
lơri tưnc tưo khoapn nơr quônc gia naoy cupa Mys. Chip vio xem nher sưr khanc biêrt giưsa viêrc chinnh
phup trưrc tiênp phant haonh tiêrn têr vơni viêrc chinnh phup phant haonh công trani coon ngân haong
phant haonh tiêon, mao các nhà ngân hàng đas taro nên môrt sưr bânt công lơnn nhânt trong lirch
sưp loaoi ngươoi. Ngươoi dân bir enp phapi nôrp thuên giann tiênp qua canc ngân haong, mao nhưsng
khoapn thuế này chinnh lao taoi sapn vao tiêon barc do môo hôi nươnc mănt cupa hor laom nên!
Masi đênn ngaoy nay, Trung Quônc lao một trong sôn int quônc gia trên thên giơni có chính sách
phát hành tiền tệ do chinnh phup trưrc tiênp điều hành. Nhơo đon khoapn lơri tưnc phapi chi trap
mao Chinnh phup vao ngươoi dân đas tiênt kiêrm đươrc trở thành nhân tôn quan trorng không thêp
thiênu khiênn Trung Quônc con thêp phant triêpn nhanh vao lâu daoi như vâry. Nênu con ai đon đưa
ra đêo xuânt phapi horc hopi “kinh nghiêrm tiênn bôr” cupa nươnc ngoaoi, ngân haong nhân dân
câon phapi duong nơr quônc gia cupa Chinnh phup laom thên chânp đêp phant haonh đôong nhân dân têr,
thio ngươoi dân Trung Quônc câon phapi coi chưong.
Lincoln không phapi lao không biênt đến nguy cơ đe dọa visnh cưpu naoy và dưr tinnh rằng,
sau khi thănng cưp ơp nhiêrm kyo kên tiênp vaoo năm 1865, ông ses phên bop phanp lêrnh naoy,
nhưng chip 42 ngaoy sau khi trunng cưp, Lincoln đas bir anm sant. Canc thên lưrc cupa ngân haong
quônc tên trong quônc hôri thưoa thănng xông lên. Họ cho rằng, câon phapi loari bop đôong tiêon
xanh cupa Lincoln thio mơni con thêp kê cao gôni mao ngup đươrc. Ngaoy 12 thanng 4 năm 1866,
quônc hôri đas thông qua “Phanp lêrnh thu hôoi” (Contraction Act), hoong thu hôoi tânt cap canc
đôong tiêon xanh hiêrn đang lưu thông, vao đôpi lari thaonh tiêon kim loari, sau đon gart bỏ tiêon
xanh ra khopi hêr thônng lưu thông, khôi phurc chế độ bapn vir vaong.
Ơp môrt đânt nươnc vưoa thoát khopi cuôrc chiênn điêu taon câon khôi phurc, chăpng con gio hoang
đươong hơn lao môrt chinnh sanch kiêpm soant gănt gao tiêon têr. Lươrng tiêon têr lưu thông 1,8 tip
đô-la Mys tưo năm 1866 (tưnc khoapng 50,46 đô-la Mys môsi ngươoi), đas surt giapm xuônng coon
1,3 tip đô-la Mys năm 1867 (tưnc 44 đô-la Mys môsi ngươoi), 600 triệu đola Mys năm 1876
(môsi ngươoi 14,6 đô-la), cuôni cuong lao giapm xuônng coon 400 triệu đô-la Mys (môsi ngươoi
6,67 đô-la) năm 1886, trong bôni capnh môrt nươnc Mys vơni nhiêou vênt thương chiênn tranh
câon chưsa trir, môrt nêon kinh tên câon đươrc phurc hôoi vao phant triêpn, đôong thơoi tionh hionh dân
sôn tăng nhanh, nhưng lari gărp capnh thiênu hurt nghiêm trorng lươrng cung ưnng tiêon têr, đa
sôn ngươoi dân đêou cho răong sự phôon vinh rôoi suy thoái lao quy luârt cupa phant triêpn kinh tên.
Nhưng trên thưrc tên, nguôon cung ưnng tiêon têr đươrc thao tunng khi buông khi siênt bơpi canc
ngân haong quônc tên mơni lao nguôon cơn thưrc sưr cupa vânn đêo.
Muoa đông năm 1872, canc ngân haong quônc tên đas phani Ernest Seyd đem theo môrt khoapn
tiêon lơnn tưo Anh vaoo Mys, thông qua viêrc hôni lôr canc quan chưnc đêp thông qua “phanp lêrnh
tiêon đunc năm 1873” (Coinage Act), lirch sưp gori lao “phanp lêrnh ngu xuâpn 1873” (Crime
of 1873), đinch thân Ernest Seyd đas soarn thapo phanp lêrnh naoy, và nó đas gart bop tiêon băong
barc ra khopi hêr thônng lưu thông tiêon têr, tiêon vaong trơp thaonh thưn tiêon têr duy nhânt. Phanp
lêrnh naoy không coon nghi ngơo gio vêo hiêru ưnng phup sương lên tuyênt cho doong lưu thông
tiêon têr vônn đas thiênu hurt trâom trorng. Sau khi xong viêrc, Ernest Seyd vênh vano tưr đănc noni
răong: “Muoa đông năm 1872, ta đas laom môrt chuyênn đênn Mys, ta đas đapm bapo chănc chănc
viêrc thông qua phanp lêrnh tiêon đunc đêp phên bop tiêon barc. Cani mao ta đari diêrn lao lơri inch cupa
canc chup tirch ngân haong Anh quônc. Đênn năm 1873, tiêon vaong đas trơp thaonh loari tiêon kim
loari duy nhânt.”
Nhưng sưr thârt, tanc durng cupa viêrc loari trưo tiêon barc ra khopi lisnh vưrc lưu thông tiêon têr
quônc tên lao nhăom đêp đapm bapo chănc chănn sưnc khônng chên tuyêrt đôni cupa canc ngân haong
quônc tên đôni vơni lươrng cung ưnng tiêon têr thên giơni, đôni phon vơni viêrc khai thanc canc mỏ barc
vơni sôn lươrng ngaoy caong nhiêou, coon sapn lươrng vao viêrc thăm doo canc mỏ vaong ngaoy caong
int đi, sau khi đas nănm giưs đươrc viêrc khai thanc canc mỏ vaong thên giơni, đương nhiên ngân
haong quônc tên không muônn lưu lươrng tiêon barc mao hor khon khônng chên đươrc lari can dưr
vaoo đira vir ban quyêon taoi chinnh thên giơni cupa hor. Cho nên kêp tưo năm 1871, barc trănng đas

đươrc loari trưo đôong loart ơp canc quônc gia Đưnc, Anh, Hao Lan, Ano, Scandinavis, dâsn đênn
viêrc lươrng lưu thông tiêon têr cupa môsi quônc gia bir co lari là rânt lơnn, tưo đon đas dâsn đênn cuôrc
đari suy thoái kinh tên nghiêm trorng keno daoi 20 năm ơp châu Âu (Long Depression, 1873
– 1896).
Ơp Mys, “phanp lêrnh thu hôoi” vao “phanp lêrnh tiêon đunc” đas trưrc tiênp gây nên cuôrc đari suy
thoái kinh tên tưo năm 1873 đênn năm 1879. Trong khoapng thơoi gian ba năm naoy, tip lêr thânt
nghiêrp cupa Mys đas cao đênn 30%, ngươoi dân Mys đas cương quyênt yêu câou phapi khôi phurc
lari thơoi kyo lưu haonh song song tiêon barc vao tiêon xanh Lincoln. Dân chunng Mys thaonh lârp
môrt canch tưr phant canc tôp chưnc như hôri barc trănng (US Silver Commission), hôri tiêon xanh
(Greenback Party), thunc đâpy cap nươnc khôi phurc lari chên đôr lưu haonh song song tiêon
vaong vao tiêon barc, phant haonh lari tiêon xanh Lincoln vônn đươrc ngươoi dân rânt hoan nghênh.
Bano cano cupa hôri barc trănng ơp Mys đas chip ra: “Thơoi kyo trung côp đen tôni chinnh lao do tiêon têr
thiênu hurt vao gian cap surt giapm gây nên. Không con tiêon têr, không con văn minh, cung ưnng
tiêon têr giapm, văn minh tânt nhiên ses tiêu vong. Thơoi cơ đônc giano La Mas, đên quônc con
tôpng côrng lươrng lưu thông tiêon têr kim loari tương đương vơni 1,8 tip đô-la Mys, đênn cuôni
thên kyp 15, lươrng lưu thông tiêon têr kim loari (cupa châu Âu) chip coon lari 200 triệu đô-la
Mys. Lirch sưp đas chưnng minh răong không con bânt cưn sưr thay đôpi con tinnh chânt tai hora naoo
sannh băong viêrc đên quônc La Mas chuyêpn sang thơoi trung côp đen tôni.”
Nhưng đôni diêrn vơni nhưsng đooi hopi cupa dân chunng Mys lao thani đôr dưnt khoát larnh luong
cupa hiêrp hôri canc nhao ngân haong Mys (The American Bankers Association). Trong thư
cupa hiêrp hôri naoy gửi cho canc hôri viên đas chip ra:
Chunng tôi đêo nghir canc ngaoi hasy dônc toaon lưrc dưra vaoo canc nhârt bano vao tarp chin danh tiênng, đărc
biêrt lao tôp chưnc nông nghiêrp vao tôn giano, kiên quyênt phapn đôni Chinnh phup phant haonh tiêon xanh,
canc ngaoi phapi chânm dưnt trơr giunp nhưsng ưnng cưp viên naoo không top yn phapn đôni viêrc Chinnh phup
phant haonh tiêon xanh. Viêrc gart bop quyêon phant haonh tiêon têr quônc gia cupa ngân haong hoărc khôi
phurc viêrc phant haonh tiêon xanh cupa Chinnh phup ses khiênn cho (quônc gia) con thêp cung ưnng tiêon têr
cho ngươoi dân, điêou naoy ses phương hari nghiêm trorng đênn lơri nhuârn cupa ngân haong cusng như
lơri inch cupa nhưsng ngươoi cho vay như chunng ta. Lârp tưnc hern gărp canc nghir viên quônc hôri ơp khu
vưrc cupa canc ngaoi, yêu câou hor bapo vêr lơri inch cupa chunng ta, như vâry chunng ta con thêp khônng chên
lârp phanp.
Năm 1881, trong capnh kinh tên tiêu điêou, Tôpng thônng thưn 20 cupa Mys lao James
bươnc lên đaoi chinnh trir vao đas nhion thâny cusng như nănm bănt đươrc điêpm cônt yênu cupa vânn
đêo. Ông noni răong:
Ơp bânt cưn quônc gia naoo, ai không chên đươrc viêrc cung ưnng tiêon têr thio ngươoi đon trở thành ngươoi
chup tuyêrt đôni cupa canc ngaonh công, thương nghiêrp hiêrn con. Trong khi hiêpu ros đươrc toaon bôr hêr
thônng (tiêon têr) do môrt thiêpu sôn ngươoi duong phương phanp naoy hay phương phanp kia không chên
môrt canch hênt sưnc dês daong, thio barn không câon ngươoi khanc noni cho barn biênt vêo nguôon gônc cupa
viêrc larm phant vao siênt chărt tiêon têr.
Lơoi phant biêpu naoy mơni được phant đi trong mâny tuâon thio Tôpng thônng đas bir
Charles Guiteau - môrt tên “mănc bêrnh tâm thâon” anm sant vaoo ngaoy 2 thanng 7 năm 1881.
Tôpng thônng bir bănn hai phant, vao cuôni cuong qua đơoi ngaoy 19 thanng 9.
Trong suônt thên kyp 19, canc ngân haong quônc tên đas thaonh công vơni sanch lươrc “duong quyêon
lưrc cupa đôong tiêon thâon thannh đêp thu đươrc vương quyêon thâon thannh”. Tại Mys, “quyêon
lưrc thâon thannh cupa đôong tiêon cusng dâon laom tan ras dân quyêon thiêng liêng”. Sau nhưsng
cuôrc đor sưnc kirch liêrt keno daoi haong trăm năm vơni Chinnh phup dân cưp cupa nươnc Mys, canc

ngân haong quônc tên đas chiênm thên thươrng phong. Canc nhao sưp horc cupa Mys đas chip ra rằng,
tip lêr hy sinh cupa canc đơoi tôpng thônng Mys coon cao hơn nhiêou so vơni tip lêr hy sinh bionh
quân cupa thuyp quân lurc chiênn Mys.
Khi canc ngân haong nghênh ngang đănc yn đas nănm đươrc trong tay phanp lêrnh ngân haong
quônc gia năm 1863, thio murc tiêu thaonh lârp môrt ngân haong vơni mô hionh cupa Ngân haong
Anh ơp Mys chip coon trong gang tânc. Môrt ngân haong trung ương tư hưsu hoaon toaon khônng
chên quyêon phant haonh tiêon têr cupa nươnc Mys, môrt ngân haong cupa canc đari gia ngân haong đas
manh nha hình thành.
[32] Glyn Davies, Lịch sử tiền tệ từ thời cổ đại đến nay (History of Money From
Ancient Times to The Present Day) - University of Wales Press 2002, tr. 489.
[33] Des Griffin, Trở về thời nô lệ (Descent into Slavery) - Emissary Publications,
1980, Chương 5.
[34] Abraham Lincoln and John F.Kennedy by Melvin Sickler

Cuộc chiến tranh tiền tệ (Phần 4)
Một quốc gia công nghiệp vĩ đại bị hệ thống tín dụng khống chế một cách cứng nhắc. Sự phát
triển của quốc gia này và mọi hoạt động (kinh tế) của chúng ta hoàn toàn nằm trong tay một
số ít người. Chúng ta đã rơi vào thế thống trị cam go nhất, một kiểu khống chế triệt để nhất
trên thế giới. Chipnh phuu không còn có ý kiến tự do nữa, không còn quyền định tội tư pháp
nữa, không còn là chipnh phuu được lựa chọn bởi đa số người dân nữa, mà là chipnh phuu (vận
hành) dưới sự cưỡng bức và ý kiến của thiểu số có quyền chi phối. Rất nhiều nhân sĩ công
thương nghiệp của quốc gia này đều đang lo sợ một điều gì đó. Họ biết thứ quyền lực vô hình
này được tổ chức theo cách như vậy, tĩnh lặng vô tình như vậy, phủ khắp như vậy, khóa chặt
lẫn nhau như vậy, triệt để và toàn diện như vậy, đến nỗi họ không dám công khai lên án thứ
quyền lực này. [1]
Woodrow Wilson - Tổng thống thứ 28 của Mỹ
CHƯƠNG 3
CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TƯ HỮU
Có thể không quá khoa trương khi nói rằng, mãi đến ngày nay, Trung Quốc có thể cũng chẳng
có mấy nhà kinh tế học biết được một thực tế rằng, Cục dự trữ liên bang Mỹ chính là ngân
hàng trung ương tư hữu. Cái gọi là “Ngân hàng dự trữ liên bang”, thực ra vừa chẳng phải là
“liên bang”, mà cũng chẳng có “dự trữ”, và cũng không đáng được xem là “ngân hàng”.
Đa số các quan chức của chinnh phup Trung Quốc có thể sẽ nghĩ rằng, đương nhiên chinnh phup
Mỹ phát hành ra đồng đô la, nhưng trên thực tế, về cơ bản, chinnh phup Mỹ không có quyền
phát hành tiền tệ! Năm 1963, sau khi tổng thống Kennedy bị ám sát, chinnh phup Mỹ cuối cùng
đã mất đi quyền phát hành “đô-la Mỹ bạc trắng”. Muốn có được đồng đô-la, Chinnh phup Mỹ
cần phải đem thu nhập từ thuế tương lai (công trái) của người dân Mỹ, thế chấp cho cục dự
trữ liên bang Mỹ tư hữu, “chứng chỉ cục dự trữ liên bang Mỹ” do cục dự trữ liên bang Mỹ
phát hành, đây chính là “đô-la Mỹ”.
Tính chất và lai lịch của “cục dự trữ liên bang Mỹ” trong giới học thuật và giới truyền thông
Mỹ, là một “vùng cấm” mọi người tự hiểu với nhau mà chẳng cần nói ra. Hằng ngày, giới
truyền thông Mỹ có thể bàn tán về vô vàn vấn đề chẳng có chút quan trọng gì kiểu như “hôn
nhân đồng tính”, nhưng những vấn đề quan trọng liên quan đến việc ai đang khống chế
chuyện phát hành tiền tệ, liên quan đến lợi ích chi trả lợi tức các khoản vay cá nhân thì lại hầu
như chẳng có chữ nào đá động đến.
Đọc đến đây, nếu bạn có cảm giác kinh ngạc, vấn đề sẽ trở nên quan trọng, trong khi bạn lại
không hay biết. Chương này sẽ nói về bí mật của việc thành lập Cục dự trữ liên bang Mỹ -
vấn đề đã bị giới truyền thông Mỹ cố ý “bỏ qua”. Khi chúng ta dùng một chiếc kính hiển vi để
soi lại giây phút cuối cùng của một sự kiện trọng đại ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử thế giới
thì sự phát triển của sự kiện sẽ chính xác đến mức ta phải lấy lấy tiếng tích tắc của đồng hồ
làm đơn vị đo lường.
Ngày 23 tháng 12 năm 1913, chinnh phup dân cử của Mỹ cuối cùng đã bị quyền lực đồng tiền
lật đổ.
ĐẢO JEKYLL THẦN BÍ: CA3I NÔI CU9A CU8C DƯ8 TRƯP LIÊN BANG MYP
Đêm ngày 22 tháng 11 năm 1910, một đoàn tàu rèm che kín mít chậm rãi tiến về phía Nam.
Những người ngồi trong toa tàu đều là những nhà tài phiệt ngân hàng quan trọng nhất nước
Mỹ, không một ai biết được mục đích chuyến đi này. Điểm dừng cuối cùng của đoàn tàu là

đảo Jekyll thuộc bang Georgia xa mấy trăm dặm Anh.
Đảo Jekyll của bang Georgia là một quần đảo nghỉ đông thuộc sở hữu của những nhân vật
giàu có siêu hạng ở Mỹ. Các thế lực tai to mặt lớn mà đứng dầu là JP Morgan đã thành lập
một câu lạc bộ đi săn trên đảo Jekyll. Một phần sáu của cải thế giới dồn vào tay các hội viên
của câu lạc bộ này, và tư cách hội viên chỉ có thể kế thừa chứ không thể chuyển nhượng. Lúc
này, câu lạc bộ nhận được thông báo có người cần sử dụng hội sở của câu lạc bộ này trong
khoảng hai tuần, và như vậy, trong khoảng thời gian này, tất cả các thành viên không được
phép sử dụng hội sở. Toàn bộ nhân viên phục vụ của hội sở đều là những người được bố trí
đến từ đất liền, chỉ được xưng tên chứ tuyệt đối không được sử dụng họ đối với những người
khách đến hội sở này. Trong phạm vi 50 dặm Anh, hội sở được đảm bảo rằng xung quanh
không có sự xuất hiện của bất cứ tay săn tin nào.
Ngay sau khi công việc chuẩn bị hoàn tất, những vị khách này xuất hiện tại hội sở. Tham gia
hội nghị tuyệt mật này có:
Nelson Aldrich, thươrng nghị sĩ, Chủ tịch ủy ban tiền tệ quốc gia (National Monetary
Commission), ông ngoại của Nelson Rockefeller
A. Piatt Andrew, trơr lyn bôr trươpng bôr taoi chinnh Mys
Frank Vanderlip, Chủ tịch National City Bank
Henry P. Davison, cổ đông cao cấp của công ty J.P Morgan
Charles D. Norton, Chủ tịch First National Bank
Benjamin Strong, trợ lý của J.P Morgan
và Paul Warburg, dân di cư gốc Do Thái đến từ Đức. Năm 1901, Paul đến Mỹ và hùn một
khoản vốn lớn vào công ty Kuhn Loeband Company. Là đại diện của dòng họ Rothschild ở
Anh và Pháp, đảm nhận chức tổng công trình sư của Cục dự trữ liên bang Mỹ kiêm chủ tịch
đầu tiên Cục dự trữ liên bang Mỹ.
Những nhân vật quan trọng này đến hòn đảo nhỏ hẻo lánh mà chẳng có hứng thú gì với việc
săn bắn. Họ đến đây với một nhiệm vụ chủ yếu là khởi thảo một văn kiện quan trọng: Dự luật
dự trữ liên bang (Federal Reserve Act).
Paul Warburg là một cao thủ về lĩnh vực ngân hàng, tinh thông hầu như mọi khâu nhỏ trong
hoạt động ngân hàng. Nếu có ai đó thắc mắc với các câu hỏi cần giải đáp, Paul không chỉ
nhẫn nại trả lời mà còn giảng giải không ngớt về nguồn gốc lịch sử sâu xa của mỗi một khái
niệm chi tiết. Ai cũng khâm phục kiến thức uyên bác trong lĩnh vực ngân hàng của ông. Paul
hiển nhiên trở thành người khởi thảo đồng thời là người giải đáp mọi vấn đề trong việc xây
dựng văn kiện.
Nelson Aldrich là người ngoại đạo duy nhất trong số những nhân vật có mặt ở đây. Ông phụ
trách chỉnh sửa nội dung văn kiện sao cho phù hợp với yêu cầu chính xác của chính trị và có
thể được chấp nhận ở quốc hội. Những người khác đại diện cho lợi ích của các tập đoàn ngân
hàng khác nhau. Họ tiến hành tranh luận kịch liệt suốt 9 ngày liền xung quanh chi tiết phương
án mà Paul đề xuất, cuối cùng đã đi đến thống nhất.
Do cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 1907 nên trong mắt người dân Mỹ, hình ảnh của các
nhà ngân hàng không còn mấy đẹp đẽ. Điều này khiến cho đa số nghị sĩ quốc hội không dám
công khai ủng hộ dự luật do các nhà ngân hàng tham gia lập ra. Vì vậy, những người này
không quản ngại đường xa vạn dặm, lặn lội từ New York đến hòn đảo hoang vắng này để
tham gia khởi thảo văn kiện. Hơn nữa, cái tên Ngân hàng trung ương nghe có vẻ quá khoa
trương. Từ thời Tổng thống Jefferson đến nay, tên gọi của Ngân hàng trung ương đều có dính
dáng đến âm mưu của nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế Anh, vì thế Paul kiến nghị dùng tên
“Cục dự trữ liên bang” (Federal Reserve System) để che đậy tai mắt thiên hạ. Thế nhưng, Cục
dự trữ liên bang có đầy đủ mọi chức năng của một ngân hàng trung ương, và cũng giống như
ngân hàng Anh, Cục dự trữ liên bang Mỹ được thiết kế theo kiểu tư nhân nắm giữ cổ phần, và
ngân hàng sẽ thu được lợi ích rất lớn từ việc đó. Điều khác với ngân hàng thứ nhất và ngân

