Đặc đim của một số giống trâu trên thế giới và Việt Nam
Trâu là gia súc lớn nhai lại hay gia súc lớn sừng, lớp đng vật
(Malmalia), bguốc chẵn (Artiodactyla), bộ phụ nhai lại (Ruminantia),
hsừng rỗng (Bovidae), tộc bò (Bovini), loài trâu (Bubalus bubalis), giống
trâu đầm lầy (Swamp buffalo).
1. NGUỒN GỐC VÀ THUẦN HÓA
Trâu là gia súc ln nhai lại hay gia súc lớn sừng, lớp đng vật
(Malmalia), bguốc chn (Artiodactyla), bphụ nhai lại (Ruminantia),
hsừng rng (Bovidae), tộc bò (Bovini), loài trâu (Bubalus bubalis), giống
trâu đầm lầy (Swamp buffalo).
Trâu sng hoang dã và. Con cháu của loài này cũng xuất hiện ở phía
bắc. Trâu hoang dã hiện nay còn rất ít, hầu hết trong số chúng đã blai tạp.
Thậm cngười ta còn srằng hiện nay không còn loài tu hoang trong
tnhiên.
Không i liệu nào ghi chép lại chính c sự thuần hóa của trâu bắt
đầu từ khi nào, nhưng nhiều tác giả cho rằng trâu đã được thuần hóa cách
đây rất lâu, khoảng 5000-7000 m trước. Theo các nhà nghiên cu thì trâu
được thuần hoá sau bò.
châu Á, trâu được thuần dưỡng vùng sông Ấn vùng Lưỡng Hà
(Irắc) từ giữa thiên niên k thứ ba trước công nguyên (khoảng 30 thế k
trước ng nguyên). Trâu nhà được nuôi Trung Quốc t2000 năm trước
công nguyên lđược đưa tphương Nam tới. Tu đã mặt thung
lũng Jordan lần đầu tiên vào m 723 sau công nguyên. Chắc chắn là chúng
được người Arập đưa từ vùng Lưỡng hà vào đây và có thể vào cAi Cập
Người ta vẫn cho rằng, người Mông Ckhi m lược châu Âu
đã đưa trâu vào đây. Nhưng đúng n có lẽ chúng đã được những người
tham gia thập tchinh đem về. Vào cuối thế k13, một số lớn trâu đã được
nuôi ở khu vực sông Đanuýp và vùng đầm lầy Pontin ở Italia.
Trâu được thuần dưỡng là một vật nuôi rất quan trọng trong đời sng
người n một số vùng Cu Á. Chúng cho sức o, thịt sữa. Ấn Độ là
nước nuôi nhiều trâu nhất trên thế giới. Ở nước này người ta sử dụng sữa của
trâu thay cho sữa bò.
Ở Việt Nam, những tài liệu khảo cổ đã chỉ rằng: người Việt cổ đã sm
thuần hóa trâu, bắt đầu thậu thời k đồ đá mi cách đây khong 4-4,5 ngàn
năm để giúp nghề trng lúa nước.
2. MỘT SỐ GIỐNG TRÂU TRÊN TH GIỚI
Trâu hay n gọi là trâu nước gồm hai loại: tu sông (River buffalo)
trâu đầm ly (Swamp buffalo). Chúng chung nguồn gốc ttrâu rừng
nhưng khác nhau về số lượng nhiễm sắc thể. Do qtrình chọn lọc và s
dụng mà ngoi hình khng sản xuất ca hai loại hình trâu nhng
đặc điểm khác nhau. Trâu tng màu xám, xám tro, đen hoặc đôi khi có
màu trng, thể nặng nề và tm vóc chắc nịch, thân ngắn, bụng to và
thường được miêu tlà “bụng chum”.
Trâu đầm lầy (Swamp buffalo) tập trung vùng Đông Nam Á,
nhiều nhất Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Malaysia, Indonesia,
Philipine, Trung Quốc. Trâu đầm lầy ít được chọn lọc cải tiến, gần vi trâu
rừng hơn: sừng thon, cong hình n nguyệt, trán phẳng, hẹp, mắt lồi, mắt
ngắn, mồm rộng, thân ngắn, chân thấp, vai vạm vỡ, ngực rộng, bụng to,
mông thp, đuôi ngắn, móng xòe, tch hợp cho việc cày kéo. Trâu
thường màu xám đen hoặc sẫm n, đặc biệt chúng 2 bt ng màu
nhạt: một dưới hàm, một dưới ngực. Trâu đầm lầy có thời gian chửa dài
hơn trâu sông. Trâu được sử dụng chủ yếu để cày kéo, do ít được chọn lọc
cải tạo đến nay không phân thành nhiều giống như trâu sữa. Tuy nhiên,
do trâu được nuôi ở những vùng khác nhau nên có nhng tên gi đa phương
khác nhau như: trâu Ngố, trâu GViệt Nam; trâu Carabo Phipipin; trâu
Krbau ở Malaysia…
Trâu sông (River buffalo Carabao) được chọn lọc cải tạo qua thời gian
dài theo hướng sản xuất sữa, mặt dài thân dài thon hơn trâu đầm lầy,
sừng ngắn, cong về phía dưới, ra sau rồi cong xoắn lên pa trên, khung
xương sâu, rộng, cn cao và mập, đuôi dài, bu vú phát trin, các núm vú to
được sắp xếp cân đối thích hợp cho việc khai thác sữa. Trâu ng có da lông
đen ng hơn trâu đầm lầy. Trâu sông tp trung y Á, sử dụng ch
yếu để khai thác sữa, do được chọn lọc và cải tạo nhiều nên hình thành nhiu
giống riêng bit với c loại hình khác nhau, nhìn chun kh ng sản
xuất thịt sữa cao. Đến nay, Ấn ĐPakistan người ta ước tính có tới 18
giống trâu sông khác nhau và được xếp vào 5 nhóm giống chính là:
- Nhóm trâu Murrah: có các giống Murrah, Nili-Ravi và Kundi.
- Nhóm trâu Gujarak có các giống Surti, Mehsana và Jafarabadi.
- Nhóm trâu Uttar Pradesh có các ging Bhadawari và Tarai.
- Nhóm trâu vùng Trung Ấn các giống là Nagpuri, Pandharpuri,
Manda, Jerangi, Kalahandi và Sambalpur.
- Nhóm trâu vùng Nam Ấn có các giống Toda và Nam Kanara.
Hai nhóm trâu cu Phi cu Á tuy ging nhau về mặt ngoi hình
nhưng s khác nhau về mặt giải phẫu học, thể hiện sự cách biệt giữa
chúng trong phm vi nhóm. Chúng giống nhau vđường nét, tầm vóc đều
to, chắc và lớp ng dầy. Nhóm trâu cu Á mắt n, hộp srộng và
ngắn hơn. Sự khác nhau rõ nhất là : tu châu Á có xương mía xương
m dính lại với nhau, và các l mũi hoàn toàn cách bit bởi xương vòm,
còn trâu châu Phi, xương lá mía xương vòm cách biệt nhau và các l
mũi kng bị phân chia bởi xương vòm.
Theo Bohlken (1958), thchia trâu hoang cu Phi thành 3
loi:
- Syncerus caffer caffer, còn gọi trâu đen hay trâu vùng Mũi Hảo
vọng, thường tập trung ở vùng đông và nam châu Phi.
- Syncerus caffer namus, n gọi là trâu đỏ hay trâu Công gô, loại trâu
này tập trung ở vùng xích đạo, có khối lượng thấp hơn loại trâu trên.