Chuyên đề văn học
"Thơ duyên" của Xuân Diệu & Hai đứa trẻ"
của Thạch Lam
Câu 1.
Phân tích bài "Thơ duyên" của Xuân Diệu:
* Câu 2.
Phân tích bức tranh đời sống của phố huyện nghèo lúc chiều tối đưc
Thạch Lam miêu ttrong truyện ngắn "Hai đứa trẻ" và phát biểu cảm
nhận của mình.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Bài làm (Câu 1)
Xuân Diệu đã viết về mùa xuân với tất cả sự say đắm, nồng nàn:
... "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần...
... Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi"...
Thi sĩ cũng đã đến với mùa thu trong bâng khuâng, man mác. Viết về
mùa thu, Xuân Diệu có một lối nói riêng đầy thi vị, tthơ mới mẻ, cảm
nhận tinh tế nhnhàng cái hồn thu của đất trời, quê hương xứ sở. "Thơ
duyên" một bài thơ thu độc đáo nhận diện cảnh thu, tình thu qua tâm
hồn thơ mộng của một chàng trai đa tình và tài hoa lãng mạn.
"Thơ duyên" - một thi đrất thơ. Cái "duyên" được thi nói đến là s
tương giao nhiệm mầu của vũ trụ, thiên nhiên con người, trước hết là
nhng chàng trai, cô gái "hồn xanh như ngọc bích".
Một buổi chiều thu tuyt đẹp - "chiều mộng" - êm ái, nhnng nru,
tạo vật như đang "hòa thơ trên nhánh duyên". Nhành cây mm mại đung
đưa duyên dáng theo làn gió thu nhẹ giữa sương khói tà dương. "Con gió
xinh thì thào trong lá biếc" ("Vội vàng"). Cmột trời thu "nơi nơi động
tiếng huyền". Tiếng nhạc, tiếng đàn du dương, dịu ngọt như ru hồn
người vào cõi mộng. Tiếng gió hoà điệu với tiếng chim u rít. Trên
ngọn me "cặp chim" vừa chuyền cành vừa hót, biết bao âu yếm và u
thương. Cây me cũng như cây sấu là hình ảnh thân thuộc của đường ph
cHà Nội. Ta như được sống lại phyêu thương của đất Tràng An
hơn nửa thế kỷ trước. Đã từng biết "khúc nhạc thơm"; "khúc nhạc
hường", giđây ta lại được thưởng thức "tiếng huyền" của buổi "chiều
mộng":
"Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên,
Cây me ríu rít cặp chim chuyền
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến - nơi nơi động tiếng huyền".
Cảnh thu có gió reo, chim hót. Còn có trời thu xanh trong, đẹp như ngọc;
tất cmàu xanh ấy của trời thu nổ" xuống, như tràn qua muôn lá.
Ccây ánh ngời lên sắc ngọc với trời thu. Sắc ngọc y ai có thquên?
Sau này, thi sĩ Hàn Mặc T cũng viết trong bài "Đây thôn Dạ":
"Vườn ai mướt quá xanh như ngọc"... Màu ngọc của cũng là sắc thu
làm nên cái hồn thu.
Khmột nói đến gió, cây và cặp chim chuyn - cảnh vật hòa hợp tương
giao, gắn bó; cái "duyên" y được cảm nhận qua tâm hồn một thi hào
hoa, đa tình. Kh hai nói về con đường và trái tim "rung động nỗi
thương yêu". "Nhnhỏ"... "xiêu xiêu"... "llả" - bấy nhiêu nét v tinh tế
hiện lên trên một gam màu ng nhạt của ngày thu tàn "nắng trở chiều".
Hồn thu của bức tranh quê gi một nỗi buồn đẹp. "Buổi ấy", trái tim "ta"
xao xuyến, "rung động" một tình thu. Thi sĩ đi giữa đất trời, lắng nghe
tiếng đập nh của con tim, tâm hồn rộng mở giao hòa với vạn vật, với
con người, một thiếu nữ đang nhẹ bước trên đường:
"Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu,
Lả lả cành hoang nắng trở chiều.
Buổi ấy lòng ta nghe ý bn
Lần đầu rung động nỗi thương yêu".
"Em" "anh" cùng do bước trên đường. "Em" bước đi "điềm nhiên",
trông t nhiên, hồn nhiên, duyên dáng. Anh cũng đang say sưa ngắm
cảnh đất trời, bước chân "lững đững" - thong thả, ung dung. Cuộc ngẫu
gặp của đôi lứa thanh tân, tưởng "vô tâm" hình như đã cái
"duyên" trời sắp sẵn. Chẳng hò hẹn gì mà nhiều bâng khuâng!
"Em bước điềm nhiên không vướng chân
Anh đi lững đững chẳng theo gần".
Cặp u song hành bình đối nhiều ý vị. "Anh với em" đp như một cặp
vần trong "bài thơ dịu". Cặp vần ấy ngân lên "rung động nỗi thương
yêu". Một so sánh độc đáo nói lên cái "duyên" lứa đôi:
"Vô tâm - nhưng giữa bài thơ dịu,
Anh với em như một cặp vần".
Cảnh vốn đẹp, giờ thêm người đẹp, sự giao hòa, giao cm càng muôn
phần tăng lên. Sắc thu trong sáng, tình thu thanh khiết màng. Bức
tranh thu được dệt thêu bằng cái duyên của sự sống và một tình yêu rạo
rực, xôn xao. Đúng như nvăn Hoài Thanh đã nhận xét: "Xuân Diệu
say đắm cảnh trời... khi vui, khi buồn đều nồng nàn, da diết...".
Khbốn nói về cảnh thu trên một không gian rộng và lạnh. Một áng
mây chiều và một cánh cò thân thuộc của đồng quê. Không phải là mây
xám. Cũng không phải "Mây trắng nghìn năm bay chơi vơi" ("Lầu
Hoàng Hc" - Thôi Hiu). Mà mây biếc, y tuyệt đp. Hai ch"v
đâu" đầy gợi cảm. Hỏi mây hay hỏi nàng thiếu nữ? Cảnh vừa thực vừa
mộng, nhiều man mác, bâng khuâng. Câu t"Con trên rung cánh
phân vân" mt sáng tạo rất độc đáo của Xuân Diệu. Hình tượng thơ là
skết hợp nhuần nhuyễn giữa phong vị Đường thi thơ mới. "Tcon
của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu
không bay mà cánh phân vân, có s cách biệt của hơn một ngàn năm
của hai thế giới" (Hoài Thanh). Hình ảnh "cánh phân vân" đặc tng
đang lững lờ đôi cánh, không biết nên bay cao hay bay thấp, bay gần
hay bay xa, bay lên hay đậu xuống...
Chiều thu tàn, bầu trời như trải rộng thêm ra. Cảm nhận ấy được diễn tả
qua hai câu thơ tuyệt bút:
"Chim nghe trời rộng dang thêm cánh,
Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dn".
Lấy cái hữu hạn, cô đơn, bé nhỏ (cánh chim) để diễn tả cái hạn, mênh
mông (bầu trời) là một nét vẽ tài hoa. "Chim nghe..." - schuyển hóa
cảm giác đầy thi vị. Cánh chim nhỏ nhoi, bay miết, in dáng trên nền trời
chiều bao la. Hoàng hôn buông xuống, sương thu chớm lạnh. Hoa khép
cánh dần...
Thời gian nhẹ nhàng trôi "bước thu êm". Tâm hồn thi nhân dào dạt tình
thương mến. Chan hòa cùng đất trời, tạo vật. Mi tâm hồn sẽ tự tìm đến
với nhau và "thắm lại" (Xuân Hương). Cần chi băng nhân? Nhà thơ khe
khẽ reo lên: "Lòng anh thôi đã cưới lòng em". Phải chăng ý câu thơ này:
"Anh đã phải lòng em" như có người đã hiu?
"Thơ duyên" đã tn tại hơn na thế kỉ mà vẫn "duyên" vẫn đẹp. Bởi lẽ
cảnh thu tuyệt đẹp, thơ mộng. Tình thu trong sáng, bâng khuâng. T
chùm tthu của Nguyn Khuyến đến "Tduyên", hơn bao giờ hết ta