28 Chính sách phát triển KH,CN&ĐMST của Liên minh châu Âu…
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ
VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU
NHẰM ỨNG PHÓ VỚI THÁCH THỨC CỦA BỐI CẢNH MỚI
Hoa Hữu Cường
1
Viện Nghiên cứu châu Âu
Tóm tắt:
Trong bối cảnh thế giới nhiều thay đổi bởi tác động của các thách thức toàn cầu như: đại
dịch COVID-19, cạnh tranh địa chính trị giữa các cường quốc, xung đột Nga - Ukraina
đặc biệt sự bùng nổ của Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã ảnh hưởng rất
lớn đến phát triển của các quốc gia khu vực trên thế giới. Trong khi đó Liên minh châu
Âu (European Union - EU) lại đang thiếu động lực đổi mới và gặp nhiều thách thức về môi
trường hội. Bên cạnh đó, EU bị tụt hậu hơn so với các quốc gia khác, cụ thể: Thua
Hoa Kỳ trong ngành công nghiệp dựa trên tri thức và số lượng nhân lực công nghệ cao; Bị
các nước Nhật Bản, Hàn Quốc vượt mặt trên thị trường sản phẩm công nghệ cao cấp, bị áp
lực cạnh tranh rất lớn từ Trung Quốc Ấn Độ đã ng cường trong các ngành giá trị
gia tăng cao dựa trên nguồn nhân lực giá rẻ. Nhận thức được bối cảnh mới như vậy, EU đã
triển khai nhiều biện pháp để phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (science,
technology and innovation - STI). Kinh nghiệm của EU những gợi mở quý báu cho Việt
Nam trong việc triển khai các chính sách phát triển STI.
Từ khóa: Khoa học và công nghệ; Đổi mới sáng tạo; Chính sách.
Mã số: 24102101
THE EU’S SCIENCE, TECHNOLOGY AND INNOVATION
DEVELOPMENT POLICY TO RESPOND TO THE CHALLENGES
OF THE NEW CONTEXT
Summary:
In the context of the world changing due to global challenges such as the COVID pandemic,
geopolitical competition between major powers, the Russia-Ukraine conflict, and especially
the explosion of the Fourth Industrial Revolution has greatly affected the development of
countries and regions around the world. Meanwhile, the European Union (EU) is lacking the
motivation to innovate and facing many environmental and social challenges. In addition, the
EU is lagging behind other countries, specifically: Losing to the United States in knowledge-
based industries and the number of high-tech human resources; Being surpassed by Japan
and South Korea in the high-tech product market; Facing great competitive pressure from
China and India, which have increased in high-value-added industries based on cheap human
resources. Recognizing this new context, the EU has implemented many measures to develop
science, technology and innovation (STI). The EU's experience is a valuable suggestion for
Vietnam in its implementation of STI development policies.
Keywords: Science and Technology; Innovation; Policy.
1
Liên hệ tác giả: cuongeu25@gmail.com
JSTPM Tập 13, S3, 2024 29
1. Mở đầu
Trong bối cảnh hiện nay khi thế giới xuất hiện nhiều yếu tố ảnh hưởng đến
các mục tiêu phát triển quốc gia, xu hướng các nước, đặc biệt là tại khu vực
phát triển trên thế giới như EU nhằm đạt được các mục tiêu phát triển đề ra
cần phải dựa vào động lực STI, trong đó chính sách phát triển STI đóng
vai trò nền tảng. Những kinh nghiệm từ việc triển khai chính sách STI trong
bối cảnh hiện nay của EU sẽ những bài học kinh nghiệm quý cho Việt Nam
trong xây dựng và triển khai chính sách nhằm thúc đẩy STI để góp phần vào
quá trình phát triển quốc gia.
2. Nhận diện một số nhân tố của bối cảnh mới tác động đến phát triển
STI của EU
Hiện nay, EU đang phải đối mặt với những thách thức đến từ các yếu tố của
bối cảnh quốc tế cũng như các yếu tố nội tại của khu vực. Các yếu tố này đã
có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình phát triển của EU đặc biệt liên
quan đến lĩnh vực STI, cụ thể:
2.1. Bối cảnh quốc tế
- CMCN 4.0 đang tác động sâu rộng đến STI của EU. Các công nghệ
tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), dliệu lớn (Big Data), robot tự động,
Internet vạn vật (IoT) blockchain không chỉ thay đổi cách thức các quốc
gia trong EU sản xuất và tiêu dùng, mà còn định hình lại cách thức nghiên
cứu đổi mới sáng tạo, tạo ra hội mới và thách thức lớn cho các chính
sách công nghệ và đổi mới của EU;
- Xung đột Nga - Ukraina đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các chiến lược
phát triển STI của EU. Những tác động y bao gồm việc đẩy mạnh chi
tiêu cho quốc phòng an ninh mạng, điều chỉnh chuỗi cung ứng công
nghệ, thay đổi hướng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và tăng cường các
sáng kiến về công nghệ sạch bền vững. Mặc nhiều thách thức,
xung đột này cũng mở ra cơ hội cho EU tăng cường sự tự chủ và đổi mới
trong các lĩnh vực công nghệ quan trọng;
- Cạnh tranh địa chính trị giữa các cường quốc, đặc biệt giữa các quốc
gia lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga và các nền kinh tế mới nổi, có tác động
sâu sắc đến STI của EU. Điều này không chỉ tạo ra thách thức trong việc
duy tsự cạnh tranh toàn cầu trong các lĩnh vực công nghệ cao, còn
thúc đẩy EU điều chỉnh chính sách công nghệ và nghiên cứu của mình để
giảm sự phụ thuộc vào các quốc gia khác, bảo vệ quyền lợi trong các công
nghệ chiến lược. Mặc dù có nhiều thách thức, nhưng cạnh tranh này cũng
mở ra cơ hội để EU tăng cường đầu tư vào đổi mới;
- Đại dịch COVID-19 đã tạo ra một cú hích lớn cho sự đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi kỹ thuật số trong EU, đặc biệt là trong các lĩnh vực y tế, công
30 Chính sách phát triển KH,CN&ĐMST của Liên minh châu Âu…
nghệ số và sản xuất bền vững. Tuy nhiên, cũng tạo ra một loạt thách
thức, từ việc gián đoạn chuỗi cung ứng, tăng cường mối quan tâm van
ninh mạng, cho đến yêu cầu nâng cao kỹ năng số của lực lượng lao động.
EU đã sử dụng đại dịch như một hội để thúc đẩy đổi mới sáng tạo,
chuyển đổi số y dựng một nền kinh tế kthuật số, bền vững và an
toàn hơn;
- Biến đổi khí hậu tác động sâu rộng đến STI của EU, thúc đẩy sự đổi
mới trong nhiều lĩnh vực từ năng lượng tái tạo, công nghệ giảm thiểu phát
thải, đến nông nghiệp bền vững thành phố thông minh. Trong khi đó,
nó cũng đặt ra những thách thức lớn cho các ngành công nghiệp và chuỗi
cung ứng. Tuy nhiên, thông qua sự hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học
đầu vào công nghệ mới, EU đang nỗ lực sử dụng STI để ứng phó
với thách thức này và tạo ra một tương lai bền vững.
2.2. Bối cảnh khu vực
- EU đang tụt hậu về STI so với các đối thủ cạnh tranh lớn như Hoa K,
Trung Quốc, và các quốc gia châu Á khác đang trở thành một vấn đề đáng
lo ngại. Mặc dù EU vẫn giữ vị thế mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực như năng
lượng tái tạo, dược phẩm công nghệ môi trường, nhưng về tổng thể,
EU đang gặp khó khăn trong việc duy trì nâng cao vị thế STI khi phải
đối mặt với sự bứt phá mạnh mẽ của các nền kinh tế khác;
- Già hóa dân số mang đến cả thách thức và cơ hội cho chính sách STI của
EU. Mặc sự già a thể tạo ra nhiều vấn đề đối với lực lượng lao
động và chi tiêu cho R&D, cũng thúc đẩy sự phát triển của các công
nghệ dịch vụ phục vụ người cao tuổi, đồng thời yêu cầu các chính sách
đổi mới sáng tạo tập trung vào công nghệ hỗ trợ và tự động a. Để duy
trì sự cạnh tranh trong bối cảnh y, EU đã tăng cường đầu vào các lĩnh
vực chiến lược như công nghệ y tế, chăm sóc người cao tuổi, tự động a
và đào tạo lại lực lượng lao động;
- Thỏa thuận Xanh của EU không chỉ một chiến lược để bảo vệ môi
trường còn một động lực lớn thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của
STI. Bằng cách đầu vào các công nghệ sạch, năng lượng tái tạo, giao
thông xanh, sản xuất thông minh hình kinh doanh bền vững, EU
đang mở ra hội lớn cho sự đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế bền
vững. Các quốc gia và doanh nghiệp trong EU sẽ phải tận dụng hội y
để thúc đẩy việc phát triển ứng dụng công nghệ, đồng thời góp phần
vào mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính.
3. Chính sách phát triển khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo của
châu Âu
3.1. Mục tiêu và đối tượng của chính sách
JSTPM Tập 13, S3, 2024 31
3.1.1. Mục tiêu
Trong lịch sử phát triển của EU kể từ khi thành lập cho đến nay, các chính
sách phát triển STI của EU đã trải qua sự thay đổi lớn từ việc tập trung vào
hợp tác khoa học bản tới việc hướng đến phát triển kinh tế tri thức trong
bối cảnh hiện nay, mục tiêu của các chính sách phát triển STI của EU tạo ra
một nền kinh tế bền vững số hóa. Những thay đổi này phản ánh sự nhạy
bén của EU trong việc thích ứng với những thách thức toàn cầu, đồng thời
tận dụng STI để tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống bảo vệ môi trường.
3.1.2. Đối tượng của chính sách
Theo lịch sử phát triển chính sách STI của EU cho thấy có những thay đổi về
đối tượng hướng tới của chính sách, cụ thể: trước năm 2010, các chính sách
phát triển STI của EU tập trung chủ yếu vào các viện nghiên cứu các
trường đại học. Từ năm 2010 đến nay, các chính sách phát triển STI của EU
đã mở rộng ra một loạt đối tượng khác nhau, bao gồm các doanh nghiệp nhỏ
vừa (Small and Medium Enterprises - SMEs), trường đại học, viện nghiên
cứu, khu vực công, ngành công nghiệp, người tiêu dùng cộng đồng xã hội.
3.2. Các công cụ và biện pháp thúc đẩy phát triển STI của EU
3.2.1. Cải cách môi trường phù hợp cho phát triển STI
Để phát triển STI trong bối cảnh hiện nay, EU đã tiến hành cải cách môi
trường phù hợp cho phát triển STI, cụ thể như:
Triển khai các công cụ pháp lý mới
- Quy định chung về Bảo vệ dữ liệu (General Data Protection Regulation -
GDPR) hiệu lực từ tháng 5 năm 2018, đã tạo ra một khung pháp
thống nhất để bảo vệ quyền riêng tư và quản lý dữ liệu cá nhân của công
dân EU. GDPR yêu cầu các công ty phải thông báo ràng vviệc thu
thập sử dụng dliệu, đồng thời yêu cầu sđồng ý ràng từ người
dùng. Các biện pháp bảo mật nghiêm ngặt và yêu cầu báo cáo vi phạm dữ
liệu trong vòng 72 giờ sau khi phát hiện cũng là các yếu tố quan trọng của
GDPR. Các công ty không tuân thủ thể bị phạt lên đến 20 triệu EUR
hoặc 4% tổng doanh thu hằng năm toàn cầu. GDPR không chỉ bảo vệ công
dân EU mà còn thiết lập tiêu chuẩn toàn cầu về bảo vệ dữ liệu (European
Parliament, 2016).
- Luật về Trí tuệ nhân tạo (AI Act): Được đề xuất vào tháng 4 năm 2021
hoàn thành vào cuối năm 2023 đã đặt ra khung pháp lý đầu tiên trên thế
giới về trí tuệ nhân tạo (AI). Để đảm bảo tuân thủ, mỗi quốc gia thành
viên EU sẽ thiết lập quan giám sát AI, một Hội đồng AI châu Âu sẽ
điều phối giám sát việc thực thi, với các khoản phạt lên đến 20 triệu
Euro hoặc 4% doanh thu toàn cầu của công ty vi phạm (European
Parliament, 2024).
32 Chính sách phát triển KH,CN&ĐMST của Liên minh châu Âu…
- Đạo luật về Dữ liệu (Data Act): Được đề xuất vào tháng 2 năm 2022, một
phần quan trọng trong chiến ợc dữ liệu của EU, nhằm tạo ra một thị trường
dữ liệu thống nhất phát triển việc sử dụng dữ liệu hiệu quả trong toàn
khu vực. Đạo luật này cũng hỗ trợ khả năng ơng thích di chuyển dữ
liệu giữa các hệ thống và nhà cung cấp khác nhau, giúp người dùng có thể
chuyển đổi dịch vụ dễ dàng hơn đảm bảo dữ liệu thể được sử dụng
liên tục không gặp trở ngại kỹ thuật (Federico Casolari et al, 2023).
- Đạo luật về An ninh mạng (CR Act): Được đề xuất vào tháng 9 năm 2022,
là một bước tiến quan trọng nhằm đảm bảo an ninh cho các sản phẩm k
thuật số như phần mềm và phần cứng. CRA yêu cầu các nhà sản xuất tích
hợp các biện pháp an ninh mạng vào tất cả các giai đoạn của vòng đời sản
phẩm, từ thiết kế, phát triển đến bảo trì. Các nhà sản xuất phải báo cáo kịp
thời về các lỗ hổng bảo mật và sự cố an ninh mạng, giúp tăng cường tính
minh bạch và an toàn cho người dùng (Jennie Clarke, 2024).
- Các quy định về Dịch vụ số của EU, bao gồm: Đạo luật Dịch vụ số (DSA)
tập trung vào việc tạo ra một môi trường trực tuyến an toàn hơn bằng cách
áp đặt các quy định nghiêm ngặt về trách nhiệm và trách nhiệm giải trình
cho các nền tảng trực tuyến. DSA yêu cầu các nền tảng này phải thực hiện
các biện pháp để bảo vệ người dùng khỏi nội dung bất hợp pháp, thông tin
sai lệch các hành vi lạm dụng trực tuyến khác (EBU,2023). Đạo luật
Thị trường số (DMA) nhằm duy trì sự cạnh tranh công bằng và ngăn chặn
các hành vi độc quyền của các nền tảng kỹ thuật số lớn, thường được gọi
người gác cổng” (gatekeepers). DMA đặt ra các quy định nhằm ngăn
chặn các công ty lạm dụng vị trí thống trị của nh để loại bỏ hoặc làm
suy yếu các đối thủ cạnh tranh nhỏ hơn. Điều này bao gồm các biện pháp
như cấm thực hiện các thỏa thuận độc quyền, yêu cầu cung cấp quyền truy
cập công bằng vào các dịch vụ dữ liệu cho các đối thủ cạnh tranh
người dùng (Jones Day, 2022).
- Quy định về bảo mật mạng: Nhằm nâng cao mức độ bảo mật mạng và khả
năng ứng phó với các mối đe dọa mạng, đảm bảo an toàn cho các cơ sở hạ
tầng quan trọng dữ liệu nhân của công dân. Một trong những sáng
kiến chủ đạo trong chính sách này Chỉ thị về An ninh Mạng (NIS
Directive), được thông qua vào năm 2016 và cập nhật vào năm 2020. Chỉ
thị NIS u cầu các quốc gia thành viên thiết lập các quan bảo mật mạng
quốc gia, cải thiện năng lực an ninh mạng và phát triển sự hợp tác giữa các
quốc gia thành viên và các tổ chức quốc tế (European Parliament, 2022).
Xây dựng chế vấn khoa học: Ủy ban châu Âu (European Commission
- EC) thành lập Cơ chế vấn Khoa học (Scientific Advice Mechanism) vào
năm 2014. Khi bắt đầu xây dựng chế vấn khoa học, EC đã quyết định
thành lập Nhóm cố vấn khoa học cấp cao (High Level Group of Scientific
Advisers), chuyên cung cấp hỗ trợ vấn khoa học chuyên nghiệp cho việc
ra quyết định. Sau khi thành lập nhóm cvấn khoa học chính, EC đã thành