VĂN MẪU LP 11
CẢM NHẬN VỀ VẺ ĐẸP TÂM HỒN VÀ NHÂN CÁCH CỦA HẢI
THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC QUA ĐOẠN TRÍCH VÀO PHỦ
CHÚA TRỊNH
BÀI MẪU SỐ 1:
Hải Thượng Lãn Ông Hữu Trác một danh y tài năng, giàu y đức, sống o
cuối thế kỉ XVIII, thời vua Lê - chúa Trịnh. Ông còn một nhà văn, nhà thơ đáng kính.
Trong cuốn Thượng kinh sự (viết năm 1782), với ngòi bút kí sự chân thực sắc sảo,
ông đã vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh, về
quyền uy, thế lực của nhà chúa, miêu tả kinh đô Thăng Long lúc bấy giờ nhân dịp ông
được triệu vào kinh đô chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh
là một trong những đoạn thể hiện tập trung giá trị của tác phẩm kí sự này. Cũng qua đoạn
trích, ta thấy được đôi nét về tâm hồn và nhân cách của Hải Thượng Lãn ông.
Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh cũng như tập Thượng kinh skhắc họa chân
thực những điều mắt thấy tai nghe nhân dịp Lãn Ông được triệu vào kinh đô chữa bệnh
cho thế tử Trịnh Cán. Qua doạn trích, ta còn thấy vđẹp tâm hồn, nhân cách của ông:
đó là sự coi thường danh lợi, giữa cho nhân cách được trong sạch.
Hữu Trác ngỡ ngàng trước quang cảnh kinh đô. Đó bởi cái cảnh giàu sang
của vua chúa thực khác hẳn người thường” (!). Cảnh giàu sang đây khác quá. Lê Hữu
Trác, vốn con quan, sinh trường chôn phồn hoa cũng phải thốt lên rằng: Cả trời Nam
sang nhất đây!” Bao nhiêu giàu sang phú quý đều tập trung phủ chúa. Những người
dân bình thường bao giờ được biết đến cái cảnh sang giàu này. Nhưng đó cũng mi
chỉ cái biểu hiện ban đầu. Bài thơ cụ Lê Hữu Trác ngâm đọc đường đi được kết
thúc bằng câu:
“Quê mùa, cung cấm chưa quen
Khúc gì ngư phủ đào nguyên thủa nào!"
Câu kết thúc ấy đã phần nào phản ánh tâm tư của cụ. Cuộc sống bên ngoài và bên
trong phủ chúa thật là khác nhau. Giống như người ngư phủ năm xưa lạc vào chốn thần
tiên, huyền ảo, thơ mộng. Có một cảm giác xót xa lần quất ở đâu đây. Một sự phân vân,
trăn trở trong tâm hồn người làm nghề y. Không phải ngẫu nhiên cụ Trác có hứng ngâm
thơ chơi, mà đó là để ghi nhớ cái sự giàu sang khác thường trong phủ chúa. Đâu đâu
cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi
hương.” Được ngồi trên cáng để vào phủ mà “khổ không nói hết”. Chỉ với chi tiết ấy đã
cho thấy tâm hồn Lê Hữu Trác không hợp với chốn này. Ông sinh ra không phải để dành
cho những chốn rèm châu, hiên ngọc, bóng mai ánh vào”.
Sự ngỡ ngàng ngạc nhiên cũng được tăng dần qua từng nơi cụ đặt chân đến.
“Những cái cây lạ lùng và những hòn đá kì lạ” chưa bao giờ thấy được đặt trong cái điểm
ven hồ. Rồi những đồ dùng trong phủ chúa đều được sơn son thếp vàng, từ cái kiệu đ
vua chúa đi, đến các đồ nghi tượng, từ cái sập đến những cây cột... Bàn ghế thì toàn
những đồ đạc “nhân gian chưa từng thấy”. Tác giả chỉ dám “ngước mắt nhìn rồi lại cúi
đầu đi”. Cái cử chỉ cúi đầu đi ấy chứng tỏ rằng Lê Hữu Trác không phải là người đam mê
vinh hoa phú quý, ham tiền bạc hay lợi lộc. Đó một nét đẹp trong nhân cách con người
ông. Ông cảm thấy lạ lẫm lạc lõng giữa cuộc sống xa hoa trong phủ chúa. Tất cả
những điều đó đều bộc lộ qua ngòi bút kí sự đặc sắc, chân thực.
Nhân cách và tâm hồn danh y họ Lê còn được bộc lộ ngay trong suy nghĩ của ông
khi đơn thuốc cho thế tử Trịnh Cán. Một đấu tranh quyết liệt trước tòa án lương m.
Một bên sự trói buộc của công danh, một bên cái tâm của người thầy thuốc, cái đạo
làm người, cái phận m bề i. “Nếu mình m kết quả ngay tsẽ bị danh lợi ràng
buộc, không m sao về núi được (...). Nhưng rồi lại nghĩ: “Cha ông mình đời đời yêu
nước, ta phải dốc hết lòng thành, để nối tiếp cái lòng trung của cha ông mình mới được”.
thể thấy Lê Hữu Trác người không màng công danh, không ham bổng lộc. Ngược
lại ông còn đấu tranh với chính mình để thoát khỏi sự ràng buộc ấy, để được sống tự do
cùng núi non để tâm hồn thanh thản. Mặt khác ông cũng là người thầy thuốc có tâm huyết
giàu đức độ. thế ông đã kê cho thế tử “phương thuốc hòa hoãn nếu không trúng
thì cũng không sai bao nhiêu”, vì lương tâm không cho phép. Nếu làm sai thì sẽ phải phỉ
báng cái nghề y của mình, sẽ lỗi với lòng mình; nếu m đúng và tốt thì sẽ bị danh lợi
ràng buộc. thế nào cũng phải giữ được cho tâm hồn trong sạch, giữ cho nhân cách
được trọn vẹn. Cách giải về bệnh tình của Trịnh Cán cũng như diễn biến suy nghĩ, tâm
trạng của ông khi kê đơn cho thấy Lê Hữu Trác là người thầy thuốc có lương tâm.
Như vậy, từ cách nhìn của Lê Hữu Trác đối với đời sống nơi phủ chúa, đến sự suy
nghĩ cân nhắc khi đơn cho thế tử đều cho thấy ông người m huyết với nghề và
nhân cách, giàu đức dộ, coi thường công danh, bình thường danh lợi và một chút đau
xót trước cảnh sống xa hoa, quyền quý của chúa Trịnh.
Tài năng ấy, tâm hồn ấy, nhân cách ấy của Lê Hữu Trác đã giúp cho ông sống mãi
trong lòng nời thầy thuốc nói riêng, người dân đất Việt nói chung. Ông xứng đáng
được phong tặng danh hiệu ông tổ của nghề thuốc và được nời đời sau nhắc đến với
lòng thành kính nhất
BÀI MẪU SỐ 2:
Vào phủ chúa Trịnh, trích trong Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác (1724 -1791)
- văn bản tác phẩm được khắc in vào m 1879, tức 88 m sau khi tác giả qua đời, do
thầy thuốc Xuân Hiên hòa thượng Thích Thanh Cao chùa Đồng Nhân, Quế Võ,
Bắc Ninh quyên tiền thực hiện, việc khắc in kéo dài trong hơn 6 m - đã được các tác
giả của chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 11 bậc THPT.
Vào phủ chúa Trịnh, trích trong Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác (1724 -1791)
- văn bản tác phẩm được khắc in vào m 1879, tức 88 m sau khi tác giả qua đời, do
thầy thuốc Xuân Hiên hòa thượng Thích Thanh Cao chùa Đồng Nhân, Quế Võ,
Bắc Ninh quyên tiền thực hiện, việc khắc in kéo dài trong hơn 6 m - đã được các tác
giả của chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 11 hiện hành (cả ở bộ nâng cao và bộ
bản) giới thiệu cho học sinh trung học phổ thông nước nhà. Những người làm chương
trình sách giáo khoa quả cặp mắt xanh. Với dụng ý giới thiệu cho thế hệ trẻ học
đường vmột tác phẩm kí trung đại đặc sắc, của một trong những tác giả thuộc thức
nhà nho ở ẩn tiêu biểu. Thượng kinh kí sự là tác phẩm kí độc đáo được Lê Hữu Trác hoàn
thành vào tháng 8-1783. đó, tác giả đã kết hợp nhiều hình thức nghệ thuật của kí như:
du kí, nhật kí, hồi kí, kí phong cảnh, ghi người, ghi việc... Phải thừa nhận rằng, đến
Thượng kinh kí sự, thể kí văn học đích thực của Việt Nam mới thật sự ra đời. Đọc xong
tác phẩm, ta thấy hình tượng nhân vật tác giả hiện lên ràng, sinh động. Đấy một thi
nhân, một ẩn thanh cao, một danh y lỗi lạc đã tự đặt mình ra ngoài vòng cương tỏa
mỗi khi nghe tới hai chữ "công danh" thì sợ đến "dựng cả tóc gáy" bởi đã mắc vào rồi thì
"trời cứu cũng không thoát được". Ngoài ra, ta còn thấy Hữu Trác người lúc nào
cũng đau đáu một nỗi thương cha mẹ, yêu quê hương, nhớ bạn thân thích đến không
cầm được nước mắt[1]. Các câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa và những
gợi ý trong sách giáo viên đã cố gắng để làm rõ những kết quả cần đạt:
2. Đoạn trích nói riêng, tác phẩm nói chung viết về người thật việc thật, nhưng
thông qua những skiện tai nghe mắt thấy y, dường như Hải Thượng Lãn Ông muốn
gửi gắm trong đó những suy trăn trở của ông về thế sự, về sự tồn vong của chính thể
nhà Lê -Trịnh mà giới sử học gọi là thời Lê Mạt. Trong mắt Lê Hữu Trác tuy ở ẩn tận sơn
thâm cùng cốc nhưng vốn con quan, chỗ nào trong cấm thành (cung vua Lê - chúng tôi
thêm) cũng đã từng biết. Chỉ những việc trong phủ chúa (...) chỉ mới nghe thôi.
Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn nời thường[3].
Ông làm thơ ghi lại, lời thơ bề ngoài có vẻ như ca ngợi nhưng ngầm phê phán hết sức sâu
sắc nhà chúa:
Lính nghìn cửa vác đòng nghiêm nhặt,
Cả trời Nam sang nhất là đây!
Lầu từng gác vẽ tung mây,
Rèm châu, hiên ngọc, bóng mai ánh vào.
Hoa cung thoảng ngạt ngào đưa tới,
Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen.
Quê mùa, cung cấm chưa quen,
Khác gì ngư phủ đào nguyên thuở nào![4]
Phủ chúa Trịnh thế giới thần tiên nơi cõi trần, nơi sang nhất nước Nam tức
sang hơn cả cung vua Lê: đâu đâu cũng cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua
thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương. Những hành lang quanh co nối nhau liên tiếp.
Người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người việc qua lại như mắc cửi. Vệ canh giữ
cửa cung, ai muốn ra vào phải thẻ. (...) Điếm làm bên một cái hồ, những cái cây l
lùng những hòn đá lạ. Trong điếm, cột bao lơn lượn vòng kiểu cách thật xinh
đẹp[5]. Phủ chúa giàu sang tột cùng như vậy do đâu có? Phan Huy Chú (1782-1840)
trong Lịch triều hiến chương loại chí cho biết nạn sưu cao thuế nặng thời ấy:
Vào khoảng năm Giáp Thìn (1724) xét biên, trong dân gian, ai nghề nghiệp
chiếu bổ thuế sản. sự trưng thu quá mức, vật lực kiệt không thể nộp nổi đến nỗi
người ta thành ra bần cùng mà phải bỏ nghề nghiệp. người vì thuế sơn sống phải
chặt cây sơn, người thuế vải lụa phải phá khung cửi. Cũng kẻ nộp gỗ y
bỏ rìu, búa, vì phải bắt tôm lưới chài, vì phải nộp mật mía không trồng
mía nữa, phải nộp bông chè phải bỏ vườn hoang. Làng xóm náo động. Dân phiêu
tán, dắt díu nhau đi ăn xin đầy đường. Giá gạo cao vọt, một trăm đồng tiền không được
một bữa no. Nhân dân phần nhiều phải ăn rau ăn củ, đến nỗi ăn cả thịt rắn, thịt chuột,
chết đói chồng chất lên nhau, số dân còn lại mười phần không được một. Làng nào vốn
có tiếng trù mật cũng chỉ còn lại độ năm ba hộ mà thôi[6].
Phạm Đình Hổ (1768-1839) viết trong Vũ trung tùy bút như sau:
Khoảng năm Giáp Ng(1774-1775), trong nước vô sự, Thịnh Vương (Trịnh Sâm)
thích chơi đèn đuốc, thường ngự ở các li cung trên Tây Hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy.
Việc xây dựng đình đài cliên miên. Mỗi tháng ba bốn lần, Vương ra cung Thụy Liên
trên bờ Tây Hồ, binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ, các nội thần thì đều bịt khăn,
mặc áo đàn bà, bày bách hóa chung quanh bờ hồ để bán.
Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hỗ tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua bán
các thứ như cửa hàng trong chợ. Cũng lúc cho bọn nhạc công ngồi trên gác chuông
chùa Trấn Quốc, hay dưới bóng cây bến đá nào đó, hòa vài khúc nhạc.
Buổi ấy, bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây
cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì. Có khi lấy cả cây đa
to, cành rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về. giống như một cây cổ thụ mọc
trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một binh mới khiêng nổi, lại bốn
người đi kèm, đều cầm gươm, đánh thanh la đốc thúc quân lính khiêng đi cho đều tay.
Trong phủ, tùy chỗ, điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể đầu non. Mỗi
khi đêm thanh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như
trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó triệu bất tường. Bọn hoạn quan
cung giám lại thường nhờ gbẻ măng, ra ngoài dọa dẫm. Họ xem nhà nào chậu
hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay, thì biên ngay hai chữ "phụng thủ" vào. Đêm đến, các
cậu trèo qua ờng thành lẻn ra, sai tay chân đem lính đến lấy phăng đi, rồi buộc cho tội
đem giấu vật cung phụng để dọa lấy tiền. Hòn đá hoặc cây cối to lớn quá, thậm chí
phải phá nhà hủy tường để khiêng ra. Các nhà giàu bị họ vu cho giấu vật cung phụng,
thường phải bỏ của ra kêu van chí chết, khi phải đập bỏ núi non bộ, hoặc phá bỏ cây
cảnh để tránh khỏi tai vạ. Nhà ta phường Khẩu, huyện Thọ Xương, trước nhà tiền
đường trồng một cây lê, cao vài mươi trượng, lúc nở hoa, trắng xóa thơm lừng: trước
nhà trung đường cũng trồng hai cây lựu trắng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp, cung
nhân ta sai chặt đi cũng vì cớ ấy[7].
Ở một đoạn khác Phạm Đình Hổ còn cho biết thêm:
Hồi loạn năm Canh Thân (1740), Tân Dậu (1741), tỉnh Hải Dương ta chịu hại về
việc binh đao đến mười m m, ruộng đất hầu thành rừng rậm. Giống gấu chó, lợn lòi
sinh tụ đầy cả ngoài đồng. Những người dân sống sót phải đi bóc vỏ cây, bắt chuột
ăn. Mỗi một mẫu ruộng chỉ bán được một cái bánh nướng. Tổng Minh Ln ta một
cụ góa mà giàu, người làng bầu cụ m hậu phần. Vì tiền của cụ chất như núi, nên tục
gọi "Hậu Núi". Gặp năm mất mùa, nhà hết cả thóc ăn, mang năm bao bạc đi đổi
thóc không được, phải chết đói bên xóm chùa Bình Đê. Bấy giờ làng ta bỏ hoang rậm
rạp ngập mắt. Đến khi loạn lạc đã yên, người làng mới từ chốn kinh đô lục tục kéo về,
chặt tranh phá cỏ, đi m nhận nền nhà cũ, thu nhặt những xương tàn đem chôn. Nay
phía nam đầu làng vẫn còn một khu nga trang, hàng m cứ đến rằm tháng bảy,
người làng đem cỗ bàn ra cúng viếng.
Các cụ nhà nho làng ta ngày xưa, như ông nho sinh Phạm Diên Bá, thường nói
chuyện với ta rằng: Đương lúc loạn lạc, ông đi đường về tỉnh Đông, có vào nghỉ nhà hàng
cơm bên đường, thấy mùi thịt rất tanh, trên mặt nước bát canh thịt nổi sao lên như hình
bán nguyệt. Hỏi người hàng m thì họ nói đó thịt lợn lòi. Khi ăn đến nửa chừng, thấy
con rận chết trên mặt bát mới biết thịt người, vội vàng chạy ra móc cổ thổ ra. Ôi!
Đời xưa bảo rằng "thú ăn thịt người" cũng chưa đến nỗi quá tệ như vậy[8].
Trong khi đó, bữa m Hữu Trác được ăn trong phủ chúa Trịnh thì: m
vàng, chén bạc, đồ ăn toàn của ngon vật lạ, tôi bấy gimới biết cái phong vị của nhà
đại gia[9]. đó khiến ta nhớ đến câu thơ Đỗ Phủ: Cửa son rượu thịt để ôi - thằng