Đại cương bỏng
(Kỳ 3)
V. TÍNH DIỆN TÍCH BỎNG:
- Diện tích da thể người lớn (từ 16 tuổi trở lên) trung bình 16000
cm2.
- Đặng Ngọc Tốt (1969) đo diện tích da thấy trung bình người lớn Việt
Nam là 15000 cm2.
Có 3 phương pháp chính tính diện tích bỏng ở người lớn:
+ Pulaski - Tennison Wallas (1951) dùng phương pháp con số 9 dể
tính diện tích bỏng
Vị trí Diện
tích %
Vị trí Di
ện tích
%
Đầu - mặt - c 9 Chi trên 9
mặt trước
Thân
mặt sau
9 x 2
-
9 x 2
Chi dưới
-
Sinh dục
9 x 2
-
1
+ Blôkhin dùng phương pháp n tay để đo diện tích mỗi bàn tay của
người đó tương ứng 1% - 1,25% diện tích cơ thể.
+ Lê Thế Trung (1965) tính diện tích thể bằng những con số gọn : 1; 3;
6; 9; 18.
Vị trí Di
ện tích
%
Vị trí Di
ện tích
%
- C
(trước)
- C(gáy)
-
Gan
tay
- Mu tay
1 -
Mông (hai
bên)
- Cẳng chân (
bên)
6
- Sinh d
ục
ngoài
- Đùi (1 bên)
- Chi trên )1 bên)
9
- Da đ
ầu (phần
có tóc)
- Da mặt
-
Cánh tay )1
bên)
- C
ẳng tay (1
bên)
-
bàn chân (1
bên)
3 - Mặt trư
ớc
thân
- Mặt sau thân
- Chi
ới (1
bên)
18
Ở trẻ em cách tính diện tích có khác người lớn, đối với diện tích da đầu, cổ,
đùi, cẳng chân. Trẻ sinh thì diện tích da đầu + cổ là 20% diện tích cơ thể.
Khi ln lên tỷ lệ này có thay đổi vì thế phải có một bảng tính riêng.
- Bảng tính diện tích bỏng trẻ em: ( Lê Thế Trung - 1965).
Di
ện
tích %
Tuổi
Đâù + cổ Hai đùi Hai c
ẳng
chân
1 tuổi
5 tuổi
10 tuổi
15 tuổi
17
(-4) = 13
(-3) = 10
(-2) =8
(-4) = 13
(+3) = 16
(+2) = 18
(+1) = 19
(-3) = 10
(+1) = 11
(+1) = 12
(+1) = 13
VI. CÁCH TIÊN LƯỢNG NGƯỜI BỊ BỎNG.
Tiên lượng bệnh nhân bỏng về hai mặt:
- Toàn thân
- Chức năng vận động và thm mỹ.
Dựa vào những căn cứ sau đây để tiên lượng bỏng.
1. Căn cứ vào diện tích bỏng chung và diện tích bỏng sâu: Nếu chỉ
bỏng nông dù diện tích rộng tới 90% vẫn khả năng cứu sống được. Nhưng nếu
bỏng sâu từ 40% diện tích thể trở lên vẫn có một tỷ lệ tvong khá cao mặc dù
được điều trị tích cực tại các trung tâm chữa bỏng, cho đến nay việc chữa khỏi cho
các bệnh nhân diện tích bỏng sâu trên 70% diện tích cơ thể là một vấn đề rất
khó khăn. Trên thế giới số trường hợp kể trên được cứu sống còn ít.
2. Căn cứ vào tuổi và sức khoẻ bệnh nhân khi bị bỏng: Trem và
người già tiên lượng nặng hơn so với người lớn nếu cùng diện tích và mức độ
tổn thương bỏng như nhau.
Người đang mắc bệnh sốt rét , lao phổi...Tiên lượng xấu hơn người
bình thường. Phụ nữ chửa bị bỏng thường có diễn biến nặng.
3. Căn cứ vào v trí bỏng, tác nhân gây bỏng và hoàn cảnh bị
bỏng:
a. Vtrí: Bỏng vùng mặt, cổ, thể gặp bỏng đường hấp trên,
bỏng giác mạc, mi mắt, sụn tai. Bỏng vùng mặt cổ ảnh hưởng đến thẩm mỹ và các
chức năng: nhìn, nhai, nghe, thở....
Bỏng bàn tay và các vùng khác của chi thể thường di chứng làm
hạn chế chức phận chi thể: co kéo, dính, tư thế sai lệch.