
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TÀI LIỆU
BỒI DƯỠNG THEO TIÊU CHUẨN CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP
GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ - HẠNG II
HÀ NỘI, 2017

2
MỤC LỤC
Chuyên đề 1: Lí luận về nhà nước và hành chính nhà nước
Chuyên đề 2: Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo
Chuyên đề 3: Quản lí giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ chế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Chuyên đề 4: Giáo viên với công tác tư vấn học sinh trong trường trung học
cơ sở
Chuyên đề 5: Tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng và phát triển kế hoạch
giáo dục ở trường trung học cơ sở
Chuyên đề 6: Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở hạng II
Chuyên đề 7: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường
trung học cơ sở
Chuyên đề 8: Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng
trường trung học cơ sở
Chuyên đề 9: Sinh hoạt tổ chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên trong
trường trung học cơ sở
Chuyên đề 10: Xây dựng mối quan hệ trong và ngoài nhà trường để nâng cao
chất lượng giáo dục và phát triển trường trung học cơ sở.

3
CHUYÊN ĐỀ 1: LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Tóm tắt nội dung chuyên đề: Chuyên đề Lý luận về nhà nước và hành chính
nhà nước cung cấp những kiến thức cơ bản về nhà nước, bộ máy tổ chức nhà nước; các
khái niệm, các nguyên tắc và chức năng về hành chính nhà nước. Giúp giáo viên trung
học cơ sở hiểu và đánh giá đúng những vấn đề cơ bản về nhà nước và hành chính nhà
nước; chính sách công và hoạch định chính sách; quản lý hành chính theo ngành; Hiểu
và đánh giá đúng các văn bản luật, văn bản dưới luật, các chính sách cụ thể của nhà
nước và các cơ quan chuyên trách liên quan đến giáo dục cấp trung học cơ sở.
1. Hành chính nhà nước
1.1. Quản lí nhà nước và hành chính nhà nước
- Quản lí là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí
nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng
đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan.
Quản lí là một yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội. Xã hội phát
triển càng cao thì vai trò quản lí càng lớn, phạm vi càng rộng và nội dung càng phong
phú, phức tạp.
- Quản tí nhà nước là sự tác động của các chủ thế mang quyền lực nhà nước tác
động đến các đối tượng quản lí bằng công cụ quyền lực của mình (các cơ quan quyền
lực nhà nước và hệ thống pháp luật) nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối
ngoại của nhà nước.
Từ khi có nhà nước, xã hội được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ các thiết
chế mang tính pháp lí mà cộng đồng xã hội thiết lập nên bằng trình độ, kinh nghiệm,
truyền thống và phương pháp khác nhau. Nhà nước thường mang tính pháp quyền, có
chức năng quản lí toàn bộ xã hội (thông qua hệ thống các cơ quan quyền lực của nhà
nước cùng với những công cụ quyền lực có tính cưỡng chế đối với toàn bộ xã hội). Bộ
máy nhà nước (các cơ quan quyền lực của nhà nước) tồn tại và hoạt động dựa trên
nguồn thuế đóng góp của công dân theo những quy định mà nhà nước đặt ra.
Trên thế giới hiện nay, bất cứ một nhà nước hiện đại nào cũng có ba cơ quan
quyền lực cơ bản: Quốc hội (quyền lập pháp); Chính phủ (quyền hành pháp); Toà án
(quyền tư pháp). Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực của bộ máy

4
nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp của ba cơ quan quyền lực
cơ bản:
Quốc hội (quyền lập pháp, lập hiến) là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân;
là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; quyết định những vấn đề quan
trọng nhất của quốc gia về đối nội và đối ngoại; quyết định việc lập Chính phủ, Toà án
nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân; giám sát các hoạt động của các tổ chức nhà
nước.
Chính phủ (quyền hành pháp) là cơ quan hành chính và hành pháp cao nhất.
Chính phủ có quyền lập quy (ban hành các văn bản dưới luật thường gọi là các văn bản
pháp quy) và quyền hành chính (là quyền tổ chức ra bộ máy quản lí công việc hàng
ngày của Nhà nước, quản lí mọi mặt của đời sống xã hội và công dân).
Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân (quyền tư pháp) là cơ quan có
quyền xét xử và công tố trước những hành vi sai phạm hoặc chống đối pháp luật.
Như vậy, thực chất quản lí nhà nước là hoạt động quản lí của ba cơ quan quyền
lực nhà nước nêu trên với chức năng và thẩm quyền riêng của từng cơ quan (đã được
Hiến pháp quy định), thống nhất với một mục tiêu chung, phối hợp hành động để thực
hiện hiệu quả nhất chức năng điều hành, quản lí trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
- Hành chính nhà nước: Thuật ngữ “hành chính” (Administration) theo nghĩa
rộng là sự thi hành chính sách và pháp luật của Chính phủ tức là hoạt động quản lí
hành chính nhà nước. Quản lí hành chính nhà nước là một hình thức quản lí, mà chủ
thể quản lí của Nhà nước - là cơ quan hành pháp, thực thi quyền hành pháp bằng
quyền lập quy và quyền hành chính. Theo nghĩa hẹp, hành chính là công tác hành
chính của cơ quan nào đó hoặc ở địa phương, ví dụ: “công tác quản lí hành chính” bao
gồm quản lí hộ khẩu, trật tự công cộng, an ninh vệ sinh đường phố... ở địa phương;
“giấy tờ hành chính” là những loại công văn, giấy tờ không thuộc loại văn bản pháp
luật; “vụ hành chính”, “phòng hành chính” là tên những cơ quan, bộ phận có chức
năng quản lí những công việc sự vụ, đảm bảo nền nếp, trật tự hoạt động chung của cơ
quan, địa phương nào đó...
Như vậy, hành chính tức là “hành pháp trong hành động”, cho nên hành chính
nhà nước với trách nhiệm quản lí nhà nước chỉ bao gồm hoạt động quản lí của bộ máy

5
hành pháp chứ không phải toàn bộ bộ máy nhà nước. Nói cách khác, hành chính công
dân, do các cơ quan hành chính từ Trung ương đến địa phương tiến hành, nhằm mục
đích thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, bảo vệ, duy trì trật tự, an
ninh, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, công dân, tổ chức.
Trên thế giới tồn tại nhiều hình thức tổ chức chính phủ. Song dù hình thức tổ
chức nào, thì các chính phủ đều phải thực hiện chức năng của cơ quan hành pháp thông
qua một hệ thống thế chế, tổ chức, bộ máy và đội ngũ công chức chuyên nghiệp... gọi
là nền hành chính nhà nước.
Nên hành chính nhà nước bao gồm:
+ Hệ thống thế chế quản lí xã hội theo pháp luật, bao gồm: Hiến pháp, pháp lệnh
và các văn bản, quyết định, nghị định, thông tư của Chính phủ, Bộ, Uỷ ban nhân dân
tỉnh, quy phạm pháp luật của các cơ quan hành pháp và quản lí nhà nước.
+ Cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở:
Quy định thẩm quyền của từng cấp, từng cơ quan, mối quan hệ dọc, ngang, Trung
ương và địa phương.
+ Đội ngũ cán bộ và công chức, viên chức nhà nước, bao gồm những người thực
thi công vụ trong bộ máy hành chính công quyền, những công chức được Nhà nước
tuyến dụng, bổ nhiệm làm một chức vụ thường xuyên trong biên chế Nhà nước và
hưởng lương từ ngân sách Nhà nước (không kể những người giữ những chức vụ chính
trị, do dân cử, làm việc theo nhiệm kì và những người làm việc tại các doanh nghiệp
nhà nước không thuộc bộ máy công quyền).
Ngoài ra, còn có một số yếu tố khác để đảm bảo nền hành chính công hoạt động:
công sở (nơi công chức làm việc) và nguồn ngân sách nhà nước phục vụ cho hoạt động
hành chính (tài chính công).
Tóm lại, hành chính nhà nước là việc tổ chức thực thi quyền hành pháp để quản
lí, điều hành các lĩnh vực đời sống xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật.
1.2. Các nguyên tắc hành chính nhà nước
Một số nguyên tắc của hành chính nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam:
- Một là, nguyên tắc dựa vào dân, do dân và vì dân:
Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của thể chế nhà nước xã hội chủ nghĩa:

