
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
486
ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH BẠCH CẦU
LYMPHO T LỚN CÓ HẠT TẠI BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC
Phan Xuân Việt1, Hồ Mỹ Châu1,
Trịnh Thị Thúy An1, Huỳnh Thiện Ngôn1
TÓM TẮT59
Vấn đề nghiên cứu: Bệnh bạch cầu lympho
T lớn có hạt (T-LGLL) là một rối loạn tăng sinh
tế bào lympho T hiếm gặp, với đặc trưng là sự
gia tăng đơn dòng của tế bào lympho có hạt.
Chẩn đoán sớm gặp khó khăn do bệnh hiếm và
triệu chứng không đặc hiệu. Việc đánh giá hiệu
quả của các phác đồ điều trị ức chế miễn dịch là
cần thiết để tối ưu hóa chiến lược can thiệp và cải
thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Mục
tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này có ba mục tiêu
chính: (1) Mô tả đặc điểm lâm sàng và sinh học
của bệnh T-LGLL; (2) Xác định tỉ lệ đáp ứng
huyết học với liệu pháp ức chế miễn dịch; (3)
Xác định tần suất các biến cố bất lợi khi điều trị.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu
mô tả loạt ca thu thập dữ liệu từ các bệnh nhân
T-LGLL được chẩn đoán tại Bệnh viện Truyền
Máu Huyết Học từ tháng 1/2019 đến tháng
12/2023. Bệnh nhân được điều trị bằng đơn trị
liệu (Methotrexate hoặc Cyclosporin A) hoặc các
liệu pháp kết hợp. Đáp ứng điều trị được đánh
giá theo tiêu chuẩn của NCCN (National
Comprehensive Cancer Network) 2024, phân loại
thành đáp ứng hoàn toàn (CR) và đáp ứng một
phần (PR). Kết quả: Trên tổng số 11 ca bệnh T-
1Bệnh viện Truyền máu Huyết học
Chịu trách nhiệm chính: Phan Xuân Việt
SĐT: 0906810163
Email: vietpx@bth.org.vn
Ngày nhận bài: 30/04/2025
Ngày phản biện khoa học: 15/06/2025
Ngày duyệt bài: 30/07/2025
LGLL, nữ giới chiếm gần 64%, tuổi trung vị từ
46-57. Triệu chứng lâm sàng phổ biến là mệt mỏi
(36%) và sốt (27%). Các thông số huyết học ban
đầu có sự biến thiên lớn, đặc biệt là giảm bạch
cầu trung tính nặng. Về hiệu quả điều trị, chỉ
18% ca đạt đáp ứng hoàn toàn và 18% ca đạt đáp
ứng một phần. Phác đồ kết hợp Methotrexate với
Cyclosporin A có tỉ lệ đáp ứng (CR + PR) cao
hơn (xấp xỉ 50%) so với đơn trị liệu. Các biến cố
bất lợi như giảm bạch cầu hạt, tổn thương thận
cấp, nôn ói và tăng bilirubin máu đã được ghi
nhận. Kết luận: Bệnh T-LGLL, dù có tiên lượng
tương đối tốt, vẫn gây ra những thách thức trong
điều trị. Liệu pháp kết hợp Methotrexate với
Cyclosporin A cho thấy tiềm năng cải thiện kết
quả điều trị. Những kết quả này nhấn mạnh tầm
quan trọng của việc chẩn đoán sớm, theo dõi sát
sao và cá nhân hóa phác đồ điều trị, đồng thời
mở ra hướng nghiên cứu sâu rộng hơn để xác lập
tiêu chuẩn điều trị cho T-LGLL trong tương lai.
Từ khoá: Bệnh bạch cầu lympho T lớn, ức
chế miễn dịch, đáp ứng điều trị…
SUMMARY
PRELIMINARY EVALUATION OF
TREATMENT EFFICACY FOR T-CELL
LARGE GRANULAR LYMPHOCYTE
LEUKEMIA AT THE HOSPITAL OF
HEMATOLOGY AND BLOOD
TRANSFUSION
Introduction: T-cell large granular
lymphocyte leukemia (T-LGLL) is a rare T-cell
lymphoproliferative disorder characterized by a
monoclonal expansion of granular lymphocytes.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
487
Early diagnosis is challenging due to its rarity
and non-specific symptoms such as fatigue,
fever, anemia, and severe neutropenia. Therefore,
evaluating the efficacy of immunosuppressive
regimens is crucial to optimize intervention
strategies and improve patients' quality of life.
Research Objectives: This study had three
primary objectives: to describe the clinical and
biological characteristics of T-LGLL, to
determine the hematologic response rate to
immunosuppressive therapy, and to ascertain the
frequency of adverse events during treatment.
Methodology: This retrospective study collected
data from T-LGLL patients diagnosed at the Ho
Chi Minh City Blood Transfusion and
Hematology Hospital from January 2019 to
December 2023. Patients received either
monotherapy (Methotrexate or Cyclosporin A) or
combination therapies. Treatment response was
evaluated according to the NCCN 2024 criteria,
categorized into complete response (CR) and
partial response (PR). Results: Among 11 T-
LGLL cases, females accounted for nearly 64%,
with a median age ranging from 46-57 years.
Common clinical symptoms included fatigue
(36%) and fever (27%). Initial hematological
parameters showed significant variability,
particularly severe neutropenia. Regarding
treatment efficacy, only 18% of cases achieved
complete response and 18% achieved partial
response. The combination regimen of
Methotrexate and Cyclosporin A showed a
higher response rate (CR + PR, approximately
50%) compared to monotherapy. Adverse events
such as granulocytopenia, acute kidney injury,
nausea, and elevated bilirubin were recorded.
Conclusion: Despite its relatively good
prognosis, T-LGLL presents significant
treatment challenges. The combination therapy of
Methotrexate with Cyclosporin A shows
potential for improving treatment outcomes.
These findings highlight the importance of early
diagnosis, close monitoring, and personalized
treatment regimens, while also paving the way
for larger-scale studies to establish standard
treatment protocols for T-LGLL in the future.
Keywords: T-LGLL, immunosuppression,
response criteria…
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh bạch cầu lympho T lớn có hạt (T-
LGLL) là một bệnh lý tăng sinh đơn dòng tế
bào lympho T được WHO (World Health
Organization) 2022 phiên bản 5 phân loại
thuộc nhóm bệnh lý ác tính tế bào NK và T
trưởng thành. Đây là một bệnh ác tính diễn
tiến chậm với tỷ lệ chẩn đoán bỏ sót cao do
sự hiếm gặp của bệnh (khoảng 0,2 đến 0,72
trên 1.000.000 người mỗi năm) [1] và chỉ
định điều trị thường chỉ xuất hiện ở một số
giai đoạn nhất định. Mặc dù T-LGLL có tiên
lượng sống còn tương đối cao (tỷ lệ sống 10
năm là 70%) [2], nhưng tỷ lệ phụ thuộc
truyền máu lên tới 35% [3], gây ra gánh nặng
lớn trong điều trị khi chưa có phác đồ tiêu
chuẩn. Các biểu hiện lâm sàng chính bao
gồm giảm các dòng tế bào máu như giảm
bạch cầu trung tính (80% bệnh nhân, 45%
nặng và 15-56% bị nhiễm trùng tái phát),
thiếu máu (48-73%, 8-19% là dạng giảm sản
hồng cầu đơn thuần), và giảm tiểu cầu (19-
36%). Hơn 50% bệnh nhân có tăng số lượng
tế bào LGL (≥4×109/L) [1]. Ngoài ra, bệnh
nhân có thể có lách to (20-50%), gan to (10-
20%) và nổi hạch (khoảng 5%). Khoảng một
phần ba số bệnh nhân không có triệu chứng
khi được chẩn đoán [5]. Cơ chế sinh bệnh
của T-LGLL vẫn đang được làm rõ, với bằng
chứng liên quan đến quần thể lympho T đơn
dòng thoát khỏi tín hiệu chết theo chương
trình do kích hoạt bởi một kháng nguyên,
dẫn đến viêm mạn và tự miễn. Đột biến

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
488
STAT3 đóng vai trò then chốt trong việc duy
trì sự sống còn của quần thể này [4]. Do cơ
chế chung của các bệnh lý này xoay quanh tế
bào tự hoạt hóa, việc điều trị chủ yếu tập
trung vào ức chế miễn dịch tế bào. Phương
pháp điều trị phổ biến hiện nay là đơn trị liệu
với một trong ba thuốc ức chế miễn dịch:
Methotrexate, Cyclophosphamide hoặc
Cyclosporin A, với tỷ lệ đáp ứng ban đầu dao
động từ 21% đến 85% [5]. Tại Bệnh viện
Truyền Máu Huyết Học, đã ghi nhận một số
trường hợp được chẩn đoán và điều trị T-
LGLL bằng thuốc ức chế miễn dịch, tuy
nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu
quả điều trị ban đầu trên nhóm bệnh nhân
này tại bệnh viện.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các
trường hợp được chẩn đoán T-LGLL tại bệnh
viện Truyền Máu Huyết Học từ 01/2019 đến
12/2023.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu hồi
cứu, mô tả loạt ca tiến hành từ 06/2024 đến
12/2024.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng:
Bệnh nhân được chẩn đoán T-LGLL dựa
trên giải phẫu bệnh tủy xương và dấu ấn
miễn dịch máu hoặc tủy xương từ 01/2019
đến 12/2023. Bệnh nhân được điều trị liệu
pháp ức chế miễn dịch với MTX
(Methotrexate) (10mg/m2/tuần) hoặc
Cyclosporin A (CsA) (3-5 mg/kg/ngày) hoặc
Cyclophosphamide (100mg/ngày) hoặc kết
hợp các thuốc trên. Prednisone có thể được
xem xét kết hợp với MTX trong trường hợp
giảm bạch cầu hạt nặng.
Hình ảnh sinh thiết tủy và dấu ấn miễn
dịch điển hình của T-LGLL: Xâm nhập
lympho phân bố mô kẽ hoặc nội mạch. Cụm
tế bào T độc gồm các cụm ≥6 tế bào
Granzyme B+ hoặc ≥8 tế bào CD8+. Không
tăng tế bào non. Các dấu hiệu phụ bao gồm:
tăng nhẹ hồng cầu lưới, hiện tượng chết tế
bào, tăng đại thực bào, đôi khi có xơ hóa
reticulin (độ 2–3 trong ~50–60%). Dấu ấn
đặc trưng dòng T độc trưởng thành: CD3+,
CD8+(CD4 âm hoặc CD8 dương > CD4),
CD5 dim, CD7+, TCRαβ+ Granzyme B+,
TIA1+, Perforin+ (biểu hiện chức năng gây
độc tế bào), CD57+, CD16+ [6].
Theo Jadee L. Neff và cộng sự, bệnh
bạch cầu T-LGLL cần phân biệt với tình
trạng tăng T-LGLL phản ứng với sự bất
thường của 2 trong 3 yếu tố: sinh thiết tủy,
dấu ấn miễn dịch và sinh học phân tử [7].
Hiện tại chưa có hướng dẫn chính thức
về tiêu chuẩn chẩn đoán xác định cho T-
LGLL, do đó trong nguồn lực cho phép trong
nghiên cứu này, chúng tôi đưa vào nghiên
cứu những người bệnh thỏa tiêu chuẩn sau:
• Lâm sàng: giảm các dòng tế bào máu,
có thể kèm lách to mà không giải thích được
bằng các bệnh lý khác.
• Sinh thiết tủy cho thấy sự xâm nhập tế
bào T bất thường vào xoang tủy của tủy
xương.
• Dấu ấn/hóa mô miễn dịch ghi nhận
quần thể lympho T bất thường phù hợp T-
LGLL.
Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu
thuận tiện.
Tiêu chuẩn đánh giá:
• Đáp ứng hoàn toàn nếu: Hb > 12g/dL
và tiểu cầu > 150K/uL và Neutrophil >
1,5K/uL.
• Đáp ứng một phần nếu: Hb > 8g/dL và
tiểu cầu > 50K/uL và Neutrophil > 0,5K/uL.
• Thời điểm đánh giá: 4 tháng sau khi
khởi động phác đồ điều trị.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
489
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu mô tả
tổng số 11 ca bệnh được chẩn đoán T-LGLL
trong khoảng thời gian từ tháng 1/2019 đến
12/2023.
Đặc điểm lâm sàng và sinh học người
bệnh
Bảng 1. Đặc điểm ban đầu của người bệnh
Nghiên cứu này
Nghiên cứu của
Taekeun Park [3]
Đặc điểm
Số lượng (%)(N=11)
Số lượng (%)(N=67)
Tuổi
Trung vị tại thời điểm chẩn đoán (khoảng), năm
46 (31-69)
56 (16-80)
Giới tính
Nữ
7 (63%)
34 (51)
Nam
4 (37%)
33 (49)
Biểu hiện lâm sàng
Lách to
6 (54,5%)
25 (37%)
Gan to
1 (9,1%)
7 (10%)
Hạch to
1 (9,1%)
5 (7%)
Triệu chứng B
4 (36,4%)
3 (4%)
Biểu hiện huyết học
Thiếu máu (Hb<12g/dL)
11 (100%)
49 (73%)
Phụ thuộc truyền hồng cầu
4 (36%)
19 (28%)
Giảm bạch cầu trung tính (<1500/µL)
4 (36,4%)
51 (76%)
Giảm bạch cầu trung tính nặng (<500/µL)
1 (9,1%)
14 (21%)
Giảm tiểu cầu < 150K/µL
2 (18,2%)
19 (28%)
Tăng lympho bào >4K/µL
1 (9,1%)
47 (70%)
Nhận xét: Nghiên cứu bao gồm 11 bệnh
nhân, với tuổi trung vị là 64 (khoảng tứ phân
vị 59-83). Tỷ lệ nam/nữ là 4/7. Về đặc điểm
lâm sàng, 3 bệnh nhân (27,3%) có triệu
chứng B, trong đó sốt là biểu hiện thường
gặp nhất (3 bệnh nhân). Tất cả 11 bệnh nhân
(100%) đều có gan to và lách to. Hạch to
được ghi nhận ở 4 bệnh nhân (36,4%). Các
bệnh lý đi kèm được ghi nhận bao gồm bệnh
tự miễn (3 bệnh nhân), đái tháo đường (2
bệnh nhân), nhiễm HIV (1 bệnh nhân) và
bệnh Alpha Thalassemia (1 bệnh nhân). Về
các chỉ số huyết học, giá trị trung vị của
hemoglobin là 7,6 g/dL, bạch cầu là 5,16
G/L, lymphocyte là 1,93 G/L, neutrophil là
1,81 G/L và tiểu cầu là 298 G/L. Ghi nhận có
4 bệnh nhân (36,4%) bị giảm bạch cầu hạt
(Neutrophil < 1,5 G/L), trong đó 1 bệnh nhân
(9,1%) bị giảm ở mức độ nặng (Neutrophil <
0,5 G/L). Có 4 bệnh nhân (36,4%) phụ thuộc
truyền máu tại thời điểm chẩn đoán.
Đặc điểm sinh thiết tủy xương và dấu
ấn miễn dịch thời điểm chẩn đoán
HMMD đã xác nhận sự xâm nhiễm của
tế bào lympho T ở tất cả các bệnh nhân. Kiểu
xâm nhiễm rất đa dạng, trong đó kiểu xâm
nhiễm nội xoang (intrasinusoidal), một dấu

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
490
hiệu đặc trưng, được ghi nhận ở các ca 5, 6,
7, 8 và 10. Các kiểu xâm nhiễm khác bao
gồm dạng nốt và mô kẽ (ca 3), dạng cụm (ca
9) và ngoài nốt (ca 1). Về kiểu hình miễn
dịch, hầu hết các trường hợp đều biểu hiện sự
chiếm ưu thế của tế bào T độc với CD8
dương tính. Tất cả các ca được phân tích đều
dương tính với TIA1, một dấu ấn của tế bào
T gây độc. Tuy nhiên, biểu hiện của
Granzyme B lại không đồng nhất; các ca 2, 8
và 11 dương tính với dấu ấn này, trong khi
các ca còn lại thì âm tính. Đáng chú ý, ca 11
có kiểu hình đặc biệt với CD8 âm tính trên
HMMD. Flow cytometry (kĩ thuật tế bào
dòng chảy) đã phát hiện các quần thể lympho
T bất thường ở đa số bệnh nhân có dữ liệu.
Các đặc điểm kinh điển của T-LGLL đã
được ghi nhận, bao gồm biểu hiện CD5 mờ
(dim) ở các ca 1, 5, 6, 8 và 10, và sự hiện
diện của dấu ấn CD57 ở các ca 3, 4, 5, 6, 8,
10 và 11. Một số trường hợp cho thấy các
kiểu hình đặc biệt, như ca 6 có quần thể tế
bào T mang TCR gamma-delta (γδ), và ca 11
có kiểu hình CD4 và CD8 đều âm tính
(double-negative). Cần lưu ý rằng ở ca 7, kết
quả flow không cho thấy bất thường rõ ràng
và ca 9 không có dữ liệu flow cytometry để
phân tích.
Bảng 2. Đáp ứng sau các đợt điều trị (N=11)
Đợt điều
trị
Phác đồ
Số ca
(n)
Đáp ứng
hoàn toàn
(CR)
Đáp ứng
một phần
(PR)
Không
đáp ứng
(NR)
Tỉ lệ đáp
ứng chung
(ORR)
Đợt 1
Tổng số
11
2
2
7
36,40%
Đơn trị MTX
3
0
1
2
33,30%
Đơn trị CsA
2
0
0
2
0%
MTX + Cyclosporin A
4
1
1
2
50,00%
MTX + Methylprednisolone
1
1
0
0
100%
MTX + CsA + steroid
1
0
0
1
0%
Đợt 2
Tổng số
4
0
1
3
25,00%
MTX + Cyclosporin A
3
0
0
3
0%
CsA + Cyclophosphamide
1
0
1
0
100%
Đợt 3
Tổng số
2
1
1
0
100%
CsA + Cyclophosphamide
2
1
1
0
100%
Số ca (n) ở Đợt 2 và 3 là số bệnh nhân
được chuyển sang điều trị tiếp sau khi không
đáp ứng ở đợt trước
Bảng 2 cho thấy đợt điều trị đầu tiên (11
ca) ghi nhận 2 trường hợp đáp ứng hoàn toàn
(CR), 2 trường hợp đáp ứng một phần (PR)
và 7 ca không đáp ứng (NR). Trong đó, các
phác đồ đơn trị (5 ca) có 1 ca đạt PR, còn các
phác đồ kết hợp (6 ca) có 2 ca CR và 1 ca
PR. Đợt điều trị thứ 2 (4 ca): Ghi nhận 1 ca
đạt PR với phác đồ CsA +
Cyclophosphamide và 3 ca không đáp ứng
với phác đồ MTX + CsA. Trong đợt điều trị
thứ 3 hai bệnh nhân đều đáp ứng với phác đồ
CsA + Cyclophosphamide (1 CR, 1 PR).

