
Đập Tam Hiệp – thảm họa môi trường
Trong khi các nước Đông Nam Á tranh cãi có nên xây đập
thủy điện Xayabury trên dòng chính sông Mekong (đoạn
qua Lào), thì Trung Quốc đang hứng chịu hậu quả của việc
xây đập Tam Hiệp trên sông Dương Tử – đập thủy điện lớn
nhất thế giới – sau hơn bốn năm vận hành.
Đập Tam Hiệp
Nhiều loài sinh vật sẽ tuyệt chủng

Theo các chuyên gia, ảnh hưởng về môi trường từ các đập
thủy điện lớn là rất lớn. Đập Tam Hiệp, dài khoảng 2km,
không phải là ngoại lệ. Sự hình thành con đập cùng hồ chứa
khổng lồ đã tác động ghê gớm tới môi trường thượng và hạ
nguồn sông Dương Tử.
Nhiều loài sinh vật trong vùng đều bị ảnh hưởng, một số
loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Chất lượng nước biến
đổi rõ rệt. Cư dân trong vùng phải đối mặt nguy cơ động
đất và sạt lở đất.
Theo báo chí Trung Quốc, lượng nước tăng lên trong vùng
hồ thủy điện làm xói lở bờ sông ở 91 phụ lưu của dòng
Dương Tử, gây ra những con sóng cao tới 50m. “Các thảm
họa địa chất thường trực là mối đe dọa nghiêm trọng đối
với người dân sống trong vùng ảnh hưởng của con đập”,
Hoàng Tuệ Bình, một kỹ sư, nói.
Theo Hạ Bá Vinh, một nhà sinh vật học ở tỉnh Hồ Bắc, trên
dòng Dương Tử, xưa nay người ta ghi nhận có tới 300 loài
cá. Con đập đã tạo ra một rào chắn khổng lồ mà các loài
thủy sinh khó có thể vượt qua. Cá không thể lên thượng
nguồn đẻ trứng và số lượng cá thể giảm đi nhanh chóng.

Những loài sinh vật bị ảnh hưởng khác bao gồm cá heo
nước ngọt, cá tầm Trung Quốc, hổ, cá sấu, sếu Siberia và
gấu trúc khổng lồ. Tại lưu vực sông Dương Tử, nơi xây đập
Tam Hiệp, có tổng cộng 47 loài động vật quý hiếm hoặc
sắp tuyệt chủng được pháp luật Trung Quốc bảo vệ.
Ông Hạ nói, nơi sinh sống duy nhất của loài cá heo nước
ngọt Trung Quốc là sông Dương Tử và số sinh vật đang
trên bờ tuyệt chủng ấy chỉ còn chưa tới 100.
Hồ chứa của đập Tam Hiệp chính là nơi sinh sống chính
của cá heo. Chính phủ Trung Quốc đã phải lên kế hoạch
bảo tồn cá heo và những loài vật khác bằng việc tạo ra các
khu dự trữ sinh quyển và hỗ trợ sinh sản nhân tạo. Tuy

nhiên, những nỗ lực trước đây về việc chuyển vùng cho cá
heo sông Dương Tử đều thất bại.
Một trong những tác dụng phụ của việc xây đập Tam Hiệp
là các thị tứ và cánh rừng trong vùng nước ngập phải bị phá
bỏ và thu dọn nhằm tạo điều kiện cho tàu bè lưu thông. Tuy
nhiên, việc mất rừng và đất nông nghiệp dẫn tới xói lở bờ
sông, tạo ra trầm tích ở đáy sông và đáy hồ chứa.
Đồng thời, việc này cũng làm tăng nguy cơ ngập lụt cho
vùng thượng nguồn. Trong khi đó, trầm tích và phù sa,
những thứ rất cần thiết cho việc trồng trọt, bị chặn lại,
khiến đất đai vùng hạ lưu trở nên bạc màu.
Việc phá hủy làng mạc còn dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi
trường. Sông Dương Tử đã bị ô nhiễm từ việc chuyên chở
than, từ các trận mưa a-xít và từ chất thải của nhiều trung
tâm công nghiệp của Trung Quốc. Các chất gây ô nhiễm từ
những khu vực bị xóa sổ cũng góp phần làm dòng sông
thêm bẩn.
Người ta đã gây quỹ để giúp làm sạch vùng lòng hồ, nhưng
chỉ thời gian mới cho câu trả lời về hiệu quả. Lưu tốc nước
trong vùng lòng hồ thấp dần và người ta lo ngại các chất

độc hại sẽ lưu cữu trong nước, khiến chất lượng nước ngày
càng xấu đi.
“Những hậu quả khác từ việc xây đập Tam Hiệp là hàm
lượng oxy trong nước rất cần thiết cho sự sống của các loài
sinh vật đã giảm xuống”, ông Hạ cho hay. Theo ông, sự có
mặt của con đập ngăn cản quá trình hòa tan oxy vào trong
nước, do dòng chính của sông đã bị chặn lại. Nước sông ở
phía dưới đập sẽ chảy chậm hơn, lượng oxy trong nước sẽ
thấp hơn trước. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hệ sinh thái
thủy sinh vùng hạ lưu.
Tất nhiên, không thể phủ nhận thủy điện là ngành công
nghiệp sạch khi không tạo ra khí nhà kính. Việc vận hành
thủy điện Tam Hiệp, khánh thành năm 2006, tiết kiệm 50
triệu tấn than (vận hành các nhà máy nhiệt điện), hạn chế
hiện tượng mưa a-xít, giúp làm sạch không khí.
Nhưng cái giá phải trả cũng không nhỏ chút nào, và ngày
càng có nhiều người nghi ngại về sự tồn tại của đập thủy
điện lớn nhất thế giới này. Tính ra, đã có 140 thị trấn, 1.000
làng mạc, hai thành phố, 100.000 ha đất nông nghiệp màu

