Đậu nành: Giá trị dinh dưỡng, trị liệu
Trong mấy chc m gần đây, dân chúng các quốc
gia Âu Mbắt đầu tiêu th một số lượng rất lớn đậu
nành. Hđã được các nhà nghiên cứu khoa học thông
báo nhiều ích lợi về dinh dưỡng cũng như trị liệu của
loại thực vật này. quan Dược phẩm và Thực
phẩm Hoa Kỳ đã chấp thuận cho các nhà chế biến được
gii thiệu là các sản phẩm này giá tr trong việc làm
gim nguy cơ gây ra bệnh tim mạch và duy trì sức khỏe
con người. Đây là một việc làm hiếm vì cơ quan trên
thường rất dè dt trong các công nhận tương tự, nhất là
chỉ căn cứ vào kinh nghiệm, quan sát.
Trong s
các loại
đậu, đậu n
ành
lo
ại đặc bit
h
ợp chất
isoflavone v
ới
công th
ức hóa
h
ọc gần giống
Thực ra đậu nành, mà ta n gọi đ
tương, đã được các quốc gia Á châu,
trong đó Việt Nam dùng m thực
phẩm và thuốc từ nhiều ngàn năm về
trước.
Thành phần hóa học
Hạt đậu nành chứa 8% nước, 5% chất
cơ, 15- 25% glucose, 15-20% chất
béo, 35- 45% chất đạm với đủ các loại
amino acid cần thiết và nhiều sinh tố, khoáng chất. So với
thịt động vật, đậu nành nhiều chất dinh dưỡng hơn: 100
gr đậu nành 411 calo; 34 gr đạm; 18 gr béo; 165mg
calcium; 11mg sắt; trong khi đó thịt bò loại ngon chỉ có 165
calo, 21gr đạm; 9gr béo; 10mg calcium và 2.7 mg sắt.
Quan trọng hơn cả là trong đậu nành một hóa chất
tương tự như kích thích t nữ estrogen mà nhiều công trình
khoa hc chứng minh là rất tốt trong việc trị ngừa một
số bệnh. Đó là chất isoflavones.
Trong scác loại đậu, đậu nành là loại đặc biệt hợp chất
isoflavone với công thức hóa học gần giống như kích thích
như kích thích t
n estrogen. V
ì
thế đư
danh l
à estrogen
thảo mộc (phyto-
estrogen) đư
ợc
nghiên c
ứu về
công d
ụng đối với
cơ thể.
tnữ estrogen. Vì thế được mệnh danh là estrogen thảo
mộc (phyto-estrogen) và được nghiên cứu về công dụng đối
với cơ thể.
T đậu nành th
chế biến nhiều món ăn
quen thuộc hàng ngày.
Estrogen kích thích t tnhiên được noãn sào tiết ra, rất
cần thiết cho sự tăng trưởng của quan sinh dục chính (tử
cung, ống dẫn trứng) và s nẩy nở của quan sinh dục
ph như nhũ hoa, làm xương chậu hình bu dục rộng
hơn đsinh đẻ dễ dàng. Ngoài ra, estrogen còn cần đduy
trì một sức khỏe tốt cho người nam cũng như nữ, cho sự
tân tạo và tu bxương, cho hệ thống tim mạch, cho não bộ.
Khi tới tuổi mãn kinh, n mất đi một khối lượng rất lớn
estrogen nên h chịu đựng nhiều thay đổi.
Estrogen thực vật không giá trị dinh dưỡng, không là
sinh t hay khoáng chất. có tác dụng tương tự như
estrogen thiên nhiên nhưng yếu hơn, và có nhiu nhất trong
đậu nành. Nó nằm phần dưới của tử diệp trong hạt đậu và
gồm bốn cấu tạo hóa học là aglycones, daidzein, ghenistein
glycitein. S lượng isoflavones nhiều ít tùy theo giống
đậu, điều kiện trồng trọt và mùa gặt hái. được chuyển
a trong ruột, lưu hành trong huyết tương phế thải qua
thận.
Trung bình mỗi ngày ta cần 50mg isoflavones. S lượng
này thường thấy trong 30gr đậu nành rang, 1 ly sữa đậu
nành, 1/2 miếng đậu phụ, 1/2 ly bột đậu. Bánh mì Hot dogs,
burger, sa chua phomát m bằng đậu nành cũng một
s lượng nhỏ isoflavones, còn dầu đậu nành thì hầu như
không có. Trong việc nấu ng thường lệ, isoflavones
không bị tiêu hủy vì nó khá bền vững.
Giá trị dinh dưỡng
nhiu đạm cht nên đậu nành đã được coi như “thịt
không xương” nhiều quốc gia Á châu. Tại Nhật Bản,
Trung Hoa 60% đạm tiêu thhàng ngày đều do đậu nành
cung cấp. Đạm này rất tốt để thay thế cho thịt động vật vì
ít mcholesterol. Đu nành nhiu đạm chất hơn
thịt, nhiều calcium n sữa bò, nhiều lecithin hơn trứng.
Các amino acid cần thiết thể không tạo ra được thì
đều trong đậu nành. Khi đậu nành ăn chung với một số
ngũ cốc như ngô bắp thì sbổ sung một số amino acid
ngô không có. Với trẻ em, chất đạm của đậu nành
món ăn quý giá cho các em b dị ứng với sữa bò hoặc
không tiêu thđược đường lactose. Đậu nành sgiúp các
em tăng trưởng tốt.
Công dụng y học của đậu nành