thanh Hiên tiền hậu tập)
- Nam Trung tạp ngâm
- Bắc hành tạp lục
Ở đề tài này, ngƣời viết tập trung tìm hiểu: "Thanh Hiên thi tập" và "Nam Trung tạp
ngâm".
2.1. "Thanh Hiên thi tập"
Gồm 78 bài thơ, sáng tác từ 1786 - 1804, giai đoạn từ năm Tây Sơn kéo quân ra Bắc
cho đến những năm kết thúc giai đoạn Nguyễn Du làm quan ở Bắc Hà. Tập thơ ghi lại tâm sự
của một con ngƣời đầy "hùng tâm", "tráng chi" nhƣng thời vận lỡ làng, cảnh ngộ gặp nhiều
điều bất nhƣ ý, đành ôm trong lòng mối u uất không cách gì giải tỏa đƣợc. Bao trùm tập thơ
là điệp khúc buồn thƣơng, u uẩn day dứt khôn khuây. Tập thơ đƣợc sáng tác trong 3 giai
đoạn:
- "Mười năm gió bụi" (1786 - cuối 1795)
- "Dưới chân núi Hồng" (1796 - 1802)
- "Làm quan ở Bắc Hà" (1802 - cuối 1804)
Có thể nói, đọc "Thanh Hiên thi tập" chúng ta nhìn thấy tâm hồn Nguyễn Du, con
ngƣời Nguyễn Du ở những góc chiếu rất khác nhau, đa dạng và phong phú.
2.2. "Nam Trung tạp ngâm":
"Nam Trung tạp ngâm" gồm 40 bài thơ, sáng tác từ năm 1805 - 1812, giai đoạn từ lúc
nhà thơ đƣợc thăng hàm Đông các điện học sĩ vào làm quan ở kinh đô Phú Xuân (gần bốn
năm) đến hết thời kỳ làm Cai bạ dinh Quảng Bình (ba năm, năm tháng). Gửi gắm ở tập thơ
này là tâm sự của nhà thơ trong những ngày làm quan không lấy gì làm vui vẻ, thoải mái.
Quan trƣờng đây những rối ren, ganh đua, lòng ngƣời hiểm ác khiến nhà thơ của chúng ta
luôn phải cẩn thận giữ gìn.
2.3. "Bắc hành tạp lục"
Trang 10
"Bắc hành tạp lục" gồm 132 bài thơ, đƣợc sáng tác trong khoảng 1813 - 1814, khi đó
Nguyễn Du đƣợc nhà Nguyễn cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc tuế cống. Tập thơ ghi lại
những điều tai nghe mắt thấy trên đƣờng đi sứ, "mỗi một cảnh, mỗi một di tích, mỗi một con
người của quá khứ và hiện tại trên đất nước Trung Hoa như xác nhận thêm một lần nữa
những điều nhà thơ từng nghiền ngẫm, nung nấu" [tr. 320; 10].
3. Cảm hứng nghệ thuật dưới mắt các nhà lý luận
3.1. Khái niệm cảm hứng
Theo Từ điển Tiếng Việt, "Cảm hứng là trạng thái tâm lý đặc biệt khi sức chú ý được
tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo
hoạt động có hiệu quả" [tr. 106; 14]. Song cần phân biệt cảm hứng thông thƣờng - cảm hứng
công việc với cảm hứng trong văn chƣơng - cảm hứng nghệ thuật. Phƣơng Lựu trong "Lý
luận văn học" phân biệt: "Cảm hứng có thể có trong tất cả các ngành sản xuất khi mà con
người lao động hoàn toàn tự nguyện theo những mục đích hoàn toàn phù hợp với lý tưởng và
khả năng của mình. Nhưng khác với thành phẩm của tất cả các ngành lao động khác, tác
phẩm văn học nghệ thuật còn chứa đựng tình cảm chủ quan của chủ thể sáng tạo"[tr. 209-
210; 12].
Một nhận định đáng để chúng ta lƣu tâm khi khảo sát về cảm hứng trong văn chƣơng
là nhận định của Hêghen: "Cảm hứng có ý nghĩa xã hội mới là cảm hứng chủ đạo cần có của
văn học".
3.2. Cảm hứng nghệ thuật
3.2.1. Khái niệm cảm hứng nghệ thuật
"Cảm hứng là một trạng thái căng thẳng nhưng say mê khác thường. Sự căng thẳng
của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc, khi đã đạt đến sự hài hòa, kết tinh, sẽ cháy bùng
trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ đến những mục tiêu da diết bằng con đường
gần như trực giác, bản năng" [tr. 210; 12]. Còn "cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm
mãnh liệt, say đắm, xuyên
Trang 11
suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây
tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận" [tr. 38; 8].
Cảm hứng nghệ thuật là một phạm trù thuộc về lý luận văn học, nó có nguồn gốc từ
tiếng Hy Lạp (pathos) tức là tình cảm sâu sắc, nồng nàn. Cảm hứng nghệ thuật bao giờ cũng
đậm đà, lắng lọc hơn những cảm hứng thông thƣờng. Đồng thời, cảm hứng này luôn gắn với
tƣ tƣởng và mang tính khuynh hƣớng rõ rệt. Cảm hứng nghệ thuật cũng là một yếu tố của nội
dung tác phẩm. Nó thống nhất các yếu tố khác nhƣ đề tài, chủ đề, tƣ tƣởng tác phẩm.
Cảm hứng nghệ thuật cũng là một yếu tố của nội dung tác phẩm, Nó thống nhất các
yếu tổ khác nhƣ đề tài, chủ đề, tƣ tƣởng tác phẩm, chi phối và quyết định hình tƣợng nghệ
thuật trong tác phẩm đó. Khảo sát cảm hứng nghệ thuật của một nhóm các sáng tác của cùng
một tác giả giúp ta hiểu thêm về phong cách tác giả đó và thế giới tâm hồn phong phú của họ.
3.2.2. Các loại cảm hứng nghệ thuật
Các loại cảm hứng thƣờng gắn bó với nhau, có thể chuyển hóa lẫn nhau, thâm nhập
vào nhau. Có thể kể ra một vài loại tiêu biểu nhƣ: cảm hứng nhân đạo, cảm hứng yêu nƣớc,
cảm hứng lãng mạn, cảm hứng trào phúng, cảm hứng về sự thật, cảm hứng hoài cổ, cảm hứng
bi kịch, cảm hứng anh hùng...
3.2.3. Cảm hứng nghệ thuật trong thơ trung đại
Cảm hứng nghệ thuật là vô cùng đa dạng và phong phú. Song, trong thơ trung đại cảm
hứng nghệ thuật có thể tạm chia thành hai loại: cảm hứng trữ tình và cảm hứng thế sự. Cảm
hứng trữ tình đƣợc hiểu là tác phẩm phải phục tùng theo những quy luật tình cảm, phải khơi
dòng những cảm xúc nhân văn, nhân ái và đậm chất dân tộc. Cảm hứng trữ tình gắn liền với
tình cảm nhƣng đó không là thứ tình cảm tự nhiên mà trở thành một phẩm chất nghệ thuật,
luôn hƣớng đến sự hoàn thiện trong mỗi thực thể cuộc đời.
Còn cảm hứng thế sự là cảm hứng nảy sinh từ thực tế cuộc sống chuyện đời, chuyện
ngƣời. Vì thế, cảm hứng này mang một nội dung lịch sử cụ thể. Nó bao gồm khuynh hƣớng
triết học, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ đặc biệt là khuynh
Trang 12
hƣớng nhận thức và đánh giá. Nó liên quan chặt chẽ với quan niệm về thế giới, quan niệm về
nhân sinh, với tình cảm, nhân cách, thái độ của nhà thơ trƣớc những vấn đề xã hội nhƣ chiến
tranh, cách mạng, hòa bình, những vấn đề của con ngƣời nhƣ số phận, hạnh phúc...
Ngƣời viết lấy những kiến thức lý luận vừa nêu trên làm nền tảng để triển khai đề tài
"Cảm hứng nghệ thuật của Nguyễn Du qua "Thanh Hiên thi tập" và "Nam trung tạp ngâm"
một cách vững chắc và có cơ sở.
CHƢƠNG II: CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG "THANH HIÊN
THI TẬP" VÀ "NAM TRUNG TẠP NGÂM" CỦA NGUYỄN DU
1. Cảm hứng trữ tình
1.1. Buồn hận và cô độc
Vào buổi bình minh của cuộc đời, chàng trai trẻ Nguyễn Du cũng từng mang trong
mình mộng công danh cao đẹp:
"Tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên"
(Khất thực)
(Kiếm dài ngạo nghễ hiên ngang nhƣ tựa trời xanh)
Với sở tài, sở học của mình, Nguyễn Du muốn noi gƣơng những bậc tiền bối, thi đỗ
làm quan giúp việc triều chính. Không sôi nỔi nhƣ Nguyên Công Trứ:
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
(Đi thi tự vịnh)
Nguyễn Du của chúng ta điềm đạm hơn: "Công danh ai dứt lối này cho qua". Đối với
các trí thức Nho học thời bây giờ, học hành, thi cử rồi làm quan đó là con đƣờng, là sự lựa
chọn gần nhƣ là duy nhất. Nguyễn Du cũng muốn đem tài
Trang 13
năng của mình thi thố trƣớc hết là để lập công danh, sau nữa là để giúp đời, giúp ngƣời. Cầm
trong tay cây kiếm dài, hiên ngang và ngạo nghễ, Nguyễn Du muốn ngang dọc vẫy vùng. Bầu
nhiệt huyết của chàng thanh niên thông minh, khỏe mạnh thôi thúc Nguyễn Du ƣớc mơ vƣơn
lên, muốn sánh ngang với vũ trụ. Tuy thơ không nhắc đến "chí", "công danh", hay "phận sự",
nhƣng chính cái tƣ thế hiên ngang "tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên" đã khắc tạc vào thơ
Nguyễn Du một quyết tâm cao độ.
Nhƣng tiếc thay, thời thế đã không chọn mặt anh hùng. Nhà Lê sụp đổ, phơi bậy tất cả
những tiêu cực lớn nhỏ của một xã hội dần tiến đến thời kỳ mục ruỗng. Mắt Nguyễn Du đã
chứng kiến sự mục nát, suy vong của chế độ phong kiến thời Lê mạt. Chiến tranh cát cứ liên
miên giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn đã mang lại bao nhiêu thống khổ cho nhân
dân. Đó là thời đại quằn quại, loạn lạc, đầy những chấn động dữ dội vƣợt quá những hiểu biết
của nhà thơ. Nhƣng Nguyễn Du thấy rõ hết, hiểu thấu hết những cơn sóng ngầm của bao
nhiêu nỗi phẫn uất, bao nhiêu niềm khát khao cháy bỏng của nhân dân đòi hỏi một chế độ
công bằng, trong sạch, đòi hỏi một cuộc đời có tình ngƣời...
Nhà thơ Nguyễn Du không phải là một nhân chứng bị động trong cuộc đời đảo điên
ấy. Ông rất muốn làm một điều gì đó để đổi thay thực tại trƣớc mắt. Bị hạn chế quan niệm
chật hẹp về "trung quân", "chính thống", Nguyễn Du từng có ý định chống lại Tây Sơn,
nhƣng không thành... Thời đại Nguyễn Du, nhìn chung, với ông là câu hỏi lớn. Câu hỏi ấy vô
phƣơng giải đáp. "Cái thời mà Nguyễn Du ước mơ, không nói gì đến Nghiêu Thuấn, chi một
khiêm nhường như Gia Tĩnh triều Minh với "Bổn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng"
cũng chỉ là một giác mộng viển vông" [tr .5; 1]. Có ngƣời từ rất sớm đã tìm hƣớng đi đúng
cho đời mình, có ngƣời loay hoay mãi mới tìm đƣợc lối đi. Nguyễn Du, theo nhận xét của
nhà phê bình văn học Hoài Thanh, thì suốt đời không tìm đƣợc. Khi Nguyễn Du ra đời thì chế
độ phong kiến đã cực kỳ mục nát nhƣng điều kiện lại chƣa đủ để có thể chuyển qua chế độ
khác. Sức quật khởi của nông dân nhƣ những đạt sóng lớn vẫn thúc đẩy xã hội Việt Nam tiến
lên từng bƣớc nhƣng rốt cuộc không thoát khỏi vũng lầy phong kiến. Nói chung hoàn cảnh
chƣa cho phép tìm lấy một lối ra. Nguyễn Du, con em của một gia đình phong kiến, lại càng
Trang 14
không thể tìm lấy lối ra... Nếu phân tích sâu hơn, ta sẽ thấy Nguyễn Du đi theo con đƣờng cũ.
Ông đi theo nhà Lê nhƣng không lấy gì làm tích cực trong chuyện phù Lê. Mặt khác, ông lại
không lấy gì làm mặn mà trong chuyện chống Tây Sơn. Còn về sau này, Nguyễn Du làm
quan cho nhà Nguyễn thì rõ ràng là "vừa đi vừa bực" [tr. 142; 25]. Tâm trí Nguyễn Du đầy
những băn khoăn, con ngƣời Nguyễn Du đầy những mâu thuẫn...Rốt cuộc Nguyễn Du đã
triền miên suốt đời trong một không khí buồn chán, nặng nề
Chí không đạt, mộng không thành, hùng tâm dần nguội lạnh theo năm tháng, "danh"
chƣa "thành" mà "thân" đã "suy". Nguyễn Du hụt hẫng, thất vọng về bản thân và cả thời thế.
Ta dễ dàng tìm thấy những từ ngữ mang màu sắc tiêu cực trong thơ ông: "suy", "liêu lạc",
"tiêu điều"... " Bản thân Nguyễn Du đã đem cái bệnh của thời đại mình không giải quyết
được, không biết cách nào mà giải quyết, tích lại thành một nỗi u nát trong tâm hồn riêng"
[tr.45; 5]. Bản thân ông dở dang thƣ kiếm, nghề văn nghề võ đều không thành. Ý thức cá
nhân nơi nhà thơ thể hiện sâu sắc ở chỗ ông nhận ra những giá trị mà mình quý trọng, nâng
niu nay trở nên vô dụng, vô nghĩa. Trƣớc hết đó là văn chƣơng mà rộng ra là hệ thống Nho
học thời bấy giờ. Nguyễn Du mang trong mình mặc cảm bất lực - cái bất lực của cả hệ thống
học vấn thời đại.
Đi giữa "đời loạn", Nguyễn Du bơ vơ và cô độc. Những u uẩn trong lòng ông không
thể tỏ cùng ai. Đau đớn hay xót xa, nghẹn ngào hay tủi hổ... chỉ một mình mình biết, một
mình mình hay. Nguyễn Du tự ví mình nhƣ "ngọn cỏ bồng" không còn gốc rễ, nhẹ tâng, mặc
cho gió chuyển dời trƣớc gió bụi cuộc đời. Nguyễn Du không biết bày tỏ cùng ai và không
muốn giải bày điều gì. Lặng im một cách cô độc, bao nhiêu nhức nhối ông đành chôn sâu vào
đáy lòng: "Ta có tấc lòng không biết nói cùng ai" (Mi trung mạn hứng). Nguyễn Du không
tâm sự đƣợc với ai, đành nói chuyện với chính mình, ngắm bóng mình, đối diện với trăm mối
sầu.
Với Nguyễn Du, dấu ấn hoang mang thể hiện khá rõ trong những sáng tác chữ Hán
đầu tay (Thanh hiên thi tập). Tuy nhiên nếu đánh giá Nguyễn Du trong suốt ba tập thơ, ta sẽ
nhận ra dấu ấn hoang mang kia chính là những hoài nghi,
Trang 15
những băn khoăn day dứt của một con ngƣời tiềm ẩn những tƣ tƣởng lớn, có thể coi sự hoang
mang và ít nhiều bi quan của nhà thơ trong giai đoạn đầu sáng tác là hệ quả tất yếu của sự
khủng hoảng của tƣ tƣởng thời đại.
1.2. Bức chân dung tự họa
Nhà thơ Nguyễn Du không hề có chủ ý vẽ nên chân dung tự họa bản thân, ở đây
ngƣời viết chi phát họa những nét lớn nơi gƣơng mặt, hình hài và thân phận của thi nhân. Tuy
chỉ là những nét đơn sơ, đôi khi rời rạc, song phần nào cũng bộc lộ khá rõ cảm hứng của
Nguyễn Du về bản thân: cảm hứng bi thiết. Cảm hứng này tạm hiểu là cái nhìn bi quan, xót
xa cho chính mình.
1.2.1. Ngoại hình, cốt tướng
Ngoại hình và cốt tƣớng, đây là những nét dễ nhận ra hơn cả nơi bức chân dung thi sĩ
Nguyễn Du. Nguyễn Du chỉ khiêm tốn với "tấm thân sáu thước" và "tuổi ba mươi" (Tự thán
II). Còn về cốt tƣớng thì "Trời đất phú cho cái cốt tướng gian truân ". Phải chăng chính "con
mắt nhìn thấu sáu cõi" và "tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời" ấy đã làm nên một phần cái "cốt
tướng gian truân" mà nhà thơ nói ở đây. Nói về tƣ chất của ông, chúng ta đều biết ông là
ngƣời thông minh, học rộng biết nhiều. Thế nhƣng, theo Nguyễn Du thì:
Thông minh xuyên tạc tổn thiên chân
(Tự thán II)
(Đeo đẳng thông minh để thiệt đời)
Cái thông minh của mình không thể giúp gì cho bản thân, cho gia đình và thời cuộc
thì thử hỏi thông minh để làm gì? Nó chỉ đủ để Nguyễn Du "tỉnh" hơn ngƣời khác, suy nghĩ
và trở trăn hơn ngƣời khác mà thôi. Ta hình dung nhà thơ là một con ngƣời ít nói, lúc nào
cũng cảm thấy cô đơn, có chiều sâu nội tâm, luôn luôn day dứt trƣớc những vấn đề về lẽ sống
của bản thân, con ngƣời và cuộc đời. Những ai oán, buồn thƣơng của cuộc đời riêng ông và
của cả những mảnh đời khác xung quanh đã tác động mạnh mẽ đến tâm hồn thi nhân. Cái
"Tâm" xúc động rỉ máu nên "tướng" ngƣời thể hiện ra cũng lấm nét lận đận, gian nan.
Thật khó để tìm thấy một Nguyễn Du ung dung, thƣ thái. Càng khó tìm thấy một
Nguyễn Du nhàn hạ, vô ƣu vô lo! Chính vì những lẽ đó mà chân dung
Trang 16
Nguyễn Du thêm một nét nữa: tóc bạc. Nguyễn Du bạc tóc từ rất sớm. Ngay ở tuổi "tam thập
nhi lập" mà đã:
Tiêu tiêu bạch phát mộ phong xuy
(Tự thán I)
(Tóc bạc bơ phờ bay trƣớc gió chiều)
Tác giả Đào Duy Anh thống kê đƣợc trong 65 bài thơ của "Thanh Hiên thi tập" có
đến 17 lần Nguyễn Du nhắc đến "bạch phát (tóc bạc), "bạch đầu" (đầu bạc). Tuổi cao tóc bạc
là chuyện đƣơng nhiên nhƣng tuổi mới trên dƣới ba mƣơi mà tóc bạc thì hiếm thấy. Có 58 lần
trong suốt ba tập thơ con ngƣời bạc tóc xuất hiện (thống kê của Lê Thu Yên). Con số ấy cho
thấy tóc bạc đã trở thành nỗi ám ảnh thƣởng trực nơi tâm hôn nhà thơ. Tóc bạc là hệ quả của
bao nhiêu nghĩ suy, trăn trở nơi thi nhân. Nguyễn Du cảm thấy "sĩ khí'" và "hùng tâm" của
bản thân đang bị "tiêu ma" bởi màu trắng đáng sợ nơi mái đầu. Và theo đó, thi nhân buông
tiếng thở dài... Nguyễn Du của chúng ta buộc phải đối diện với tuổi già dẫu rằng còn bao
nhiêu dự định chƣa thành. Những nỗi uất hận không nói đƣợc thành lời, những môi thƣơng
cảm trải mãi không dứt... Tất cả những điều đó tụ lại, ẩn vào sâu thẳm trái tim thi nhân, để rồi
theo thời gian nó hiện thành "phơ phơ tóc bạc"...
Cùng với nỗi lo âu tuổi già, ám ảnh cái chết là lo bệnh tật. Bệnh tật làm con ngƣời héo
mòn dần, sinh khí tổn hao. Ta hình dung gƣơng mặt Nguyễn Du, thần sắc vốn đã không tƣơi
tắn lại điểm thêm những nét nhăn nhó do bệnh tật hành hạ. Lại không phải bệnh một ngày
một bữa mà là bệnh kéo dài hàng mấy tháng, có khi hàng mây năm. Bệnh nhiêu, do nghèo
không có tiên lo thang thuốc điều trị, bệnh càng dai dẳng thêm. Trong thơ bệnh đƣợc nhắc
đến khá nhiều lần: bệnh cũ (U cƣ II), bệnh lâu ngày (Xuân dạ), bệnh không thuốc (Mạn
hứng)... Nhà thơ đau ốm liên miên mặc dù không nói rõ bệnh gì, chỉ biết là bệnh cũ và lâu
ngày. Phải chăng những căn bệnh kia đã trở thành cố hữu noi thi nhân, nó cũng không phải là
bệnh "xoàng" mà đã là "tâm bệnh".
Trang 17
Tóm lại, chân dung tự họa Nguyễn Du nổi lên những nét cơ bản là ngoại hình bé nhỏ,
khắc khổ, cốt tƣớng gian truân, cộng với tuổi già (tóc bạc) và bệnh tật. Cái nền bức tranh ấy
hẳn là gam màu tối và lạnh, nó không đậm nhƣng thấm sâu, dai dẳng và buồn thƣơng... Đôi
mắt sâu thẳm ân tình và mái đầu bạc mãi ám ảnh tâm trí ngƣời đọc bao thế hệ, đó là ngoại
hiện của một nội tâm sâu sắc, của nỗi đau đời...
1.2.2. Thân phận
Nguyễn Du tự ý thức về mình qua một vài ý niệm nhƣ: vô thân, thân chóng tàn, "tài
vô sở dụng" (tài không đƣợc chấp nhận)... Hơn thế nữa, ông còn ý thức về thân phận của
mình. Cảm hứng này thể hiện bàng bạc qua các sáng tác của ông. Năm tháng trôi, kiếp sống
trôi không định hƣớng, không mục đích, mặc cho gió bụi cuộc đời đƣa đẩy. Con ngƣời từ
mộng lớn chí cao rơi xuống bờ vực của thất vọng, chán nản; từ hùng tâm tráng chí hừng hực
ngọn lửa đấu tranh cống hiến trôi dần vào hƣ không. Đối với Nguyễn Du, đó là một hụt hẫng
lớn. Nguyễn Du tự nhìn lại mình và đặt câu hỏi mình là ai? Nguyễn Du là ai? Một ông già
nhƣng vẫn chƣa già, một ông quan chƣa phải đạt quan... Ông luôn tự gọi mình là "khách" là
"tha nhân", "lữ thứ". Hoặc có khi ông chỉ gọi mình là một ngƣời thôn dã nơi núi sâu. Con
ngƣời Nguyễn Du muốn chối bỏ hết phận vị, chức tƣớc. Ông không muốn nhắc đến nó bởi đó
là nỗi thẹn, nỗi chua chát. Đi bên lề lịch sử, Nguyễn Du chỉ dám nhận mình là kẻ phƣơng xa,
là khách mà thôi. Điều này hoàn thiện nốt bức chân dung tinh thần của thi nhân.
1.3. Nỗi nhớ quê hương và người thân
Trong khoảng "mười năm gió bụi", dƣới triều Tây Sơn, Nguyễn Du sống trong tình
trạng cô đơn ghê sợ, không còn anh em, bạn bè gì nữa; khắp góc bể chân trời chẳng lấy gì
làm bầu bạn. Ngóng trông về quê nhà, Nguyễn Du thêm ủ rũ: "Ở quê hương Hồng Lĩnh
không còn nhà cửa, anh em cũng đều tan tác cả " (Quỳnh Hải nguyên tiêu).
"Tiếng nhạn đầu mùa" vô tình hay hữu ý đã "khơi dòng lệ biệt ly từ bao năm nay" mà
Tố Nhƣ đã cố nén, cố giấu. "Luân lạc, tha hương, ly hiệp với bạn bè thân nhân, lƣu lạc nơi
góc bể chận trời, nơi đất khách là những trạng thái
Trang 18
khiến con ngƣời ý thức đƣợc cá nhân của mình. Da diết nhớ quê nhà, Nguyễn Du càng khắc
khoải nghĩ đến những ngƣời thân mà ông xa cách lâu ngày, đó là ngƣời anh, là bạn bè hay
ngƣời vợ đã khuất của mình. Tìm về với quê hƣơng Hồng Lĩnh, nhà thơ khao khát về một
chốn bình yên. Ở nơi ấy, tâm hồn nhà thơ đƣợc hồi sinh. Những năm về sống ở Tiên Điền,
cuộc sống vật chất có nhiều khó khăn nhƣng về đƣờng tình cảm, Tô Nhƣ cảm thấy ấm áp và
an ủi hơn bội phần. Nguyễn Du gần gũi với các em trai, em gái - những ngƣời rất giỏi thơ
văn, đặc biệt là thơ văn chữ Nôm. Ông đƣợc chuyện trò với bà con thân thuộc trong dòng họ,
trong xóm làng nên cũng có đôi phần khuây khỏa. Ngắm bến Giang Đình nhớ một thời xe bồ
ngựa tứ với chim hạc báo điềm lành, lòng ông càng thêm phần phấn chấn (Giang Đình hữu
cảm). Nỗi niềm riêng trải cùng sống nƣớc với đôi bờ cát phẳng khiên thi nhân bớt phần tủi
phận...
Những niềm an ủi nhỏ nhoi ấy nhà thơ chỉ có đƣợc khi ở Tiên Điền. Có thể nói quê
hƣơng ôm ấp tâm hồn thi nhân khi ông lỡ bƣớc, khi ông dở dang. Ngƣợc lại, ông cũng ƣu ái
dành cho quê hƣơng một tình cảm thiêng liêng, sâu đậm. Trên mỗi bƣớc đƣờng lữ thứ, xa
quê, ông luôn hƣớng về Hồng Lĩnh:
Dao ức gia hương thiên lý ngoại
(Mạn hứng) .
(Xa nhớ quê nhà nghìn dặm cách)
Cũng nhƣ nhà thơ Đỗ Phủ từng khắc khoải:
Giang Hán tư quy khách
Càn khôn nhất hủ nho
(Giang Hán)
(Ở Giang Hán có khách nhớ nhà mong về
Giữa càn khôn có một lão đồ gàn)
Đọc Nguyễn Du, ta nhận ra thế giới tinh thần nhà thơ chứa chan thƣơng yêu, trìu mến.
Nỗi nhớ nhà, nhớ quê, nhớ ngƣời thân đầy ắp lòng Tố Nhƣ. Ông đang cố bấu víu, có tìm một
điểm tựa cho cõi lòng trống trải, bơ vơ. Cái Tôi "cô độc" lần theo hành trình cảm xúc...
1.4. Sự trôi nhanh của thời gian
Trang 19
Con ngƣời và sự vật hiện hữu trong một không gian và thời gian nhất định. Ý niệm
của một ngƣời về thời gian là ý niệm vừa dễ, vừa khó. Con ngƣời nói chung thƣờng ám ảnh
và lo âu về thời gian hiện hữu của mình. Hơn ai hết, các nghệ sĩ rất nhạy cảm với vấn đề này.
Nhà văn Rumani Alexandre Cloranescu đã có nhận xét chí lý: "Thời gian không chi hằn dấu
ấn lên cuộc đời và suy nghĩ của chúng ta. Nó còn đè nặng như một ám ảnh trên trí tưởng
tượng và sự nhạy, cảm của chúng ta".
Bằng một cảm quan nghệ thuật nhạy bén cộng với hoàn cảnh đặc biệt trong cuộc đời
riêng, Nguyễn Du ý thức sâu sắc về sự trôi chảy của thời gian và cùng với nó là sự đổi dời,
hƣng phế. Điều mà Nguyễn Du cảm nhận đƣợc là thời gian tựa mũi tên bay nhanh vun vút.
Mũi tên ấy bay đi, mang theo tất cả những gì nó cỏ thể: niềm vui, tuổi xuân, hy vọng và có
khi là cả một đời ngƣời nữa:
Tứ thời hảo cảnh vô đa nhật,
Phao trịch như thoa hoán bất hồi
(Thu chí)
(Trong bốn mùa, không đƣợc mấy ngày cảnh đẹp
Thời gian vun vút trôi qua nhƣ thoi đƣa, gọi không trở lại)
Có thể nói, ''Trong tất cả những nét quen thuộc trong đời sống hàng ngày của chúng
ta, thời gian là cái mà chúng ta hiểu biết ít nhất. Chúng ta không bao giờ hiểu đầy đủ những
bí mật của nó, càng không thể cách ly và thuần phục nó..." (nhà văn Rumani Alexandre
Cloranescu). Quả vậy, ngay cả những ngƣời nghệ sĩ thiên tài nhƣ Nguyễn Du cũng không thể
nắm bắt hay chiếm lĩnh thời gian theo ý của mình đƣợc. Nhƣ đòng nƣớc chảy trôi, thời gian
một đi thì không trở lại bao giờ. Con ngƣời thi nhân thất bại trƣớc cuộc đời, đứng lặng nhìn
dòng chảy ấy. Nỗi buồn và u uẩn trong lòng ngƣời càng tăng lên khi chứng kiến thời gian cứ
trôi đi giữa cõi nhân gian: "Thời gian thấm thoát làm cho mái tóc chóng bạc; Nghĩ mà ngậm
ngùi, suốt đời ta chƣa hề gỡ đƣợc u sầu" (Thu chí).
Ý thức đƣợc con ngƣời vẫn luôn luôn tôn tại trong quỹ đạo của thời gian, Nguyễn Du
không chỉ thƣờng nhắc đến nó mà còn "tính toán" nó một cách tỉ mỉ.
Trang 20
Trong thơ chữ Hán của ông, thời gian không xác định thƣờng đƣợc đánh dấu bằng các
từ nhƣ: "cửu" (lâu), đa (nhiều năm), kinh (đã qua)... Hoặc một loạt những: "tam niên" (Ức gia
huynh), "Thập tuần" (My trung mạn hứng), "tam chu" (ba năm) (Tân thu ngẫu hứng)... cũng
cho thấy Nguyễn Du quan tâm sâu sắc đến bƣớc đi của thời gian. Nhƣng điều đáng nói là
Nguyễn Du không nhắc đến nó một cách thờ ơ mà gắn với mỗi thời điểm, mỗi thời đoạn
trong cuộc đời, ông đều nói rõ tình trạng của mình và kèm theo những suy ngẫm, đúc kết.
Nguyễn Du xác định thời gian để kiểm nghiệm chính mình, những đƣợc mất, thành bại đã
qua...
Nguyễn Du ngơ ngẩn trƣớc những đổi thay trong "chớp mắt". Mọi biến cố đầy kịch
tính của lịch sử Việt Nam giai đoạn này đã áp vào Nguyễn Du một cách khá dồn dập. Những
bão táp của thời đại liên tục xảy đến khiến ông sửng sốt, choáng váng. "Bãi bể hóa nương
dâu" là vậy!
Nguyễn Du ý thức đƣợc cái hữu hạn của kiếp ngƣời nên càng âu lo, chán chƣờng.
Tuổi già đã đến trên đầu mà sự nghiệp hãy còn dở dang. Từ nỗi buồn riêng, cảnh ngộ riêng
của bản thân, Nguyễn Du nâng lên thành một triết lý về sự trôi chảy của thời gian - một quy
luật khắc nghiệt nhƣng vững bền. Lạnh lùng trôi đi và lanh lùng huy diệt. Đó mới là thời
gian. Bế tắc, Nguyễn Du tìm về với quá khứ. Thấp thoáng trong thơ chữ Hán Nguyễn Du một
cảm hứng hoài cổ nhẹ nhàng. Nguyễn Du của chúng ta chỉ lặng lẽ khơi lại một vài ký ức êm
đềm, có khi chỉ là một kỷ niệm gắn bó thiết thân. Hoài cổ để mà nhắc nhở mình về thực tại,
để ý thức về thơi gian thêm rõ ràng, từ đó nghiệm sinh cuộc sống sâu sắc hơn. Đó là điểm
khác của Nguyễn Du so với các nhà thơ khác.
Tóm lại, cảm thức về sự trôi chảy của thời gian, sự đổi dời hƣng phế là một phƣơng
diện đáng chú ý trong cảm hứng trữ tình của thơ chữ Hán Nguyễn Du. Nó không lạ nhƣng
thiết nghĩ, nó minh chứng cho một nét lớn nơi con ngƣời Nguyễn Du, đó là ý thức về con
ngƣời trong mối quan hệ với vũ trụ và quy luật của vũ trụ.
1.5. Cuộc đấu tranh giữ mình
Trang 21
Ý thức cao độ về bản thân và về thời cuộc, vậy Nguyễn Du đã hành xử nhƣ thế nào
giữa "gió bụi cuộc đời", khi mà thời gian khắc nghiệt kia cứ lạnh lùng kéo con ngƣời nhanh
chóng đi tới bến bờ của sự diệt vong? Ta hãy dõi theo hành trình gian nan ấy của nhà thơ.
Mệt mỏi, mất phƣơng hƣớng, Nguyễn Du cũng muốn lao vào hƣởng lạc. Rƣợu là thứ
Nguyễn Du nghĩ đến trƣớc hết (Đối tửu). Con ngƣời thất chí muốn tìm quên trong men rƣợu
để cái chếnh choáng hơi men tạo cho mình chút dễ chịu giữa bao ngột ngạt của bầu không khí
xã hội lúc bấy giờ. Thấy là chƣa đủ, Nguyễn Du muốn phiêu lƣu trong những chuyến đi săn
(Liệp). Cũng có lúc cao hứng, con ngƣời ấy còn lên tiếng luận bàn, khuyến khích hƣởng lạc.
Ta ngỡ nhƣ nhìn thấy một Nguyễn Du ngang tàng:
Khuyến quân ẩm tửu thả vi hoan
Tây song nhật lạc thiên tương mộ
(Hành lạc từ II)
(Khuyên anh uống rƣợu rồi vui chơi
Mặt trời đang lặn ở cửa sổ phía Tây, trời sắp tối)
Ngƣời đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Nguyễn Du nói nhƣ một
"chuyên gia" hành lạc thật sự. Mặt trời lặn đồng nghĩa với kết thúc, với tàn lụi... Vậy thì này
anh ơi, còn chờ gì nữa mà không vui chơi đi, tận hƣởng đi. Rƣợu, hãy dốc cạn bầu! Cho say
sƣa, cho chếnh choáng! Và đời buồn vui quên hết mọi âu lo. Dƣờng nhƣ lúc này Nguyễn Du
có cái gì đó gần với Nguyễn Công Trứ:
Thú tiêu sầu ruợu rót thơ đề
Có yến yến hường hường mới thú
(Tài tình - Nguyễn Công Trứ)
Không phải! Nguyễn Du không giống Nguyễn Công trứ. Nguyễn Công Trứ là một
nhà nho tài tử, ngông nghênh, kiêu bạc. Nguyễn Công Trứ lạc quan và thách thức cuộc đời
"Đem ngàn vàng mua lấy tiếng cười; Phong lưu cho bõ kiếp người". Con ngƣời hành lạc
trong thơ Nguyễn Công Trứ là thật sự và đúng
Trang 22
nghĩa. Đọc lại từng dòng thơ Nguyễn Du, ta nhận ra có chăng chỉ là "một chút lãng mạn đời
thường" (chữ dùng của Lê Thu Yến) chứ chƣa bao giờ Nguyễn Du có đƣợc tâm trạng ung
dung trên sự hƣởng lạc.
Cùng quẫn, Nguyễn Du cũng nhƣ bao nhiêu ngƣời khác, muốn vứt bỏ hết, thậm chí
"gọt tóc" trốn vào rừng: (Tự thán). Nhƣng bƣớc chân ông đi đến những nơi xa lánh "cõi nhân
gian" kia sao vẫn có gì nhƣ không thoải mái. Lòng ông vẫn không thôi vƣơng vấn. Nói đi săn
nhƣng tò khi ra làm quan có mấy dịp ông đƣợc trở lại với thú đi săn. Nói rƣợu nhƣng ông
không thể say khi tai ông vẫn nghe tiếng cuộc đời vang vọng. Ông không thể say khi đôi mắt
buồn thƣơng vẫn luôn "tỉnh" để nhìn đời. Cho nên, hầu nhƣ là mọi trƣờng hợp hành lạc, ở ẩn,
đi săn hay say sƣa... tất cả chỉ diễn ra trong thế giới tâm tƣởng của nhà thơ mà thôi. Chúng ta
không quên: "Nguyễn Du không phải là con người hành động mà là con người tư tưởng" [tr.
63; 5]. Con ngƣời ấy lặng lẽ, chịu đựng mọi đắng cay trong cuộc đời. So với những ngƣời
khác, những nỗi cực nhọc mà con ngƣời ấy chịu đựng còn phải nhân lên gấp nhiêu lần bởi nó
dồn nén cao độ, đọng lại thành căn bệnh trầm kha, thành "bệnh cũ" và suốt đời không dứt...
Và phải chăng vì "bệnh" đã ở lâu ngày với Tố Nhƣ nên nó thấm sâu vào ông và vô
tình trở thành một thứ vũ khí, một thứ "thuốc đề kháng'' giúp Nguyễn Du không dễ dàng bị
vƣớng vào những cám dỗ của đời sống hƣởng lạc. Nghe qua có vẻ không hợp lý, nhƣng nếu
ta ngẫm nghĩ kỹ sẽ thấy bên trong con ngƣời Tố Nhƣ, một cuộc đấu tranh ngấm ngầm chống
chọi lại nguy cơ sa ngã vẫn diễn ra từng khoảnh khắc liên tục, bền bỉ. Nguyễn Du là ngƣời
khao khát chân lý, khao khát ánh sáng; mặt khác, ở ông lúc nào cũng thƣờng trực những nghĩ
suy, triết lý, đôi mắt không khi nào xao lãng, thờ ơ với "những điều trông thấy", do đó
Nguyễn Du sẽ tránh đƣợc những phản ứng lầm lạc trong mọi hoàn cảnh.
Tựu trung lại, "hưởng lạc" - đó chỉ lả một "lời nói dối" của một con ngƣời lỡ thời.
Không lựa chọn con đƣờng "hưởng lạc", Nguyễn Du tìm cho mình một thái độ hành xử khác
để tự cảm thấy dễ chịu hơn và cũng là tự giữ gìn bản thân trƣớc "gió bụi cuộc đời". Nguyễn
Du đi tìm sự thanh thản thực sụ trong tâm hồn nơi những cái bình dị, đơn sơ. Một buổi
thƣởng trăng, một chuyến đi dạo nơi
Trang 23
bến sông... sẽ khiến lòng thi nhân bớt ƣu phiền, dẫu chỉ là thoáng chốc, tạm thời. Nhà thơ còn
đƣợc giải toả u uất bởi những giấc mộng đẹp và trong sáng (Mộng đắc thái liên). Mặt khác,
giữa bao nhiêu "gió bụi trần ai", Nguyễn Du không quên nhắc nhở mình giữ lòng trong sạch:
Minh nguyệt chiêu cổ tỉnh
Tỉnh thủy vô ba đào;
Bất bị nhân khiên xả
Thử tâm chung bất dao
(Đạo ý)
(Trăng sáng chiếu giếng xƣa
Nƣớc giếng không gợn sóng
Không bị ngƣời khuấy lên
Lòng này không xao động.)
Đạo tâm của nhà thơ khá vững vàng. Có thể trƣớc những ba động của thời cuộc,
Nguyễn Du chƣa tìm cho mình lối đi đúng đắn và hợp thời nhƣng Nguyễn Du tin tƣởng ở
lòng mình. Biết rằng thời thế đổi thay, kéo theo đó, con ngƣời dần mất lòng tin vào các thang
giá trị chuẩn mực xƣa cũ. Cái nhìn đạo lý Nho giáo cũng bị nhạt nhòa đi, song Nguyễn Du
vẫn cố vƣợt qua những chông chênh về tƣ tƣởng, cố đứng vững trên "đạo tâm" của mình.
Điều này thể hiện khá rõ trong giai đoạn Nguyễn Du ra làm quan cho nhà Nguyễn. Trong bài
"Đại tác cửu thú tư qui" Nguyễn Du viết bằng giọng điệu triết lý và rắn rỏi lạ thƣờng:
Dạ tú vinh hoa thân ngoại huyễn
Triêu vân danh lợi nhãn tiền phi.
(Đại tác cửu thú tƣ qui)
(Vịnh hoa nhƣ ao gấm ban đêm, chỉ có ảo ảnh ở ngoài thân mà thôi
Danh lợi nhƣ đám mây buổi sáng thay đổi ngay trƣớc mắt)
Trang 24
Xác định đƣợc nhƣ vậy, Nguyễn Du tỏ ra tin tƣởng hơn: "Năm này qua năm khác
ruộng dƣa lại chín; Hết khổ lại sƣớng, nhất định có ngày đƣợc về" (Đại tác cửu thú tƣ qui).
Đặt chữ "Tâm" lên hàng đầu, có lẽ Nguyễn Du của chúng ta đã bớt phần nao núng, bi thiết
trong "bước đi tự tìm mình khắc khoải" và giữ gìn khí tiết cho bản thân.
2. Cảm hứng hiện thực
2.1. Những nghịch lý cuộc đời
Ở trên, ta đã nói đến Nguyễn Du với cuộc đấu tranh âm thầm với chính mình, nhƣng
"Nguyễn Du giữ mình không phải để "độc thiện kì thân " mà để sống vì con người" [tr. 31,
16]. Thật ra "khi các nhà thơ nói đến nỗi đau của riêng mình thì trong đó cũng đã bao hàm
nỗi đau chung của con người" [tr. 30, 16]. Với những bất trắc, những oan khuất trong cuộc
đời thực, Nguyên Du muốn bao dung tất cả trong một tình thƣơng lớn. Trên con đƣờng gập
ghềnh, mờ mịt của đời mình, cõi lòng ông vẫn rộng mở để đón lấy mọi kiếp ngƣời và tạo vật
xung quanh. Ông sông trong cảnh ngộ của nhân vật gắn bó mật thiết với nhân vật, để rồi thấu
hiểu họ và thƣơng yêu trìu mến (Phƣợng Hoàng Lộ thƣợng tảo hành, Độ linh giang). Thƣơng
cảnh ngộ của ngƣời nhƣng đồng thời cũng liên tƣởng và thƣơng đến mình, Nguyễn Du
"không hề có cái giọng hạ cố của kẻ đài các đối với người cùng khổ" [tr. 265, 6]. Chính điều
này khiến cho thi hào Nguyễn Du gần gũi với chúng ta, đồng vọng cùng con ngƣời mọi tầng
lớp, mọi thời đại.
Một khía cạnh đáng chú ý của cảm húng hiện thực trong sáng tác chữ Hán Nguyễn Du
là lòng thƣơng đến những kiếp "tài hoa bạc mệnh". Qua đó, nhà thơ phản ánh và lên tiếng bất
bình đối với những nghịch lý cuộc đời. "Độc Tiểu Thanh ký" thể hiện sâu sắc cảm hứng này ở
Nguyễn Du:
Tây Hồ hoa uyển tận thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
(Độc Tiểu Thanh ký)
Trang 25
(Vƣờn hoa cạnh Tây Hồ đã thành bãi hoang
Ta chỉ viếng nàng qua bài ký đọc trƣớc cửa sổ mà thôi
Son phấn có linh hồn chắc phải xót chuyện xảy ra sau khi chết
Văn chƣơng không có mệnh mà cũng bị liên lụy, đốt đi còn sót lại một vài bài).
Tiểu Thanh là một cô gái đẹp lại thông minh. Số phận đẩy đƣa nàng phải làm lẽ. Bị
ngƣời vợ cả ghen ghét, nàng bị đối xử tệ bạc, phải ở riêng, không đƣợc tiếp xúc với chồng.
Cô đơn, đau buồn rồi sinh bệnh. Nàng chết khi tuổi vừa mƣời tám. Một ngƣời con gái có tài
có sắc nhƣ nàng, lẽ ra phải nhận đƣợc sự yêu thƣơng, chăm sóc. Lẽ ra hạnh phúc phải đến với
nàng để tuổi thanh xuân không trôi đi vô ích. Thế nhƣng, mọi phẩm chất, năng lực của nàng
đều bị phủ nhận, mà thay vào đó, "nỗi hờn kim cổ", "cái án phong lưu" lại bao phủ cuộc đời
cô Tiểu Thanh bé nhỏ. Cũng nhƣ Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn phải chịu mƣời lăm năm đoạn
trƣờng cay đắng. Hay một ngƣời ca nữ phải héo úa, tàn phai cùng với tiếng đàn tài hoa vẫn
làm say đăm lòng ngƣời (Điếu La Thành ca giả). Ngƣời phụ nữ luôn bị thiệt thòi. Ngƣời phụ
nữ tài sắc lại càng bạc mệnh:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Đôi câu thơ ngắn gọn nhƣng đã khái quát một nghịch lý của cuộc đời. Một bài thơ
trong "Nam trung tạp ngâm" đã nói rõ hơn về nghịch lý ấy:
Phàm sinh phụ kỳ khí
Thiên đại phi sở dung
(Điệu khuyển)
(Phàm sinh ra mang khí phách khác thƣờng
Thì trời đất không có chỗ dung)
Trời không dung những ngƣời tài hoa, những ngƣời khí phách khác thƣờng. Quả vậy,
những vần thơ Nguyễn Du viết về ngƣời phụ nữ hoặc những trang anh hùng tiết liệt trong
"Bắc Hành tạp lục" là những minh chứng tiêu biểu. Nguyễn Du
Trang 26
luôn nghĩ suy và ám ảnh về thân phận của con ngƣời lƣơng thiện, vô tội phải chịu bất hạnh;
con ngƣời nhân văn phải chịu bi kịch trên con đƣờng mịt mờ của xã hội phong kiến. Nhà thơ
đặt ra câu hỏi nhƣng rồi cũng tự hiểu rằng:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
(Độc Tiểu Thanh ký)
(Mối hận cổ kim, thật khó mà hỏi ông trời
Ta tự coi nhƣ ngƣời cùng một hội một thuyền với nàng là kẻ vì nết phong nhã mà mắc
phải nỗi oan lạ lùng). Nguyễn Du tự xem mình là ngƣời có chung mối "phong vận kì oan" với
nàng Tiểu Thanh nói riêng và với các bậc giai nhân tài tử nói chung. Có thể thấy, "Nguyễn
Du đã viết dưới ánh sáng lương tri con người trước nỗi đau của đồng loại. Bút lực là tình yêu
thương từ chính cõi lòng ông, từ "ánh sáng tâm hồn, và nghị lực sống của chính Tố Như" [tr.
26, l6]. Hai câu thơ cuối bài "Độc Tiểu Thanh ký", thật lạ, Nguyễn Du không nhắc gì đến
Tiểu Thanh:
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
(Độc Tiểu Thanh ký)
(Chẳng biết ba trăm năm sau
Thiên hạ ai ngƣời khóc Tố Nhƣ?)
Không nói gì đến Tiểu Thanh mà nói đến mình, từ nỗi đau của ngƣời chiếu ánh vào
nỗi đau của mình, Nguyễn Du đang đi tìm tiếng lòng đồng vọng. Tiếng thơ của một kẻ mắc
oan thƣơng những kẻ mắc oan khác. Nguyễn Du không dám mong có thể hỏa giải "nỗi hận
cổ kim", chỉ ƣớc mơ có một ngƣời cảm thông đƣợc nỗi buồn, nỗi cô đơn của mình. Nguyễn
Du khắc khoải tìm con ngƣời ấy trong quá khứ xa xôi, xa về mặt thời gian, cả về không gian.
Ƣớc mơ quá mong manh nên nhà thơ chỉ dám đặt nó vào "ba trăm năm lẻ nữa". Xét trên trục
thời gian thi Nguyễn Du đang ở mốc hiện tại, Tiểu Thanh là quá khứ, và "ba trăm
Trang 27
năm lẻ nữa" là tƣơng lai. Nhà thơ của chúng ta ngoái nhìn quá khứ và hỏi vọng đến tƣơng lai
chứ không thấy đề cập đến hiện tại. Nhƣ vậy đủ thấy trong hiện tại Nguyễn Du cô đơn đến
nhƣờng nào. Nói chuyện Tiểu Thanh nhƣng đến cuối bài, thi nhân dƣờng nhƣ không kiềm
đƣợc mình nữa. Nỗi đau dƣờng nhƣ sâu hơn, lắng đọng hơn và cũng cao cả hơn. Đúng nhƣ
Tố Hữu nói, tiếng thơ Nguyễn Du mãi còn "đọng nỗi đau nhân tình". Nỗi đau của hàng vạn
vạn kiếp sống mà mỗi cánh đời, mỗi số phận là một tiếng thở dài.
Tóm lại, cảm hứng chủ đạo từ nghịch lý của con ngƣời nhân văn và đặc biệt từ nỗi
tuyệt vọng vô bờ về xã hội đã chi phối mãnh liệt cái nhìn của nhà thơ về xã hội và tự nhiên.
Sự chi phối đó thể hiện ở sự lung lay và rạn nứt niềm tin vào lý tƣởng nhà Nho. Ngƣời ta vỡ
lẽ: hóa ra bao nhiêu quan niệm đƣợc xem là giềng mối tƣ tƣởng xã hội lâu nay không hẳn đã
đảm bảo cho hạnh phúc của một con ngƣời!
Nguyễn Du dựng lên lời tố cáo, phản kháng, thể hiện một thái độ không bằng lòng với
hiện thực. Thế nhƣng ông chƣa trả lời đƣợc nguyên nhân nào, lực lƣợng nào gây nên những
oan trái ây trong cuộc đời. Nguyễn Du cũng chƣa có đủ sức nói lên kỳ vọng của quân chủng,
chƣa thấy đƣợc những vấn đề cơ bản của thời đại. Đây là một hạn chế của Nguyễn Du về tƣ
tƣởng. Ông cho rằng lực lƣợng tàn phá mọi cái hay, cái đẹp của xã hội và con ngƣời là số
mệnh. Một triều đại sụp đổ, tiêu vong cũng là vì số mệnh. Cuộc đời những giai nhân, tài tử bị
dập vùi cũng là vì nghiệp chƣớng của số mệnh. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng Nguyễn
Du đã nhận ra và có ý thức về thân phận con ngƣời, hạnh phúc con ngƣời. Con ngƣời với
những phẩm chất và năng lực, khát vọng sống cao đẹp vƣơn tới tự do, hạnh phúc và nhân
phẩm lẽ ra cần phải "được phát triển đến tận độ" (chữ dùng của Các Mác) thì lại bị chặn
đứng, truy bức, thậm chí thủ tiêu. Đó chính là ý nghĩa của nghịch lý toát lên từ cuộc sống của
những Tiểu Thanh, Khuất Nguyên, Thúy Kiều... Cảm hứng này cũng là một đóng góp lớn
của Nguyễn Du cho chủ nghĩa nhân đạo của văn học nƣớc ta, chuẩn bị tiền đề cho "Truyện
Kiều" - một tác phẩm chứa đựng tinh thần nhân đạo lớn lao. Tƣ tƣởng nhân đạo cao quý ấy
mới thực sự là cội nguồn của cảm hứng nghệ thuật - cảm hứng hiện thực và sức mạnh của cái
tôi trữ tình - Nguyễn Du.
Trang 28
2.2. Danh lợi chốn quan trường
Nguyễn Du đã yêu thƣơng là yêu thƣơng hết mực và căm giận nói chung cũng căm
giận đến điều. Chính thái độ yêu ghét rõ ràng đó đã làm nên một nét lớn trong cảm hứng hiện
thực của Nguyễn Du thể hiện trong hai tập thơ chữ Hán này: cái nhìn phê phán chôn quan
trƣờng đây những bon chen danh lợi.
"Sống trong đau khổ và giữa những người đau khổ dưới chế độ phong kiến suy tàn,
Nguyễn Du đã dần dần thấy rõ bộ mặt thật của bọn quyền quỷ" [tr. 172, 6]. Hiện thực chốn
quan trƣờng càng đƣợc soi rọi hơn nữa từ khi Nguyễn Du ra làm quan cho nhà Nguyễn. Tuy
nhiên hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ cộng với hoàn cảnh riêng của Nguyễn Du không cho phép
ông đƣợc nói hết, nói rõ và nói thoải mái về "những điều trông thấy" ấy. Lần tìm theo những
mẫu chuyện nhỏ, những tâm sự Nguyễn Du những ngày làm quan cuối đời, ngƣời viết hy
vọng sẽ nhặt ra đƣợc những mảnh ghép về hiện thực chốn quan trƣờng rối ren và phức tạp.
Vốn là ngƣời biết quý trọng cuộc sống tự do, Nguyễn Du chua chát nghĩ rằng mình đã
"vào tròng" từ khi nhận lời bƣớc vào vòng "bể hoạn" của Gia Long. Không thể chối từ đƣợc
nữa, Nguyễn Du ra làm quan dƣới triều Gia Long nhƣng bản thân ông đã rõ mình không
thuộc về chốn ấy. Đó sẽ là lồng cũi cho cuộc đời mình đến những ngày cuối cùng. Nguyễn
Du vốn trầm tính, ông không quen với những chốn bon chen, ồn ào, chƣa kể là bon chen vì
lợi, ồn ào vì danh. Các quan trong tiều thƣờng ganh đua nhau, ngƣời này tìm cách chèn ép
ngƣời kia để mình có thể tiến nhanh hơn và cao hơn kẻ khác trên bậc thang địa vị, Nguyễn
Du từng nói:
Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc
(Tống nhân)
(Các con chim oanh đẹp ở vƣờn thƣợng uyên hay ghen nhau về màu sắc)
Cuộc sống vốn phức tạp, đa dạng, lòng ngƣời cũng sâu thẳm, quanh co. "Ai khôn
ngoan luồn lách giỏi thì sẽ ngất nghễu ở vị trí cao, ai rụt rè an phận thì sẽ chịu
Trang 29
thiệt thòi" [tr. 60; 25] Xung quanh Nguyễn Du toàn là những loài khổng tƣớc" (Chim công):
Khổng tước phủ hoài độc,
Ngộ phục bất khả y
Ngoại lộ văn chương thể,
Trung tàng sát phạt ky
(Khổng tƣớc vũ)
(Tạng phủ chim công có chất độc
Nhỡ ăn nhầm, không có thuốc chữa
Bên ngoài có vẻ tốt đẹp
Nhƣng bên trong giấu chất độc chết ngƣời).
Con ngƣời thơ phải luôn thận trọng, giữ gìn: "Ở đất khách nên dưỡng cái vụng về
phòng thói đời" (U cƣ II). Nguyễn Du lựa chọn một thái độ ứng xử cho mình "Vô bệnh cổ
câu câu": không bệnh mà lưng cứ khom khom (Thu chí). Con ngƣời chấp nhận chịu thất thế
trƣớc cái xấu, tạm thời lui về, tránh đụng chạm để giữ gìn thanh danh của mình. Thế nhƣng,
trong lựa chọn ây, Nguyễn Du bực bội, nhẫn nhục, và chua xót biết bao. Cái Tâm phân định
đúng - sai, phải - trái của mình lên tiếng nhƣng bị chính mình "ngoảnh mặt làm ngơ". Chữ
"Tâm" bị một nhát "Đao" lạnh lùng phủ lên trên, thành ra "Nhẫn" là vậy.
Thông qua việc tìm hiểu tình cảnh Nguyễn Du những ngày làm quan, ngƣời viết nhận
ra ý tứ phê phán xa gần của Nguyễn Du về một lớp ngƣời trong xã hội, cụ thể là bọn quan lại.
Có thể mũi tên phê phán kia còn e dè, còn chƣa đủ "sắc nhọn" nhƣ nó cần phải có nhƣng dẫu
sao ta vẫn trân trọng thi nhân bởi cảm quan hiện thực nhạy bén và trung thực của ông. Tinh
thần hiện thực chính là ý thức trách nhiệm của ngƣời nghệ sĩ trƣớc hiện thực cuộc đời, trƣớc
hết là cuộc đời của nhân dân mình, và rộng ra là của nhân loại. Ý thức trách nhiệm ấy là một
trong những nguyên nhân khiến Tố Nhƣ bạc tóc. Đổ rồi từ những trở trăn, dằn vặt, ông đã
sớm "tỉnh táo" để sống, và viết với những động cơ và mục đích cao
Trang 30
cả hơn. Điều này đƣợc minh chứng bởi tập "Bắc hành tạp lục", "Văn chiêu hồn" và đặc biệt
là "Truyện Kiều"...
CHƢƠNG III: VÀI NÉT ĐẶC SẮC VỀ PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN
CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT
1. Những biểu tượng nghệ thuật
Hình ảnh nghệ thuật là một yếu tố quan trọng trong thi pháp thơ. Nó thể hiện óc quan
sát tinh tế, sự sáng tạo độc đáo riêng biệt của tác giả trong cấu tứ tác phẩm. Với thơ Đƣờng
luật, hình ảnh nghệ thuật lại càng quan trọng vì thơ Đƣờng tả cảnh để gợi tình. Đồng thời, với
sự hạn hẹp về dung lƣợng và sự chặt chẽ về niêm luật, hình ảnh nghệ thuật là một phƣơng
tiện biểu đạt hữu hiệu và độc đáo. Khi hình ảnh nghệ thuật xuất hiện với một tần số cao, trở
đi trở lại trong thơ đồng thời biểu đạt một ý nghĩa nghệ thuật tƣơng đối cố định theo thế giới
quan của nhà thơ, nó trở thành biểu tƣợng nghệ thuật.
Cần lƣu ý rằng hình ảnh thơ cổ điển "không xa không gần", ở giữa "giống và không
giống" bởi lẽ "Cảnh trong thơ cổ điển" không đƣợc tả chân, trữ tình thuần túy. Thơ cổ điển
thiên về miêu tả những trạng thái phổ biến, bất biến (thƣờng hình) của sự vật, khái quát nắm
bắt cái "thần lý", "diệu lý" của sự vật, miêu tả không thật quá, không ảo quá. Giống quá thì
phi thơ, phàm tục mà ảo quá thì hƣ huyễn. Biểu tƣợng trong thơ Nguyễn Du cũng không nằm
ngoài nguyên tắc này. Nhƣng những biểu tƣợng nghệ thuật ấy đồng thời còn là chiếc chìa
khóa mở cánh cửa tâm hồn thi nhân. Ta hãy cùng khám phá để hé mở cánh cửa ấy. Sau đây là
bảng thống kê tần số xuất hiện của một số biểu tƣợng nghệ thuật trong hai tập '"Thanh Hiên
thi tập" và "Nam trung tạp ngâm":
Số bài có nhắc đến biểu tượng Biểu tượng
Tóc bạc 39 đó
Trăng 32
Dòng sông 27
Trang 31
Gió 26
Mùa thu 22
Mộng 16
Mây 16
Xuân 13
Cỏ 11
Theo dõi bảng thống kê ở trên, ta nhận thấy "tóc bạc" là hình ảnh xuất hiện với tần số
cao nhất trong số các biểu tƣợng đƣợc liệt kê. Tuy nhiên, hình ảnh này đã đƣợc ngƣời viết lý
giải và phân tích ở phần 2 của chƣơng II. Vậy nên, ngƣời viết lần lƣợt lý giải và phân tích các
biểu tƣợng còn lại trong bảng này.
Trăng (nguyệt) là biểu tƣợng đầu tiên mà ngƣời viết quan tâm ở đây. Với Nguyễn
Du, trăng thật gần gũi. Ngoài một số hình ảnh đẹp, tứ lạ: Cái sáng trong vằng vặc, cái độ tròn
thật tròn (Quỳnh Hải nguyên tiêu...), trăng nhƣ hộp gƣơng (Sơ nguyệt) thì đậm nét nhất vẫn
là hình ảnh: tà nguyệt (trăng xế), tàn nguyệt (trăng tàn), lạc nguyệt (trăng lặn)... mở ra một
không gian hiu hắt, đơn lạnh. Chẳng hạn:
Nam minh tàn nguyệt phù thiên lý
(Dạ hành)
(Trên biển nam trăng tà dập dờn nghìn dặm)
Cả những lúc trăng đẹp, trăng tròn con ngƣời vẫn cảm thấy rầu rĩ buồn tê tái:
Nguyệt minh hồng nhạn tán
(Biệt Nguyễn đại lang II)
(Trăng sáng chim hồng chim nhạn tan tác)
Có lúc nhà thơ ƣớc mơ trăng của cuộc đời tìm đến với mình:
An đắc huyền quan minh nguyệt hiện
Dương quan hạ chiêu phá quân âm
(Ngọa bệnh II)
Trang 32
(Ƣớc gì vầng trăng sáng xuất hiện ngay trƣớc cửa
Ánh sáng dọi xuống xua đuổi mọi bóng tối)
Vậy do đâu trăng xuất hiện nhiều lần? Trăng với tƣ cách là biểu tƣợng trong thi ca, nó
phản ánh nhiều chiều kích trong cuộc sống con ngƣời. Trăng là một nhu cầu sống, một niềm
say mê, một nhân vật, cũng là một ngƣời bạn... Với Nguyễn Du, trăng là nhân chứng cho
lòng thi nhân cũng là nhân chứng cho những đắng cay, trắc ẩn trong cuộc đời ông. Nguyễn
Du bầu bạn cùng trăng, ông yêu sao thứ ánh sáng diệu kỳ, thuần khiết của nó. Thứ ánh sáng
ấy soi rọi tấm lòng Tố Nhƣ:
Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt
(Tạp ngâm II)
(Cõi lòng ngƣời khoáng đạt sáng tỏ nhƣ vầng trăng)
Để khẳng định về tình cảm bạn bè gắn bó, cùng chung chí hƣớng, Nguyễn Du cũng
nhờ đến "vầng trăng":
Nhất thiên minh nguyệt giao tình tại.
Bách lý Hồng Sơn chính khí đồng.
(Ký hữu)
(Trăng sáng giữa trời, tình bạn còn đó
Non Hồng trăm dặm, cùng chung một chính khí).
Gọi là trăng nhƣng với Nguyễn Du đó là ngƣời bạn tâm tình, hơn nữa là ngƣời bạn
thân thiết có thể giãi bày, thông cảm. Thời đại nhiều khủng hoảng, đổi thay chóng vánh. Có
những giá trị thật - giả, tốt - xấu ở đời con ngƣời chƣa thể nhận chân ra đƣợc. Nhƣng vầng
trăng kia làm đƣợc điều đó. Nó soi rõ hết thảy. Nguyễn Du tin tƣởng nhƣ vậy. Trăng trở
thành một biểu tƣợng nghệ thuật xuyên suốt thơ chữ Hán Nguyễn Du. Với 32 lần xuất hiện
trong hai tập thơ, biểu tƣợng này giữ một vị trí quan trọng trong thế giới tinh thần Nguyễn Du
và trong thế giới nghệ thuật thơ ông.
Mùa thu, mùa của sự tàn phai rơi rụng, của hiu hắt gió và tƣ lự buồn cũng tràn ngập
trong thơ chữ Hán Nguyễn Du:
Trang 33
Yến Đảo thu hàn thanh nhập hải,
Nễ Giang triều tướng bạch hàm thiên
(Nễ Giang khẩu hƣơng vọng)
(Mùa thu lạnh, Hòn Én chiếu sắc xanh xuống mặt biển
Thủy triều lên sông Nễ lồng bóng trời trắng xóa)
Mùa thu là hình ảnh quen thuộc, phổ biến trong thi ca tự cổ chí kim. Đƣợc nhìn từ góc
chiếu tâm trạng, thu thƣờng hiện ra với nắng bảng lảng, với lá úa vàng. Không gian thu mờ
nhạt, ảm đạm và đó là thời điểm lòng ngƣời dội lên bao nỗi tiếc thƣơng, buồn nhớ. Trong thơ
Nguyễn Du, mùa thu gắn liền với "nỗi hận kim cổ và nỗi u uất ngàn đời của thi nhân".
Niên niên thu sắc hờn như hử,
Nhân tại tha hương bất tự trí.
(Giang đầu tản bộ)
(Hàng năm sắc thu vẫn không thay đổi
Chỉ khách tha hƣơng không biết mà thôi)
Biểu tƣợng mùa thu là đại diện cho sự vận động của thời gian nghệ thuật trong thơ
Nguyễn Du - thời gian đã đƣợc ánh chiếu qua lăng kính chủ quan của nhà thơ. Với 22 lần
xuất hiện, "mùa thu" là một hình ảnh không đậm nhƣng dai dẳng, đủ để ngƣời đọc không
quên sự có mặt của nó. Mùa thu bắt đầu cho cảm hứng trữ tình nơi thi nhân: Thu nhật ký
hứng, Tân thu ngẫu hứng, Thu dạ, Thu chí... Nhắc đến thu trong thơ Nguyễn Du, ta quen với
thu buồn, thu lạnh:
Yến Đảo thu hàn thanh nhập hải
(Nỗ giang khẩu hƣơng vọng)
(Mùa thu lạnh, Hòn Én chiếu sắc xanh xuống mặt biển).
Mùa thu với lá vàng, xao xác cả lòng khách xa quê:
Thiên lý xích thân vi khách cữu,
Nhất đình hoàng diệp tổng thu lai.
Trang 34
(Thu chí)
(Trơ trọi một mình ngoài ngàn dặm, nơi đất khách đã lâu ngày
Giờ đây một sân đầy lá vàng đƣa thu đến).
Sƣơng thu lạnh, khí thu hiu hắt, cây lá tiêu điều... Tất cả vẽ nên không gian ảm đạm,
thê lƣơng.Thứ ánh sáng mờ đục, nhạt nhòa của mùa thu mang lại cho con ngƣời những bâng
khuâng, để rồi thấy "cảnh đấy, ngƣời đây" mà chạnh lòng thƣơng cảm. Thu làm nền và cũng
là chất xúc tác cho cảm hứng cô đơn, buồn hận, cảm hứng về sự trôi chảy của thời gian, quy
luật bào mòn của tự nhiên trong thơ Nguyễn Du.
Cái buồn u uẩn và dai dẳng trong thơ Nguyễn Du giăng mắc bởi biểu tƣợng nghệ
thuật "mây" (vân). 16 lần "mây" xuất hiện trong hai tập thơ này:
Cô thành nhật mộ khởi âm vân
(Ngẫu đắc)
(Buổi chiều mây đen bốc lên từ tòa thành cô quạnh)
Sa trường nhật mộ trận vân thâm
(Thành hạ khí mã)
(Chốn sa trƣờng trời chiều mây kéo dày đặc)
Mây kéo, mây che, mây lấp lối... "Mây" là mã hóa của những u ám, rợn ngợp vây
quanh cuộc đời nhà thơ. Mây còn là hiện thân của nỗi "sầu vũ trụ", nỗi "sầu vạn thuở" khiến
nhà thơ của chúng ta nhức nhối và tê tái. Cũng có khi Nguyễn Du dùng hình tƣợng "mây" để
ám chỉ sự tạm bợ, hay đổi thay, dễ tan biến. Nguyễn Du thấy cuộc đời mình, cuộc đời ngƣời,
cuộc đời chung đều giống nhƣ cánh bèo mặt nƣớc, giống nhƣ đám mây nổi lên trời:
Tha hương thân thế thác phù vân
(Thu nhật ký hứng)
(Thân thế nơi đất khách gửi gắm đám mây nổi)
Thế nên, ông tự biết rõ hơn ai hết rằng:
Trang 35
Nhãn để phù vân khan thế sự
(Ký hữu)
(Mắt xem việc đời nhƣ đám mây nổi)
Tất cả những danh lợi, giàu sang, phú quí rồi chẳng còn gì. Mọi thứ đều ngắn ngủi,
tạm bợ thậm chí là trống rỗng:
Triều vân danh lợi nhãn tiền phi
(Đại tác cửu thú tƣ qui I)
(Danh lợi nhƣ đám mây buổi sáng, thay đổi ngay trƣớc mắt)
Ý thức sâu sắc điều đó, Nguyễn Du vững vàng hơn trong cuộc đấu tranh tự giữ mình
trƣớc những nguy cơ sa ngã của bản thân. Mặc dù đã xác định thái độ cho mình, Nguyễn Du
vẫn có chút gì đó lo lắng không an. Tâm hồn ông đã quá mệt mỏi. Ông mơ ƣớc viễn cảnh
tƣơi sáng, mùa xuân đất trời, mùa xuân của lòng ngƣời. Nỗi niềm mong mỏi, khát khao ấy
của thi nhân đƣợc đẩy lên đỉnh cao là những "giấc mộng". Trở đi trở lại trong thơ Nguyễn
Du là hình ảnh giấc mộng: Ký mộng, Bất mị, Lạng Sơn đạo trung...
Trần thế bách niên khai nhãn mộng
(La Phù giang thủy các độc tọa)
(Cuộc thế trăm năm chỉ là giấc mộng khi mở mắt)
Nguyễn Du lạnh lẽo, cô đơn ngay cả trong giấc mộng:
Viễn tụ hàn xâm du tử mộng
(Tạp ngâm)
(Khí lạnh rặng núi xa thấm vào giấc mộng ngƣời du tử)
Tuy nhiên, ta cũng có thể nhận thấy có những giấc mộng đẹp mà khi tỉnh rồi Nguyễn
Du hãy còn luyến tiếc: (Mộng đắc thái liên). Nhƣng ám ảnh ngƣời đọc nhất vẫn là giấc mộng
Nguyễn Du gặp lại ngƣời vợ hiền đầu gối tay ấp đã mất:
Mộng trung phân minh kiến,
Trang 36
Tầm ngã giang chi mi
Nhan sắc thị trù tích,
Y sức đa sâm si
(Ký mộng)
(Nay trong mộng thấy rõ ràng tìm đến ta ở bến sông này!
Vẻ mặt vẫn nhƣ xƣa, nhƣng quần áo xốc xếch
Tình cảm của Nguyễn Du đối với vợ thật sâu nặng. Ông nghĩ về vợ bằng tất cả nỗi
nhớ nhung, xuất phát từ tình yêu thƣơng chân thành. Ông mƣờng tƣợng ra gƣơng mặt của
ngƣời vợ. Càng xót xa hơn khi nghĩ đến ngƣời vợ ấy phải lặn lội đƣờng xa đến tìm chồng
trong cơn đau yếu bệnh hoạn. "Mà núi Tam Điệp nhiều hổ báo, sông Lam Giang lắm thuồng
luồng!" Phải yêu thƣơng vợ biết bao thì Nguyễn Du mới có những dòng chân thành, xúc
động đến vậy! Giấc mộng tan, hai thế giới không còn tƣơng thông đƣợc với nhau. Nguyễn Du
thầm khóc cho nỗi đau mất mát của mình, càng muốn níu kéo giấc mộng hơn bao giờ hết, dẫu
rằng: trăm cơn mơ, nghìn giấc mộng chắc gì đã xoa dịu "một đêm dày", "một trời mây"...
Còn rất nhiều bài thơ khác, Nguyễn Du đề cập đến giấc mộng. Chính Ông cũng tự nhận thấy
mình là ngƣời hay sống trong mộng mị nhƣ bạn ông từng nhận xét:
Tri giao quái ngã sầu đa mộng
(Ngẫu đề)
(Các bạn thân trách ta hay buồn và hay mơ mộng)
Nhƣng hơn thế nữa, Nguyễn Du còn khái quát rằng:
Thiên hạ hà nhân bất mộng trung
(Ngẫu đề)
(Nhƣng thiên hạ ai ngƣời không ở trong mộng?)
Cả thiên hạ cũng đang mộng mị. Ai tỉnh ai mơ? Đâu là lẽ thực hƣ, đúng sai ở đời?...
Trang 37
Trên đây, chúng ta đã điểm qua một vài biểu tƣợng góp phần thể hiện cảm hứng nghệ
thuật trong hai tập thơ chữ Hán Nguyễn Du. Mỗi hình ảnh có nét độc đáo riêng, ý nghĩa thẩm
mỹ riêng song đều thống nhất ở vai trò nghệ thuật của nó - những phƣơng tiện thể hiện thế
giới tinh thần phong phú, sâu sắc và độc đáo của Tố Nhƣ. Ngoài những ý nghĩa tự thân của
hình tƣợng, Nguyễn Du "gia công" thêm những lớp nghĩa mới; mới nhƣng không hề gƣợng
ép mà hòa cùng nhịp đập tình cảm trái tim thi nhân. Chính nhờ những biểu tƣợng này, thơ
Nguyễn Du dễ "bắt mạch" với độc giả hơn. Từ đó, ngƣời đọc có dịp sống với sáng tác chữ
Hán Nguyễn Du sâu hơn, chân thành và cảm thông hơn. Đó cũng là mục đích của thi ca đích
thực: Tác phẩm phải khơi gợi ở ngƣời đọc một điều gì đó và thay đổi ở họ một điều gì đó...
2. Giọng điệu nghệ thuật
Cha ông ta làm thơ là để bày tỏ cái chí của mình. "Thi dĩ ngân chí" là vậy. Chí nhƣ
thế nào sẽ phát ra lời tƣơng ứng nhƣ thế ấy. Giọng điệu chính là kết quả của sự thể hiện cái
chí của ngƣời sáng tác. Mặt khác, thơ là tiếng nói của tình cảm, cái gốc sâu xa của giọng điệu
thơ chính là tình. Vì thế, giọng điệu còn đƣợc hiểu là cái hồn, cái thần, cái khí của thơ văn.
Ngƣời làm thơ xƣa rất xem trọng các yếu tố này. Tóm lại, giọng điệu nghệ thuật là một hình
thức bộc lộ chủ quan của tác giả trong tác phẩm văn học. Nó là sự tổng hợp thái độ, tình cảm,
tƣ tƣởng, đạo đức và quan niệm thẩm mỹ của ngƣời sáng tác. Giọng điệu là yếu tố góp phần
thể hiện cảm hứng nghệ thuật của nhà thơ chính vì những lý do nêu trên...
Bao trùm "Thanh Hiên thi tập" và "Nam trung tạp ngâm" là giọng điệu bi thiết, buồn
thƣơng. Còn về phong cách, thơ Nguyễn Du có giọng nhu, khoan thai mà tha thiết lắng sâu
và chân thành hết mực. Giọng điệu ấy một phần thể hiện qua cách lập ý (những biểu tƣợng
nghệ thuật đã nói ở phần trên của chƣơng này), một phần thể hiện qua cách dùng từ, đặt câu...
Từ ngữ biểu lộ tâm trạng đƣợc Nguyễn Du sử dụng rất đa dạng, mỗi sắc thái tình cảm khác
nhau có những từ ngữ riêng để biểu đạt. Cụ thể, Nguyễn Du đã sử dụng với một tần số cao
những từ ngữ biểu lộ ý thƣơng xót, tiếc nuối nhƣ: "liên" (thƣơng), "tích" (tiếc). Để biểu
Trang 38
lộ nỗi buồn Nguyễn Du dùng những từ: "bi", "sầu", "trù tướng", "ưu"...Nỗi nhớ lại đƣợc
diễn đạt bằng những "ức", "tư", "hoài". Chất sầu bi trong thơ Nguyễn Du chính do những
từ mang chức năng biểu cảm này tạo nên. Đó hầu hết là những từ cho thấy những vận động
hƣớng nội của thi nhân. Thƣơng, buồn, sầu, nhớ... ẩn sâu trong lòng ngƣời, âm ỉ cháy nhƣng
nhức nhối khôn tả! Lời thơ chất chứa ƣu tƣ với bao cung bậc sầu bi...
Hƣớng về những nghĩ suy, cảm xúc của bản thân nhà thơ, trong một chừng mực nào
đó, ta nhận thấy thơ chữ Hán Nguyễn Du có sự xuất hiện của cảm hứng về con ngƣời cá nhân
- cái tôi với tƣ cách là một nhân vật trữ tình. Nhà thơ luôn có xu hƣớng bộc lộ mình. Vì lẽ đó,
nói chuyện ngƣời mà thấp thoáng là nói chuyện mình, nói chuyện mình nhƣng thực ra là để
nói chuyện đời. Nguyễn Du muốn đƣợc khẳng định nhƣ một thực thể tồn tại rõ rệt. Do đó,
hàng loạt từ biểu hiện cái tôi xuất hiện trong thơ ông. Từ "thân" xuất hiện với tần số cao diễn
đạt cảm húng bi thiết về bản thân nhà thơ. Khỉ muốn bày tỏ một cách mạnh mẽ hơn về cảm
giác bơ vơ, cô độc của mình, Nguyễn Du dùng từ "độc" (một mình).
Vô ngôn độc đối đình tiền trúc
(Ký hữu)
(Một mình im lặng nhìn khóm trúc trƣớc sân)
Cái buồn, cái cô đơn, bất mãn cứ đan xen vào nhau trong ý thức con ngƣời. Càng ý
thức sâu về thân phận con ngƣời, con ngƣời cá nhân Nguyễn Du càng thấy lẻ loi, cô độc
trong hành trình "đi tìm mình". Đỉnh điểm của sự thể hiện cảm hứng con ngƣời cá nhân là khi
Nguyễn Du dùng từ tự xƣng "ngã" (ta). Chính là ta chứ không là ai khác. Ta đối diện với ta,
với nỗi đau riêng ta:
Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ
(Mi trung mạn hứng)
(Ta có tấc lòng không biết nói cùng ai)
Nguyễn Du quan tâm đến cái "tôi" của mình với những đau buôn, lo âu, khắc khoải...
thậm chí, đã có lúc Nguyễn Du đem cả tên tuổi của mình vào thơ:
Trang 39
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
(Độc Tiểu Thanh ký)
(Chẳng biết ba trăm năm sau
Thiên hạ ai ngƣời khóc Tố Nhƣ?)
Xƣng tên mình trong thơ ở thời Nguyễn Du là việc hiếm thấy. Nhƣ vậy đủ để thấy
Nguyễn Du đã cô đơn biết bao giữa thời đại ấy.
Bên cạnh giọng bi thiết làm chủ âm, thơ Nguyễn Du còn có thêm giọng triết lý. Chất
triết lý này xuất phát từ những trăn trở dai dẳng và nhức nhối của thi nhân. Những câu hỏi
gieo vào lòng ngƣời đọc nỗi nghẹn ngào. Ai sẽ giúp nhà thơ trả lời những thắc mắc ấy? Mỗi
một câu hỏi đêu bộc lộ những nghĩ suy sâu sắc của Nguyễn Du về con ngƣời và cuộc sống,
về nhân dân và thời đại. Ông nhận ra Sự hữu hạn của kiếp ngƣời trƣớc vòng tuần hoàn vô hạn
của vũ trụ. Điều này biểu hiện thành một niềm u uẩn không tên mà ông cố đè nén. Cảm nhận
về cuộc đời mang màu sắc ảm đạm, xám tối, buồn rũ ra. Nguyễn Du không chỉ quan tâm đến
bản thân mà còn trải lòng ra với những cuộc đời đau khổ đang kêu gào. Nguyễn Du buồn
nhƣng không trốn đời mà càng ý thức hơn về nỗi khổ của con ngƣời. Nhà thơ cảm giác nhƣ
cả không gian và thời gian đều đang truy bức con ngƣời vào chỗ tan rữa. Giọng điệu thơ xót
xa ở chỗ nhà thơ đã đồng nhất đời ngƣời với "khoảnh khắc", "thoáng chốc":
Trần thế bách niên khai nhãn mộng
(La Phù giang thủy các độc tọa)
(Cõi trần trăm năm chỉ là giấc mơ khi mở mắt)
Nguyễn Du thu gọn cái đa số vào cái thiểu số để làm nổi bật lên sự ngắn ngủi, quá
ngắn ngủi của đời ngƣời. Chính điều này làm ngƣời đọc xót xa day dứt. Mặt khác, cái âu lo
đời thƣờng giữa cuộc sống đói nghèo, bệnh tật vây hãm con ngƣời. Nguyễn Du cảm nhận cái
nghèo làm cho con ngƣời trở nên hèn mọn hơn.
Trang 40
Nó ngăn cản chí khí, làm lạnh lẽo tâm hồn con ngƣời, cản trở con ngƣời trên mọi nẻo đƣờng:
Phù sinh lao lục kỷ thời hưu?
(Đồng Lung giang)
(Cuộc sống vất vả của ta bao giờ mới thôi?)
Nỗi lo đời mà hiện thân của nó là những câu hỏi trở thành nỗi ám ảnh trong tâm hồn
nhà thơ. Nguyễn Du hỏi nhƣng tự ông cũng hiểu rằng: "Thiên cao hà xứ vấn" (Trời cao làm
sao hỏi được - "Bất mị"). Con ngƣời thƣờng thốt ra những câu hỏi khi những nỗi sầu bi, ƣu tƣ
trong tâm lên đến tột cùng mà không thể giải tỏa. Hỏi nhƣng đồng thời cũng là cảm thán,
cũng là than thở bi ai. Đó là những câu hỏi lớn không lời đáp mà dẫu rằng Nguyễn Du có
"đấm nát tay trước cánh cửa cuộc đời" cũng khó mà lý giải đƣợc: "Cửa vẫn đóng và đời im
ỉm khóa" (ý thơ Chế Lan Viên). Những ngƣời cùng thòi Nguyễn Du, và cả thời đại Nguyễn
Du cũng lặng im trƣớc dấu chấm hỏi khắc khoải xót xa của thi nhân.
Từng câu hỏi là nỗi đau thoát ra từ nƣớc mắt thi nhân. Giọng điệu thơ trầm mà da
diết, chùng mà ngân vang. Có lúc câu chữ, ý tứ nhƣ cùng với những dấu chấm hỏi kia vút lên
bi phẫn. Cũng bằng hình thức sử dụng những câu hỏi tu từ, Nguyễn Du hiện lên với tầm vóc
lớn lao khi ông đặt câu hỏi về nỗi oan của những ngƣời tài hoa, những "kẻ phong lưu": "Vốn
chẳng có văn chƣơng nào ghét số mệnh; Làm sao trời đất lại ghét nhầm ngƣời?" (Tự thán II).
Nguyễn Du nhân danh những khách văn chƣơng hay những Tiểu Thanh, cô cầm... mà đặt câu
hỏi cho thời đại. Giọng thơ dƣờng nhƣ rắn rỏi và dứt khoát hơn. Nguyễn Du không chỉ khóc
thƣơng cho những mất mát, tai ƣơng mà con ngƣời phải gánh chịu, ông bắt đầu có những
nhận thức sâu sắc hƣớng về bản chất xã hội đƣơng thời. Nguồn cảm hứng tha thiết, chân
thành ấy quy định một giọng thơ trầm buồn song cũng có lúc đầy tỉnh táo, thậm chí chua chát
với đời. Nhìn thấy bao oan trái bất công của xã hội bấy giờ, Nguyễn Du hiểu rằng không có
đất sống cho những ngƣời tài hoa có thể "cất cánh bay cao". Phải là ngƣời có tƣ tƣởng tiến
bộ vƣợt khỏi nhãn quan của thời đại và ý thức hệ của tầng lớp mình, Nguyễn Du mới biểu
hiện sự suy nghĩ về chữ "tài" nhƣ thế, dẫu rằng có lúc Nguyễn Du cũng nói: tài tình chỉ
Trang 41
làm cho con ngƣời bị liên lụy. Đó là sự vận động đi lên về mặt tƣ tƣởng rất đáng ghi nhận ở
Nguyễn Du. Sự chuyển biến tích cực ấy cần một giọng điệu "khỏe" hơn để đủ sức chuyển tải
những nghĩ suy, chiêm nghiệm của Nguyễn Du về cuộc đời. Ông không đúc kết điều gì mà
chi nhẹ nhàng đặt những câu hỏi nhƣng cũng đủ làm nhức nhối bao trái tim ngƣời đọc. Giọng
thơ suy tƣ, nghiền ngẫm và triết lý thể hiện qua những câu hỏi tu từ khiến thơ Nguyễn Du có
sức nặng và sức ám ảnh cao.
Bằng những câu hỏi tu từ, nhà thơ kết thúc mở buộc ngƣời đọc phải nghĩ suy. Đó là
một nét độc đáo trong nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du. Một ngƣời lúc nào cũng lo đời,
thƣơng ngƣời, tình cảm lúc nào cũng thầm lặng, dạt dào nhƣ Nguyễn Du, thì lời thơ ƣu tƣ,
giọng thơ ai oán là điều dễ hiểu. Song, nghệ thuật lập ý, dùng từ, đặt câu của Nguyễn Du để
góp phần tạo nên giọng điệu ấy cũng là một thành công đáng kể mà ngƣời viết muốn nói đến
ở đây. Sự hòa quyện và tƣơng hỗ giữa cảm hứng nghệ thuật và giọng điệu nghệ thuật cho
thấy sự thống nhất tuyệt vời giữa nội dung và hình thức thơ chữ Hán Nguyễn Du.
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN
Qua những nội dung đã trình bày, chúng tôi xin đƣợc rút ra một số kết luận sau:
1. Ở hai tập này, cảm hứng trữ tình và cảm hứng hiện thực đan xen làm nên tính chất
vừa thống nhất, vừa phân hóa tƣơng đối trong cảm hứng nghệ thuật nói chung của thơ chữ
Hán Nguyễn Du. Trong đó, cảm hứng trữ tình vẫn chiếm ƣu thế hơn cả và tạo thành âm
hƣởng chủ đạo của hai tập thơ. Đó là thế giới tinh thần đầy u uất, buồn thƣơng và những vận
động nội tâm sâu sắc của một con ngƣời luôn khao khát sống nhƣng thời thế lắm điều bất nhƣ
ý.
2. Nguyễn Du đã từng ngập mình, ngƣợc xuôi vui buồn cay đắng trong cuộc đời ấy,
cuộc đời của mình, cuộc đời của quần chúng, cuộc đời chung quanh trong một thời đại vô
cùng ngột ngạt thƣơng đau, cô gỡ ra rồi lại buộc vào. Đi tìm mình, đi tìm chân lý trong cuộc
đời, Nguyễn Du đã từng
Trang 42
trả lời cho mình nhiều câu hỏi lớn lao về bao nhiêu trái ngƣợc trong cuộc đời ấy song không
bao giờ ông thấy thỏa mãn. Nỗi bế tắc trong tâm tƣờng là một nỗi đau khôn nguôi ở trái tìm
ấy. Ngoại hiện của nội tâm Nguyễn Du là đôi mắt u buồn, sâu thẳm, là mái tóc "bạc bơ phờ
trước gió chiều".
3. Đi sâu vào thế giới tình thần đa dạng của thi nhân, ngƣời viết nhận ra cảm hứng
nghệ thuật trong tác phẩm chữ Hán Nguyễn Du là kết quả của sự tƣ duy nghệ thuật mang dấu
ấn chủ quan của nhà thơ. Nhƣng hơn thế nữa, nó chính là hình bóng của lịch sử, văn hóa,
hiện thực và con ngƣời mang tính khách quan của tồn tại xã hội. Cùng suy tƣ với Nguyễn Du,
ta hiểu rằng nỗi đau lớn lao của ông không phải là chuyện áo cơm của cá nhân ông (nó chỉ
làm ông bận tâm trong một khoảng thời gian mà thôi), mà từ quá khứ và thực tại đau thƣơng
của con ngƣời, Nguyễn Du lo lắng cho tƣơng lai của con ngƣời. Đó mới chính là nội dung nỗi
lo "nghìn năm" của Tố Nhƣ. Có nhƣ thế, ta mới mong hiểu đúng về "bản chất thẩm mỹ của
cái buồn, các bi quan và tuyệt vọng trong thơ Nguyễn Du" [tr. 159, 16]. Từ đó, Nguyễn Du
góp sức cứu chúng ta khỏi những tâm tƣ uể oải, mệt nhọc không cần có, những lối sống hắt
hiu, lạnh nhạt hãy còn tồn tại trong thời đại chúng ta. "Nguyễn Du là ngƣời có thể thêm sức
nặng, thêm chiều sâu cho tình cảm yêu ghét của chúng ta" [tr.167, 6]. Mà điều ấy thì cần lắm
cho mỗi ngƣời, mỗi thời.
4. Cần nhớ rằng thơ Nguyễn Du không phải là loại thơ thù tạc, tiêu khiển. Thơ
Nguyễn Du là tất cả tâm hồn và tƣ tƣởng của ông. Vì vậy ngƣời đọc Nguyễn Du cũng không
thể hòi hạt mà buộc phải không ngừng suy nghĩ và chiêm nghiệm. Hy vọng rằng, mỗi ngày
trôi qua, cùng với vốn hiểu biết và vốn sống tăng lên, ngƣời đọc sẽ hiểu thêm đƣợc một phần
thơ của ông và dần dần đi đến hiểu hết đƣợc những chỗ sâu xa của Tố Nhƣ.
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
SÁCH
1. Lê Bảo, Nguyễn Du - nhà văn và tác phẩm trong nhà trường, Nxb. Giáo dục, tái
bản lần 3,2001.
Trang 43
2. Xuân Diệu, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập I), Nxb. Văn học Hà Nội, 1981.
3. Nguyễn Đăng Điệp, Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb. Văn học Hà Nội, 2002.
4. Nguyễn Đăng Điệp (tuyển chọn), Trần Đình Sử tuyển tập (tập 2) - Những công
trình lý luận và phê bình văn học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2005.
5. Trịnh Bá Đĩnh (tuyển chọn và giới thiệu), Nguyễn Du- về tác giả và tác phẩm,
Nxb.Giáo dục, 2003.
6. Nhiều tác giả, Kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du (1765 - 1965) Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1996.
7. Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính, Nguyễn Du - tác phẩm và lịch sử văn
bản, Nxb, Tp. Hồ Chí Minh, 2002.
8. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb.
Đại học quốc gia Hà Nội, 2000.
9. Nguyễn Phạm Hùng, Trên hành trình văn học trung đại, Nxb. Đại học quốc gia
Hà Nội, 2001.
10. Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX,
Nxb. Giáo dục, tái bản lần thứ 5, 2004.
11. Nguyễn Lộc, Nguyễn Du, Nxb. Đà Nẵng, 1986.
12. Phƣơng Lựu, Lý luận văn học, Nxb. Giáo dục, Tái bản lần 3, 2003.
13. Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb.
Giáo dục, tái bản lần 2, 2000.
14. Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Hà Nội -
Đà Nẵng, tái bản lần thứ 8, 2002.
15. Đặng Duy Phúc, Về Tiên Điền, Nhớ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Đặng Tất,
Đặng Dung, Nxb. Hà Nội, 1994.
Trang 44
16. Hoàng Trọng Quyền, Nguyễn Du và Đỗ Phủ - những tương đồng và dị biệt về
tư tưởng nghệ thuật, Luận án tiến sĩ Ngữ văn.
17. Nguyễn Hữu Sơn (và nhiề tác giả), Vềcon người cá nhân trong văn học cổ Việt
Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội - 1998.
18. Trần Đình Sử, Những thế giới nghệ thuật thơ, Nxb. Giáo dục, 1995.
19. Trần Đình Sử, Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2005.
20. Nguyễn Thị Thanh Thảo, Giọng điệu nghệ thuật trong thơ chữ Hán Nguyễn
Du (Luận văn tốt nghiệp), Lê Thu Yến hƣớng dẫn. 1998.
21. Đỗ Lai Thúy, Sự đỏng đảnh của phương pháp, Nxb. Văn hóa - thông tin, Tạp
chí văn hoá nghệ thuật.
22. Lê Trí Viễn (chủ biên), Văn học trung đại Việt Nam, Trƣờng đại học Sƣ phạm
Tp. Hồ Chí Minh xuất bản, 2002.
23. Hoài Việt, Thi sĩ Tố Như, Nxb. Hà Nội, 2003.
24. Lê Thu Yến, Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nxb. Thanh Niên,
1999.
25. Lê Thu Yến, Khảo sát một số đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du
(Luận án Phó Tiến sĩ), Mai Quốc Liên hƣớng dẫn.
26. Lê Thu Yên (chủ biên), Văn học Việt Nam - Văn học trung đại những công
trình nghiên cứu, Nxb. Giáo dục, tái bản lần thứ 2,2003.
BÁO, TẠP CHÍ.
27 ."Trở lại Tiên Điền", Báo Sài Gòn giải phóng, số 8827, ngày 27/01/02.
28. ."Nguyễn Du lần giỗ 176", Báo Sài Gòn giải phóng, số 7265, ngày 01/10/97.
Trang 45

