CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Mục tiêu bài học:
- Nêu được đặc điểm, mục tiêu, hình thức của giáo dục và đào tạo ở nước ta
hiện nay;
- Nêu được những phương hướng cơ bản nhằm phát triển giáo dục và đào tạo ở
nước ta hiện nay;
- Hiểu được trách nhiệm của công dân trong việc thực hiện chính sách giáo dục
và đào tạo của Đảng và Nhà nước;
- Biết tham gia tuyên truyền và thực hiện chính sách giáo dục và đào tạo phù
hợp với khả năng của bản thân.
1. Giáo dục và đào tạo
1.1. Khái niệm giáo dục và đào tạo
Giáo dục sự dạy dỗ đối với con người, nhu cầu của con người để
thoát khỏi trạng thái tự nhiên, biến “con người sinh vật” thành “con người
hội”, m cho con người trở thành thành viên hợp cách của hội. Giáo dục
bao gồm sự dạy dỗ cả về phương diện tinh thần lẫn vật chất, cả kiến thức, kỹ
năng lẫn kinh nghiệm. Các hoạt động giáo dục được thực hiện trong gia đình, ở
nhà trường hay ngoài xã hôi. Giáo dục gắn liền với quá trình văn hoá hoá và xã
hội hóa con người.
Đào tạo một phương diện của giáo dục, môt dạng hoạt động cụ thể
của giáo dục, sgiáo dục chuyên sâu. Đó quá trình học tập (thường gắn
với nhà trường) của con người để kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng làm việc
trong môt lĩnh vực nhất định, môt trình đô nhất định. Trong nhiều trường
hợp, “giáo dục và đào tạo” được gọi chung là giáo dục.
1.2. Đặc điểm của giáo dục và đào tạo
Giáo dục, đào tạo những hoạt đông thuôc lĩnh vực phát triển nguổn
nhân lực - nguổn tài nguyên quý nhất của mọi quốc gia. Giáo dục, đào tạo
nền tảng của quá trình hình thành và phát triển nguổn nhân lực, trang bị cho họ
những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thích hợp để hoạt đông tạo ra của cải
vật chấttinh thần, tạo ra dịch vụ hàng hoá và những tri thức mới cho xã hôi.
Do đó, kết quả của giáo dục, đào tạo không phải là những sản phẩm vật chất cụ
thể để tiêu dùng tính chất hình, tạo tiềm năng cùng to lớn cho sự
phát triển của xã hội.
Giáo dục, đào tạo môt lĩnh vực đầu cho tương lai. đầu cho giáo
dục đào tạo không tạo ra thành quả để thể hưởng thụ ngay, tạo ra lợi
ích trong tương lai. Như Hổ Chí Minh đã nói: "Vì lợi ích mười năm trổng cây,
vì lợi ích trăm năm trổng người".
Giáo dục, đào tạo được thực hiện bằng nhiều hình thức rất đa dạng: Các
tổ chức chuyên trách của hôi trực tiếp đảm nhận thông qua việc giảng dạy
theo trường, lớp; các thiết chế hôi (gia đình, đoàn thể, tôn giáo, ...) gián
tiếp thông qua sách và các phương tiện nghe, nhìn khác.
Giáo dục đào tạo mang lại lợi ích không chỉ cho những người được
hưởng chi phí về giáo dục, đào tạo, còn mang lại lợi ích chung cho toàn
hôi (kinh tế hôi phát triển nhờ nâng cao dân trí, sử dụng kho học, công
nghệ,...).
1.3. Mục tiêu của giáo dục - đào tạo
Mục tiêu giáo dục, nói một cách tổng quát hình tượng "trồng
người”, hình thành những con người phẩm chất, trình độ, năng lực đáp
ứng yêu cầu của hội, thích ứng với sự phát triển của đất nước, sphát triển
con người, xã hội và thời đại. Cụ thể là:
Cung cấp cho con người một khối lượng kiến thức nhất định, những
hiểu biết chung về đất nước, con người, hội hoặc về một lĩnh vực nhất định
(lịch sử, địa lý, toán học, kinh tế học,...).
Chuyển giao các giá trị văn hoá, các quy tắc ứng xử, các chuẩn mực của
hội của con người cho các thế nối tiếp sau. Các giá trị văn hoá đây
bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần, cả những giá trị truyền thống của dân tộc,
cộng đồng lẫn những giá trị chung của toàn nhân loại.
Giúp con người tiếp nhận các chế kiểm soát điều chỉnh hành vi
đối với họ trong cuộc sống xã hội.
Giúp con ngườikỹ năng trong những lĩnh vực nghề nghiệp nhất định
để tham gia vào quá trình lao động hội, phát huy tiềm năng của nhân để
phát triển cá nhân và đóng góp với sự phát triển chung của xã hội.
1.4. Hình thức giáo dục - đào tạo
Các hình thức giáo dục hết sức phong phú. Ngoài các thiết chế giáo dục
- đào tạo chính thức củahội (hệ thống các loại trường, cơ sở giáo dục - đào
tạo), quá trình giáo dục diễn ra khắp mọi nơi trong suốt cả đời người.
Chức năng giáo dục một trong những chức năng bản không chỉ của nhà
trường, còn của gia đình, tổ chức đoàn thể, tổ chức tôn giáo. Các thiết chế
không chính thức này trên thực tế đóng góp phần đặc biệt to lớn trong giáo dục
con người.
Giáo dục đào tạo, không chỉ yêu cầu hợp cách hoá các thành viên
của hội còn nhu cầu, động lực của mỗi nhân con người. Chính từ
nhu cầu này mà con người luôn có xu hướng biến quá trình giáo dục thành quá
trình tự giáo dục, do vậy hoạt động giáo dục thể diễn ra mọi lúc, mọi
nơi. Ví dụ: Một hành vi ứng xử với những người xung quanh sao cho đúng với
thuần phong mỹ tục không nhất thiết phải học nhà trường, ngược lại những
thứ này thường được tiếp thu từ trong gia đình, nhóm họ hàng hay bạn bè. Đối
với kỹ thuật làm một món ăn nào đó thể xem một lần trên tuyến truyền
hình hay đọc qua sách hướng dẫn. Kinh nghiệm trị bệnh đau đầu có thể tiếp thu
ngẫu nhiên ở quán nước trong lúc vui bạn bè.
Sự giáo dục đúng đắn, phương pháp trên sở thích ứng với khả
năng đáp ứng nhu cầu nhân sẽ điều kiện tốt quyết định nhân cách,
tương lai số phân của nhân. Ngược lại, sự giáo dục sai lầm sẽ dẫn con
người vào những chỗ u tối, nhu nhược, đi ngược lại các giá trị nhân bản.
2. Chính sách giáo dục và đào tạo
2.1. Khái niệm về chính sách giáo dục và đào tạo
Như đã giới thiệu, chính sách giáo dục, đào tạo môt trong những
chính sách hôi bản nằm trong hệ thống các chính sách kinh tế - hội
của Nhà nước. Chính sách giáo dục đào tạo công cụ quản của
Nhà nước đối với hoạt đông giáo dục đào tạo nhằm thực hiện các mục tiêu
của Nhà nước về lĩnh vực này.
thể hiểu chính sách giáo dục đào tạo môt hệ thống các quan
điểm, các mục tiêu của Nhà nước về giáo dục, đào tạo, cùng các phương
hướng, giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu đó trong môt giai đoạn nhất
định của sự phát triển đất nước.
2.2. Vai trò của chính sách giáo dục, đào tạo
Đối tượng của giáo dục, đào tạo là con người - vốn quý nhất, nguổn nôi
lực cốt lõi đối với sự tổn tại phát triển của đất nước. thể nói, giáo dục,
đào tạo mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia nhằm tạo ra một nguổn
nhân lực có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, đáp ứng ở
mức cao nhất những yêu cầu phát triển kinh tế xã hôi của đất nước.
Nếu như trước đây sự thiếu vốn nghèo nàn về sở vât chất
nguyên nhân chủ yếu làm châm tốc độ phát triển kinh tế thì trong thời đại ngày
nay, phần quan trọng của tăng trưởng gắn liền với chất lượng của lực lượng lao
đông, Nếu như trước đây, nền kinh tế của mỗi quốc gia chủ yếu dựa vào lao
đông tự nhiên thì ngày nay chủ yếu dựa vào thông tintrí tuệ. Kỷ nguyên
phát triển mới coi đầu phát triển nguổn nhân lực quan trọng hơn các loại
đầu khác. vây các quốc gia trên thế giới đều sự thay đổi trong chiến
lược phát triển của mình theo huướng chú trọng nhiều hơn đến giáo dục và đào
tạo.
Việt Nam, với ý nghĩa giáo dục, đào tạo quốc sách hàng đầu, việc
hoạch định và thực hiện chính sách giáo dục đúng đắn, cùng với các chính sách
hôi khác tiền đề quyết định cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chính
sách giáo dục đào tạo góp phần vào việc nâng cao dân trí, xây dựng và phát
triển con người văn hoá (đức tài), qua đó thực hiện mục tiêu trước mắt
"xoá đói giảm nghèo" (vì môt trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến
đói nghèo là do con người khônghọc, không có nghề nghiệp) cũng như góp
phần thực hiện mục tiêu bản sự tiến bô, công bằng, văn minh cho con
người trong hôi. Đây môt trong những chính sách thể hiện rất quan
điểm nhân văn và định hướng XHCN của Đảng và Nhà nước ta.
2.3. Định hướng giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước
Văn kiện Đại Hôi Đảng lần thứ VIII đã xác định: Cùng với khoa học
công nghệ, giáo dục đào tạo quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bổi dưỡng nhân tài. Coi trọng c 3 mặt: mở rông quy mô,
nâng cao chất lượng phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của giáo dục
đào tạo trong 5 năm tới phát triển nguổn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt thanh niên,
việc làm, khắc phục các tiêu cực, yếu kém trong giáo dục, đào tạo, nâng cao
chất lượng và hiệu quả của giáo dục.
Đến năm 2000, bảo đảm đại bộ phận trẻ em 5 tuổi được hưởng chương
trình giáo dục mầm non; thanh toán nạn mù chữ ở những người trong đô tuổi từ
15 đến 35, thu hẹp diện người chữ đô tuổi khác; bản hoàn thành phổ
cập tiểu học trong cả nước, trước hết đối với trẻ em trong đô tuổi từ 6 đến
14; phổ cập trung học cơ sở những thành phố lớn, khu công nghiệp tập trung
những nơi điều kiện cho phép. chính sách bảo đảm cho con em các
gia đình trong diện chính sách, gia đình nghèo được đi học, đông viên giúp
đỡ những học sinh giỏi nhiều triển vọng. Mở cuôc vận đông rông rãi trong
toàn dân kiên quyết xoá mù chữ và chống nạn thất học.
Xây dựng hệ thống trường trọng điểm, trung tâm chất lượng cao các
bậc học. Coi trọng việc dạy ngoại ngữ tin học từ cấp phổ thông. Mở thêm
các trường phổ thông nội trú những vùng khó khăn, vùng đổng bào thiểu số.
Coi trọng giáo dục gia đình.
Đổi mới hệ thống giáo dục chuyên nghiệp đại học, kết hợp đào tạo
với nghiên cứu, tạo nguổn nhân lực đủ khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến.
Củng cố nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Phát triển các hình thức
giáo dục từ xa. Mở rông các trường lớp dạy nghề đào tạo công nhân lành
nghề. Trong khi xây dựng thống trường công, chính scáh giúp đỡ, hướng
dẫn phát triển và quản lý tốt các trường, lớp bán công, dân lạp, tư thục. Khuyến
khích dạy nghề tại doanh nghiêp. Phát triển đào tạo sau đại học; tăng số lượng
đào tạo đại học sau đại học nước ngoài tại các trung tâm đào tạo quốc
tế trong nước. Khuyến khích du học tự túc. Giải quyết tốt mối quan giữa
đào tạo sử dụng. Xây dựng đôi ngũ trí thức đồng về các lĩnh vực khoa
học, công nghê, văn hoá, văn nghê, quản kinh tế, quản hôi, ...Nhanh
chóng xây dựng đôi ngũ công chức nhân viên của thống hành chính các
cấp. Đào tạo đôi ngũ các nhà quản trị doanh nghiêp giỏi. Nâng tỷ lao động
qua đào tạo từ 10% hiên nay lên khoảng 22 - 25%. Nâng cao kiến thức văn hoá,
nghề nghiêp cho phụ nữ, bồi dưỡng lực lượng cán bô nữ.
Xác định hơn mục tiêu, thiết kế nôi dung, chương trình, đổi mới
phương pháp giáo dục, đào tạo, lựa chọn những nôi dung tính bản, hiên
đại. Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác -
Lênin và tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn, lịch sử dân tôc
bản sắc văn hoá dân tôc; ý chí vươn lên tương lai của bản thân và tiền đồ
của đất nước. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiếnvà phương tiên
hiên đại vào quá trình đào tạo; phát triển mạnh quá trình tự học, tự đào tạo
thường xuyên rông khắp. Ngăn chặn xử nghiêm những tiêu cực trong
giảng dạy, học tạp, thi cử và cấp văn bằng chứng chỉ.
Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đôi ngũ giaó viên n quản
giáo dục. Sử dụng giáo viên đúng năng lực, đãi ngô đúng công sức tài
năng với tinh thần ưu đãi và tôn trọng nghề dạy học.
Tổng kết cải cách giáo dục; xây dựng chiến lược phát triển giáo dục
đào tạo trong thời kỳ công nghiêp hoá, hiên đại hoá đất nước. Xây dựng
hoàn thiên hê thống luạt pháp và chính sách của Nhà nước về giáo dục, đào tạo.
Tăng cường quản nhà nước đối với các loại hình trường lớp giáo dục, đào
tạo.
Nâng dần tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục, đào tạo, đông viên đúng
mức sự đóng góp của mỗi nhà, mỗi người đồng thời thu hút nguồn đầu từ
các công đồng, các giới trong ngoài nước cho giáo dục, đào tạo. đẩy mạnh
hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo. Phát huy trách nhiệm của các cấp uỷ
đảng, các cấp chính quyền, các doanh nghiệp đối với sự nghiệp giáo dục, đào
tạo.
Kỳ họp thứ 4, Quốc Hôi khoá 10 đã thông qua Luật giáo dục. Đây
môt bước tiến mới trong việc xây dựng chính sách về giáo dục của Nhà nước,
hoàn thiện thêm môt bước hệ thống luật pháp của Nhà nước về lĩnh vực này.
3. Xây dựng và thực hiện chính sách giáo dục, đào tạo
3.1. Phân tích môi trường bên trong
Môi trường bên trong đối với giáo dục, đào tạo không chỉ là nguồn ngân
sách hay sở vật chất - kỹ thuật dành cho lĩnh vực này trình đô, khả
năng cung cấp các dịch vụ giáo dục, đào tạo; quan điểm của hôi, dân tôc
về vấn đề này; những đông lực các hình thức khuyến khích, đông viên
con người tham gia vào các hoạt đông giáo dục, đào tạo. Môi trường bên trong
không chỉ là những mặt mạnh, những lợi thế mà còn là những hạn chế của hiện
tại và xu hướng của các dạng hoạt đông giáo dục trong tương lai.
Những mặt mạnh cần được tính:
Thứ nhất, Việt Nam một dân tôc truyền thống tôn sự trọng đạo.
Con người Việt Nam tự hào là những người ham học và học giỏi. Trong truyền
thống đó, không phân biệt sang - hèn, giầu - nghèo, người nào học giỏi, thi đỗ
đều được hôi thừa nhận, được mọi người kính trọng được Nhà nước
trọng dụng, bổ làm quan. Truyền thống đó được các thế hệ nối tiếp nhau gìn
giữ và phát huy cho đến hôm nay.
Thứ hai, Đảng Nhà nước ta thường xuyên quan tâm đến giáo dục,
đào tạo. Tiêu biểu về sự quan tâm này là Bác Hồ. Trong thư giử thiếu niên, nhi
đồng nhân dịp Tết Trung Thu; trong 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng;
trong thư gửi các nhà giáo nhân dịp ngày Nhà giáo Việt Nam trong nhiều
văn bản khác đã thể hiện sự quan tâm của Bác đền sự nghiệp "trồng người".
Bác đã từng nhắc nhở, đông viên thế hệ trẻ Việt Nam sayhọc tập đểthể
sánh vai với cường quốc năm châu. Trong những năm kháng chiến chống Pháp
Mỹ gian khổ, Đảng Nhà nước ta đã cử nhiều cán bô, sinh viên, học sinh
ra nước ngoài học tập; mở thêm các trường dạy ở trong nước; có chế đô ưu tiên
ngành phạm, sử dụng những người được đào tạo. Và, gần đây, Nghị quyết
Hội nghị BCH lần thứ 2, khoá VIII về giáo dục đào tạo; Luật Giáo dục
được Quốc hội thông qua 11/1998 lại càng thể hiên hơn sự quan tâm lớn
thiết thực của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề giáo dục, đào tạo.
Nhiều tổ chức quốc tế và bạn bè thế giới cũng đã nhận xét: Việt Nam có
một thành tích đầy ấn tượng về giáo dục, ngay cả khi so sánh với nhiều nền
kinh tế khác mức thu nhập cao hơn. ràng Chính phủ Việt Nam đã
thành công trong việc xây dựng thực thi chính sách giáo dục, đào tạo, đặc
biệt là trong việc trang bị những kiến thức giáo dục cơ bản cho đại bộ phận dân
chúng (93 % người lớn thoát chữ; Chính phủ cấp 55% tổng chi phí cho
giáo dục; nhân dân đóng góp 45%).
Bên cạnh thế mạnh, trong lĩnh vực này cũng có một số khó khăn, hạn
chế cần tính đến.
Một là, khó khăn lớn nhất hiện nay nước ta còn nghèo, nhiều hạn
chế về nguồn lực. Nguồn lực đây bao hàm cả svật chất, phương tiện
lực lượng giáo viên cùng với hệ thống chương trình, giáo trình. Mặc Chính
phủ đã nhiều cố gắng dành ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo năm
sau tăng hơn năm trước (1985 - 5%; 1995 - 10%; 2000 - 15%) nhưng vẫn