TIỂU LUẬN:
Đánh giá hoạt động xúc tiến
hỗn hợp của s-fone trong
năm 2005 tại hà nội.
Lời mở đầu
Để nhận định về thị trường mạng điện thoại di động của Việt Nam trong năm
2005, hầu hết các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực u chính Viễn thông và
công nghthông tin của Việt Nam đều đưa ra một nhận xét chung :” Thị trường di
động Việt Nam năm 2005: phát triển rất ấn tượng.” Theo con số điều tra của hãng
nghiên cứu GFK (Đức ) thì thị trường di động Vịêt Nam đã đạt được con số tăng
trưởng hết sức ấn tượng là 50% - đứng thứ 5 trên thế giới ( chỉ sau các nước …).Nếu
nhìn lại thị trường di động trong m qua, ta có thể thấy rằng nhận định đó hoàn
toàn sở.Cách đây n một năm, số lượng th bao điện thoại di động tính
trong cả nước mới chỉ dừng lại ở con số km tốn hơn 3 triệu với sự độc quyền trong
việc cung cấp dịch vụ mạng di động của VNPT thông qua hai đại gia Vinaphone
Mobile phone. Thế cho đến cuối năm 2005, đầu năm 2006 , con số thống đã
lên tới 5 triệu thuê bao - riêng VNPT đã khoảng 4,5 triệu thuê bao trong đó
Vinaphone chiếm khoảng 2,8 triệu thuê bao- và sự ra đời của hàng loạt các nhà cung
cấp dịch vmạng di động mới như: Sfone, Viettel. Để được những kết quả thần
k y, công chính một phần có lẽ sẽ thuộc về Sfone- nhà cung cấp mạng di động
thứ hai tại Việt Nam. Sự ra đời của mạng điện thoại Sfone m 2004 đã chính thức
phá vỡ đi vtrí độc tôn trong bao m qua của VNPT, được như làn gmới”,
đòn bẩy” đánh dấu sự cạnh tranh thật sự trong ngành Viễn thông Việt Nam .
Ra đời chính thức đi vào hoạt động ngày 1/7/2004, mạng điện thoại di
động CDMA đầu tiên tai Việt Nam với thương hiệu là Sfone sliên doanh ga
công ty Công ty cổ phần dịch vBưu chính viễn thông Sài n ( SPT) công ty
SLD Telecom ( ớc ngoài) . nhà cung cấp dịch vụ đến sau phải chịu nhiều
thách thức, Sfone một mặt phải tập trung mọi nỗ lực kinh doanh của mình vào việc
xâm nhập vào thị trường di động Việt Nam thực chất mới chỉ bước vào giai đoạn
đầu của thời kỳ phát triển, còn nhiều kkhăn; mặt khác lại phải không ngừng đấu
tranh phá vỡ thế độc quyền và sự cạnh tranh gay gắt của người khổng lồ VNPT . Đ
thể kinh doanh hiệu quả và đạt được những mục tiêu nh đã đề ra, trong
năm 2005 vừa qua nhà cung cấp mạng điện thoại CDMA- Sfone đã tiến hành hàng
loạt các hoạt động xúc tiến hỗn hợp vi quy lớn, triệt để đạt được nhiều thành
công. qua đó tôi muốn qua việc phân tích các hoạt động này đrút ra một si
học kinh nghiệm trong việc sử dụng các công cụ xúc tiến hỗn hợp để làm tăng thị
phần của doanh nghiệp.
Do công ty STelecom-n cung cấp mạng điện thoại di động Sfone trong
năm 2005 qua đã tiến nh rất nhiều các họat động xúc tién hỗn hợp khác nhạu tn
phạm vi toàn quốc nên đđảm bảo tính chính xác về thông tin cũng như có thể phân
tích các hoạt đó một cách cụ thể sâu sắc, Phạm vi nghiên cứu của đề tài này sẽ
chỉ nghiên cứu đánh giá các hoạt động c tiến hỗn hợp Nhà cung cấp mạng
điện thoại di động CDMA -Sfone đã tiến hành trong khoảng thời gian từ đầu m
2005 cho tới đầu năm 2006 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Cũng giống như tên của bản đề án này, mục tiêu đầu tiên của đán phân
tích và đánh giá các hoạt động xúc tiến hỗn hợp nhà cung cấp mạng điện thoại
di động Sfone đã tiến hành thực hiện tại Thành phố Nội trong năm 2005 đầu
năm 2006 để từ đó thể rút ra kết luận về các hoạt động xúc tiến đó có thành công
hay không, đạt được những kết quả gì, những ưu điểm gì cần tiếp tục phát huy khai
thác, những mặt hạn chế nào cần khắc phục, rút kinh nghiẹm.
So sánh các hoạt động xúc tiến hỗn hợp của Sfone với c đối thủ cạnh tranh
khác để từ đó có cái nhìn cụ thể và chính xác hơn về chính mạng điện thoại Sfone và
các đối thủ , cái nhìn tổng quan chính xác về sự bùng nổ cạnh tranh trong thị
trường Bưu chính viễn thông Việt Nam
I. Khái quát về hoạt động xúc tiến hỗn hợp trong Marketing.
1. Xúc tiến hỗn hợp và vai trò của nó đối với hoạt động marketing của mỗi
doanh nghiệp.
Ngày nay hoạt động marketing hiện đại rất quan m đến c chiến lược
xúc tiến hn hợp . Đây một trong bốn nhóm công cụ chủ yếu của Marketing- Mix
( bao gồm sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến hỗn hợp) mà doanh nghiệp có thể s
dụng để tác động vào thị trường mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh
mình đã đề ra. Bản chất của các hoạt động xúc tiến chính sự truyền tin vsản
phẩm hình ảnh của doanh nghiệp tới khách hàng để thuyết phục họ mua. vậy
thể gọi đây các hoạt động truyền thông marketing. Marketing hiện đại ngày
càng đòi hỏi nhiều thứ hơn, chứ không chỉ phát triển sản phẩm, định giá sao cho có
sức hấp dẫn, tạo điều kiện cho khách hàng mục tiêu thể tiếp cận được vi nó.
Các công ty cũng phải thông tin cho khách hàng hiện có tiềm ẩn. Mỗi công ty
chắc chắn sẽ phải đóng vai trò người truyền tin và người khuyến mãi. Tuy nhiên nội
dung truyền thông không thể tuỳ tiện. Đối với hầu hết các công ty vấn đề không
phải là nên thông tin hay không mà là cần nói gì, nói cho ai thường xuyên đến
mức độ nào.
Hoạt động xúc tiến hỗn hợp với các công cụ phổ biến của nó có vai trò hết sức quan
trọng trong chiến lược marketing của doanh nghiệp. giúp cho doanh nghiệp
thể giới thiệu và khuyếch chương, tạo dựng lòng tin trong m chí khách hàng v
chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà hcung cấp cũng ndanh tiếng hình ảnh của
công ty. giúp cho khách hàng nhận biết được giá trị của sản phm, khuyến khích
và kich thích tiêu dùng bằng những lời mời mọc và hứa hẹn vnhững giá trị gia
tăng mà ngưòi tiêu dùng sẽ nhận được. Từ đó đẩy nhanh lượng tiêu thụ, mrộng thị
phần giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu mà mình đã đề ra.
2. Các công cc tiến hỗn hợp phổ biến.
Những doanh nghiệp kinh doanh hiện đại thường tổ chức điều hành một h
thống xúc tiến hỗn hợp phức tạp với một số dạng chủ yếu thường được s dụng
trong các chiến lược xúc tiến là :
- Quảng cáo: bao gồm mọi hình thức giới thiệu một cách gián tiếp khuyếch
trương các ý tưởng, hàng hoá hoặc dịch vụ được thực hiện theo yêu cầu của chủ
thể quảng cáo và chủ thể phải thanh toán mọi chi phí để thực hiện. Quảng cáo là
một kiểu truyền thông tính đại chúng, mang nh hội cao. yêu cầu hàng
hoá phải hợp pháp và được mọi người chấp nhận. Quảng cáo là một phương tiện
có khả năng thuyết phục, tạo cơ hội cho ngưi nhận tin so sánh thông tin với đối
thủ cạnh tranh làm tăng thêm sức thuyết phục đối vi khách hàng mục tiêu.
Với ngôn ngữ quảngo phong phú , đa dạng, phương tiện quảng cáo phổ
cập và tiện kợi, quảngo mkhả năng giới thiệu hàng hoá của doanh nghiệp,
dịch vụ bán cũng như uy tín thế lực của doanh nghiệp một cách hiệu quả, trực
diện. Tuy nhiên quảng cáo chnh thức thông tin trao đổi môt chiều: truyền
tin về doanh nghiệp, hàng hoá và sản phẩm của doanh nghiệp tới khách hàng
thôi
- Bán hàng trực tiếp: là hình thức giao tiếp trực tiếp với khách hàng triển vọng với
muạc đích bán được hàng. một công cụ hiệu quả nhất những giai đoạn
hình thành sự ưa thích và niềm tin của người mua và giai đoạn ra quyết định mua
trong quá trình mua ng. Bán hàng cá nhân đòi hỏi sự giao tiếp qua lại gia
hai hay nhiều người. Hai bên giao tiếp có thể nghiên cứu trực tiếp những nhu cầu
vđặc điểm của nhau, đồng thời sự linh hoạt trong giao tiếp cho phù hợp.
Bán hàng trực tiếp hình thành nhiều mối quan thệ phong phú, đa dạng. Từ quan
hệ mua bán thông thường đến quan hệ thân mật, thuỷ chung gần gũi giữa doanh
nghiệp và khách hàng mà cách doanh nghiệp phải thiết lập theo quan điểm
Marketing. Việc bán hàng trực tiếp khuyến kch người mua có những phản ứng
đáp lại, thể hiện thông rtin phản hồi cho người bán nời bán trực tiếp giao
dịch, đã hình thành cơ chế thuận lợi, riêng biệt để nời mua cung cấp thông tin
ngược chiều và có phản ứng đáp lại.