TRƯỜNG ĐẠI HỌC
--------------------------------------------
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
TIỂU LUẬN:
“CƠ CHẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG Ở VIỆT
NAM THỜI KỲ TRƢỚC ĐỔI MỚI”
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
Huế, ngày 10 tháng 04 năm 2012
A. Mở đầu:
Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chiến thắng, miền Bắc hoàn toàn
giải phóng, bắt đầu công cuộc xây dựng CNXH và con đường cách mạng CNXH cơ
bản được hình thành. m 1960, sau cải cách CNXH, nước ta áp dụng hình kế
hoạch hóa tập trung cho chế quản kinh tế theo quan niệm c bấy giờ. Năm
1975, miền Nam hoàn toàn tự do, thống nhất Tổ quốc, chế kế hoạch hóa một lần
nữa được sử dụng, đẩy mạnh trên phạm vi toàn quốc. Đến tận năm 1986 thì dần dần
bộc lộ nhiều khuyết điểm to lớn không thể sửa chữa, Đảng mới thay đổi chính sách,
thực hiện Đổi mới - đưa nước ta tiến tới xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
Như vậy, cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã tồn tại nước ta trong một thời
gian dài từ năm 1960 cho đến tận năm 1986. Tại sao một hình với nhiều khiếm
khuyết lại thể tồn tại lâu đến như vậy? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu để thể trả
lời một cách rõ ràng hơn.
B. Nội dung:
I. Cơ chế là gì?
chế hệ thống cùng những quy tắc, phương thức nhằm vận hành hệ
thống đó.
chế kinh tế bản thân nền kinh tế cùng với các hình thức hoạt động của
nền kinh tế đó dưới tác động của các quy luật kinh tế và quy luật khác.
Cơ chế quản kinh tế các quy tắc điều chỉnh các hành vi, hoạt động kinh
tế của các nhân tổ chức kinh tế; hệ thống các biện pháp, hình thức, cách
thức tổ chức, điều khiển nhằm duy trì các mối quan hệ kinh tế phát triển phù hợp
với những quy luật kinh tế khách quan theo mục tiêu đã xác định trong những điều
kiện kinh tế xã hội của từng giai đoạn phát triển.
Hay nói ngắn gọn, đó toàn bộ hệ thống pháp quy, gồm những hình thức, cách
thức và phương tiện mà nhà nước sử dụng để quản lí và điều hành nền kinh tế.
II.Cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở Việt Nam trước Đổi mới:
1. Khái niệm:
Sau chiến thắng ở miền Bắc, dựa vào xu thế khách quan yêu cầu cấp bách
xây dựng sở vật chất- kỹ thuật phục vụ cho giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ
quốc, Đảng quyết định đưa miền Bắc tiến lên theo định hướng XHCN.
Nnước mới XHCN được y dựng theo quan niệm lúc bấy giờ: chế
quản lí kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
chế kế hoạch hóa tập trung (bàn tay hữu hình hay cơ chế mệnh lệnh):
cơ chế trong đó nền kinh tế vận động dưới sự kiểm soát của Nhà nước về các yếu t
sản xuất cũng như phân phối về thu nhập. Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt
động của nền kinh tế, không coi trọng các quy luật thị trường.
* Đặc trưng ở 2 tiêu chí:
- Chế độ sở hữu:
Chế độ sở hữu toàn dân tập thể về liệu sản xuất đóng vai trò chính của
hình phát triển: chỉ thừa nhận sở hữu toàn dân, điều tiết theo chế kế hoạch
hóa, tập trung tất cả mọi vai trò vào tay Nhà nước.
Chỉ một nền kinh tế quốc doanh hoàn toàn, kinh tế Nnước kinh tế
tập thể giữ vai trò chủ đạo, các thành phần kinh tế khác hầu như không được chú
trọng.
Các đơn vị kinh tế chủ yếu: công ty nhà nước, xí nghiệp và hợp tác xã.
- Chế độ phân phối:
Phân phối trên nền tảng kế hoạch do Nhà nước y dựng, triển khai, điều
phối chứ không phân phối theo các quy luật kinh tế thị trường bản như quy luật
giá trị, quy luật cung- cầu…
- Nhà nước tính toán “số liệu kiểm tra” rồi phân bổ chỉ tiêu cho các bộ,
ngành, tỉnh. Sau đó, số liệu được chuyển xuống các cấp thấp hơn các
cục, vụ, xí nghiệp,…
- Mỗi cơ sở phải tự xây dựng kế hoạch của mình và trình lên cấp trên bằng
cách cân đối giữa “số liệu kiểm tra” được đưa xuống với “số liệu điều
tra” tại cơ sở.
- Kế hoạch cuối ng được đưa ra sau khi cấp trên xem xét “số liệu điều
tra” kế hoạch của cấp dưới. Kế hoạch y trở thành chỉ tiêu pháp lệnh
và giao lại xuống dưới.
Quan niệm về CNXH con đường đi lên CNXH y của nước ta chịu
ảnh hưởng của hình Viết. Điều này không khó hiểu khi Liên
cái nôi cách mạng XHCN của thế giới, anh cả trong phong trào đi lên CNXH.
Trong giai đoạn y, duy luận về hình CNXH Liên Xô được áp dụng
rộng rãi trong khối CNXH trên toàn thế giới. Mặt khác, do yêu cầu khách quan của
cuộc cách mạng giải phóng miền Nam, Đất nước ta lúc y “tất cả đều tập trung
cho tiền tuyến, miền Nam, sự nghiệp đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”
nên mọi hoạt động đều hướng về mục tiêu phục vụ cỗ y quân skhổng lồ. Do
đó, Nhà nước phải đứng ra điều tiết, tập trung nguồn lực cho mục tiêu y, nếu
không thì sức mạnh của cỗ máy ấy sẽ không được như mong muốn.
2. Đặc trưng và hình thức biểu hiện:
* Đặc trưng:
chế kế hoạch hóa tập trung đặc trưng bản mọi hoạt động kinh tế
hội đều theo một kế hoạch thống nhất từ trung tâm, nhấn mạnh quan điểm hiện
vật, không coi trọng các quy luật kinh tế, xem nhẹ hạch toán kinh doanh.
- Phương pháp, công cụ quản lý: sử dụng công cụ mệnh lệnh hành chính
mang tính áp đặt từ trên xuống trong việc giao nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
thông qua hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh.
- Chức năng quản lý: Nhà nước can thiệp quá sâu vào các lĩnh vực hoạt
động của nền kinh tế.
- Nguyên tắc quản lý: thực hiện nguyên tắc tập trung cao độ. Nhà nước tập
trung trong tay 3 loại quyền là:
Quyền quản nhà nước về hành chính kinh tế: không chịu trách nhiệm về
vật chất và pháp lý đối với các quyết định của mình.
Quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với c doanh nghiệp: doanh nghiệp
không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh.
Quyền điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp:
doanh nghiệp không có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh.
Điều y dẫn đến tệ nạn quan liêu, cửa quyền của nhà nước tính thụ động,
lại, nạn hối lộ, móc ngoặc của các đơn vị kinh tế.
- Hình thức quản lý: quan hệ hàng hóa- tiền tệ bị coi nhẹ, chủ yếu nền
kinh tế hiện vật thông qua chế độ “cấp phát- giao nộp” bằng hiện vật các nguyên
liệu đầu vào và các sản phẩm đầu ra.
- Bộ máy quản lý: cồng kềnh, nhiều cấp trung gian, m năng động với đội
ngũ quản m năng lực, phong ch cửa quyền, quan liêu nhưng được hưởng
quyền lợi cao hơn người lao động.
* Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu:
Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng
hóa thấp hơn giá trị trên thị trường do đó hạch toán kinh tế chỉ là hình thức.
Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế đphân phối vật
phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu,
thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao
động.
Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách nhưng không có chế i
ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị cấp vốn; m tăng gánh nặng
ngân sách, sử dụng vốn kém hiệu quả.
Những đặc trưng nh thức thực hiện chế kế hoạch hóa trên làm nảy
sinh cơ chế “xin- cho” về hành chính. Làm xuất hiện những mặt tiêu cực như:
- Quan hệ bất bình đẳng giữa nhà nước và công dân: quan hệ cai trị.
- Nhiều thủ tục hành chính rườm rà, hành dân để thể hiện quyền lực nhà nước.
- duy trong quản lý: ban phát, không phải dịch vụ hành chính cho
hội.
- Tính y tiện, không kiểm soát chặt chẽ được từ phía nhà nước nhân dân
đối với người “cho” sự “chạy chọt” của người “xin” để xin được được
nhiều.
- Mối quan hệ cứng nhắc trong hệ thống hành chính nhà nước: không phát huy
được tinh thần chủ động sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong phạm vi
quyền hạn của mình mà phải trông chờ vào cơ quan “cho”.
chế quản kinh tế của Việt nam trước Đổi mới còn được gọi “cơ chế
kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp”- tập trung trong chỉ đạo, quan liêu
trong quản lý, bao cấp trong sản xuất tiêu thụ. Một khái niệm ràng đầy đủ,
phản ánh trọn vẹn cơ chế quản lí kinh tế của cả một thời kì của nước ta.
Chúng ta đã thực hiện quản theo chế tập trung đến mức quan liêu. Tuy
nhiên, chúng ta cần hiểu rằng: quan liêu hậu quả chứ không phải nguyên nhân
gây nên sự trì trệ, suy kém của nền kinh tế. hậu quả của s lãnh đạo rập
khuôn, y móc thậm chí quáng của chế kế hoạch hóa, chính sách sai
lệch dẫn đến bộ máy thừa hành không thể làm đúng được
Bởi lẽ, quan liêu thuộc tính cố hữu của một nền nh chính, điều kiện
cần để có nền hành chính mạnh. đòi hỏi bộ y thừa hành phải nhất mực trung
thành tuân thủ yêu cầu của lãnh đạo cấp trên trong mọi quyết định hành chính,
chính sách, hiểu đúng và đủ về chính sách ấy.
Chính sách đúng-sai, tốt-xấu chủ yếu do các nhà lãnh đạo, chính trị đưa ra.
Họ được bầu bởi người dân nên nếu chính sách của họ không tốt, hsẽ bị thay thế.