
ĐỀ CƯƠNG HỌC PHẦN TÂM LÝ HỌC NHÂN CÁCH
Câu 1: Trình bày khái niệm vô thức? Các giai đoạn phát triển nhân cách theo quan
điểm của Sigmund Freud (Phân tâm học).
-Khái niệm vô thức: là những ý nghĩ, mong muốn, nhu cầu, động cơ, đam mê mà chúng
ta thường không nhận thấy, vì bị dồn nén bởi ý thức do cảm giác sợ hãi. Ví dụ: ham
muốn tình dục, những nhu cầu ích kỷ, bạo lực… Mặc dù không được nhận thức nhưng
chúng vẫn tồn tại trong suy nghĩ và hành vi của con người. Vô thức là một phần của tâm
trí mà một người không nhận thức được. Freud nói rằng chính vô thức phơi bày cảm xúc,
cảm xúc và suy nghĩ thực sự của cá nhân. Có một loạt các kỹ thuật phân tâm học được sử
dụng để truy cập và hiểu vô thức, từ các phương pháp như thôi miên, liên kết tự do và
phân tích giấc mơ. Giấc mơ cho phép chúng ta khám phá vô thức; theo Freud, họ là"con
đường hoàng gia"đến vô thức". Giấc mơ bao gồm các nội dung tiềm ẩn và rõ ràng. Khám
phá và hiểu nội dung rõ ràng của những giấc mơ có thể thông báo cho cá nhân về những
phức tạp hoặc rối loạn có thể nằm dưới bề mặt tính cách của họ. Giấc mơ có thể cung cấp
quyền truy cập vào vô thức mà không dễ dàng truy cập.S Vô thức là phần quan trọng
nhất của bộ máy tâm trí, nó chi phối hành vi của con người. Động lực của con người nằm
trong vô thức.
- Các giai đoạn phát triển nhân cách
1. Giai đoạn môi miệng (oral stage): 0-18 tháng tuổi
Vùng tạo ra khoái cảm cho trẻ là miệng. Freud tin rằng khi một đứa trẻ làm động tác bú,
không phải chỉ để nhận lấy thực phẩm, mà còn là do việc bú có thể tạo nên những cảm
giác khoan khoái. Tất cả những hành vi như ăn, nuốt, nhổ, cắn, nhai đều tạo ra khoái
cảm.
Những khoái cảm ở giai đoạn này phụ thuộc lớn vào sự thoải mái do người mẹ đem lại ->
mối quan hệ mẹ - con có vai trò cực kỳ quan trọng.
Freud khẳng định có một mối nguy trong giai đoạn phát triển này: Nếu mối quan hệ giữa
trẻ và mẹ quá thuận lợi, trẻ sẽ trở nên lệ thuộc quá đáng với mẹ và sẽ “cắm chốt” (fixed)
ở giai đoạn này, dẫn đến việc hình thành một nhân cách lệ thuộc ở tuổi trưởng thành. Ở
một cực ngược lại, khi tương tác mẹ-con được trẻ trải nghiệm với nhiều nỗi lo âu, trẻ có
thể cảm thấy không an toàn, và trải nghiệm bất an này có thể vẫn tiếp tục cho đến tuổi
trưởng thành.
2. Giai đoạn hậu môn (anal stage): 18 tháng tuổi đến 3 tuổi
Trong năm thứ hai của cuộc sống, nguồn gốc phát sinh các khoái cảm được chuyển từ
vùng miệng sang khu vực hậu môn. Việc trẻ tống hay giữ lại phân đều có một tầm quan
trọng về mặt thể chất và cảm xúc.
Cắm chốt ở giai đoạn này thường do sự luyện tập quá khắt khe và làm cho trẻ lo lắng.

Trong giai đoạn này, cách thức mà người lớn tập cho trẻ đi vệ sinh đóng vai trò hết sức
quan trọng. Nếu một trẻ ở giai đoạn này được xử lý vấn đề vệ sinh theo một cách thức rất
ngiêm khắc, nó sẽ có thể phát triển một loại nhân cách có tính “kiềm chế rất cao”
(retentive), sạch sẽ và kỷ luật quá mức; ngược lại, nó có thể trở thành người vô kỷ luật.
Một người lớn có tính cách rất thô lỗ, ngoan cố được xem là bị “cắm chốt” ở giai đoạn
hậu môn.
3. Giai đoạn dương vật (phallic stage): 3-6 tuổi
Đây là giai đoạn thường hay phát sinh các hành vi kém thích nghi cho các giai đoạn sau
của đời sống. Vùng tạo nên khoái cảm là cơ quan sinh dục.
Giai đoạn này, trẻ tìm hiểu giới tính, sờ mó cơ quan sinh dục và tạo nên khoái cảm. Khi
tầm quan trọng của cơ quan sinh dục càng gia tăng, một số quá trình về tâm lý sẽ xảy ra:
nỗi lo sợ bị thiến ở bé trai, nỗi khao khát muốn có dương vật ở bé gái.
Freud khẳng định rằng, ở cả hai giới tính nam và nữ, những vấn đề nghiêm trọng trong sự
phát triển nhân cách đều có thể qui về giai đoạn phát triển này.
Trong giai đoạn dương vật, hình thành mặc cảm Oedipe ở các bé trai và mặc cảm Electra
ở các bé gái (Tuy nhiên Freud chủ yếu chỉ nói đến mặc cảm Oedipe). Nói tóm gọn thì
mặc cảm Oedipe nói đến việc đứa bé trai mong muốn chiếm hữu người mẹ và loại bỏ vai
trò của người bố. Mặc cảm Electra là mong muốn của đứa bé gái muốn chiếm hữu bố
mình và loại bỏ vai trò của người mẹ.
Việc giải tỏa mặc cảm Oedipe sẽ được thực hiện thông qua việc đứa trẻ đồng nhất hóa
bản thân mình với người bố hoặc mẹ cùng giới tính với mình. Điều này kích thích sự phát
triển của cái siêu tôi (thực hiện quá trình xã hội hóa).
Hội chứng có thể xảy ra trong giai đoạn này là con gái thường có mặc cảm thấp kém và
hay ghen tỵ, điều này có thể tiếp tục khi đã lớn. Nếu không giải quyết được thì lương tâm
không vững mạnh khi trưởng thành, tính khí hay thất thường và có sự lệch lạc trong giao
tiêp với bạn bè và người khác giới.
4. Giai đoạn tiềm ẩn (latency period): 7-12 tuổi
Suốt thời kì này, tính dục của trẻ ngầm ẩn. Trẻ tập trung đến các mối quan tâm xã hội
lành mạnh, trường lớp, và các hoạt động ngoài gia đình. Không hoàn thành thời kì này có
thể dẫn đến sự đánh giá bản thân kém và khó khăn trong xây dựng quan hệ ở trẻ.
5. Giai đoạn sinh dục (genital stage): trên 12 tuổi
Trong giai đoạn dương vật (phallic stage), tình yêu của trẻ mang nét đặc trưng của tính ái
kỷ. Sang giai đoạn sinh dục, sự tự yêu mình được chuyển đổi thành yêu người khác. Bắt
đầu tuổi dậy thì, trẻ bước vào giai đoạn đạt đến việc hình thành những hành vi tình dục
bình thường có tính trưởng thành đối với người khác giới.
Cá nhân trẻ sẽ chuyển dần từ một người có tính ái kỷ thành một con người trưởng thành
có tính xã hội. Những niềm vui lớn lao có thể sẽ đến từ trong mối quan hệ với những

người trưởng thành khác giới sau này. Chỉ có sự phát triển đến giai đoạn này khi trẻ
không bị cắm chốt ở một giai đoạn nào trước đó. Những rối loạn về tâm lý là kết quả của
những kinh nghiệm không tốt đẹp trong thời thơ ấu.
-Theo Freud, 1 cá nhân có thể bị cố định vào 1 trong 3 giai đoạn tiền sinh dục nếu như
người đó vấp phải những sang chấn tâm lý gay gắt, khi trưởng thành, cá nhân đó sẽ có
những hội chứng nhân cách.
-Ông khẳng định rằng, về bản chất, nhân cách được hình thành vào cuối giai đoạn 3, lúc
gần 5 tuổi, sau đó con người phát triển các chiến lược chủ yếu bộc lộ bản năng là cái tạo
thành hạt nhân của nhân cách.
-Theo ông, tư tưởng và hành động của con người là do những động cơ gây ra. Các động
cơ này là những bản năng và những thúc đẩy của “cái nó” muốn biểu lộ ra bên ngoài
nhưng các xung lực của nó phải dồn nén lại để tránh xung đột với “cái tôi” và “cái siêu
tôi”, vì vậy nó biểu lộ dưới hình thức biến cải mà không gây xung đột, động cơ của “cái
nó” là động cơ tiềm thức.
Câu 2: Vận dụng các yếu tố hình thành nhân cách vào trong hoạt động giáo dục?
Lấy ví dụ cho từng yếu tố.
*Các yếu tố hình thành nhân cách và vận dụng trong hoạt động giáo dục:
- Yếu tố bẩm sinh- di truyền: Bẩm sinh và di truyền có vai trò tiền đề cho sự hình
thành, phát triển nhân cách. Bất cứ một chức năng tâm lý nào cũng mang bản chất con
người của nhân cách chỉ có thể được phát triển trong hoạt động của bản thân đó và trong
điều kiện của xã hội loài người. Ngoài ra, sự tác động của yếu tố di truyền đối với từng
lứa tuổi và từng hoạt động cụ thể là khác nhau. Khi sinh ra, mỗi người đã có 1 bộ gen
riêng cho mình và nó rất hiếm khi trùng với người khác. Do vậy, mỗi người có khí chất,
thiên hướng, khả năng tư duy…cũng khác nhau. Trên thực tế có rất nhiều trẻ em, ngay từ
nhỏ sinh ra đã có những tư chất, năng khiếu bẩm sinh về âm nhạc, hội họa, thể thao, toán
học… Nếu những đứa trẻ đó được giáo dục từ sớm, được sống trong môi trường thuận
lợi, chắc chắn các em sẽ phát huy được tài năng và trở thành những người tài giỏi. Do đó,
trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục cần quan tâm đúng mức yếu tố di truyền –
bẩm sinh, đó là những mầm mống, tư chất sinh học có vai trò tiền đề phát triển một
số phẩm chất, năng lực của nhân cách. Trong hoạt động dạy học, dựa vào đặc điểm
trí thông minh của từng em mà người giáo viên có phương pháp dạy phù hợp với
nhận thức của học sinh, tạo nhiều cơ hội cho các em thực hành kỹ năng, củng cố
kiến thức, giúp các em phát huy tài năng để trở thành những công dân có ích cho
gia đình và xã hội.
Ví dụ: Trong quá trình dạy môn Tiếng Anh, cô A nhận thấy lớp 7B có nhiều bạn học
kém môn này, lại có 1 số bạn rất có khả năng với ngoại ngữ. Cô A đã suy nghĩ và thiết kế

bài giảng sao cho dễ hiểu nhất, bên cạnh đó, cô còn soạn những bài tập nâng cao để bồi
dưỡng thêm cho các bạn giỏi hơn phát triển khả năng. Cuối kỳ, lớp 7B có chất lượng môn
Tiếng Anh tốt.
- Hoàn cảnh sống: Nhân cách chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên thông qua những
giá trị vật chất và tinh thần, qua phong tục tập quán, những cái vốn có trong bản thân mỗi
người đã liên hệ với những điều kiện tự nhiên ấy, kết hợp với phương thức sống của
chính bản thân nó. Cá nhân là một tồn tại có ý thức, nó còn có thể lựa chọn phương thức
sống và các cách phản ứng khác nhau trước tác động của hoàn cảnh xã hội. Trong tất cả
các mối quan hệ xã hội, nhân cách không chỉ là khách thể mà còn là chủ thể. Trong quá
trình dạy học, GV cần tạo cho học sinh môi trường học tập lành mạnh, khuyến
khích các em tham gia hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm, tình nguyện, từ thiện, bồi
đắp tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình qua video, tranh ảnh giáo dục...
Ví dụ: Trường tiểu học A thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa vui nhộn, các
hoạt động tình nguyện vì môi trường xanh sạch đẹp, hoạt động quyên góp giúp đỡ các
bạn có hoàn cảnh khó khăn, các em học sinh tham gia rất hứng thú và tích cực. Đối với
những em có hoàn cảnh đặc biệt, nhà trường đến thăm hỏi gia đình, động viên giúp đỡ
các em vươn lên trong học tập.
-Yếu tố giáo dục, tự giáo dục: Giáo dục là quá trình tác động có ý thức, có mục đích và
kế hoạch về mặt tư tưởng, đạo đức, hành vi trong tập thể trẻ em và học sinh, trong gia
đình và cơ quan giáo dục ngoài nhà trường. Giáo dục vạch ra chiều hướng cho sự hình
thành và phát triển nhân cách, bù đắp những thiếu hụt, uốn nắn những phẩm chất, tâm lý
do phát triển tự phát của môi trường, xã hội. Các nhà giáo dục cần xây dựng chương
trình dạy học phù hợp với từng lứa tuổi, đặc điểm phát triển tâm sinh lý của các em.

Không những thế, giáo dục cần lấy học sinh làm trung tâm, quan tâm giáo dục toàn
diện: kết hợp giáo dục kiến thức chuẩn với coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện kĩ
năng thực hành, kĩ năng sống, tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp,
ngoại khóa và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến
vấn đề tâm lý học đường thông qua việc phối hợp với các trung tâm tư vấn tâm lý
giáo dục giúp các em học sinh có tâm thế học tập thân thiện, tự tin, thoải mái và
hiệu quả. Bên cạnh đó, tự giáo dục ở học sinh cũng góp phần quan trọng rèn luyện
nhân cách ở các em.
Ví dụ:
- Yếu tố hoạt động: Hoạt động là nhân tố quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển
nhân cách. Hoạt động của con người có mục đích, có ý thức mang tính xã hội, cộng đồng,
được thực hiện bằng những thao tác nhất định. Thông qua hai quá trình đối tượng hóa và
chủ thể hóa mà nhân cách được bộc lộ và hình thành. Con người lĩnh hội kinh nghiệm xã
hội lịch sử bằng hoạt động của bản thân để hình thành nhân cách. Mặt khác, cũng thông
qua hoạt động, con người đóng góp “bản sắc” của mình vào việc cải tạo thế giới khách
quan. Vận dụng trong giáo dục, nhà giáo dục cần tổ chức nhiều hoạt động nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh: Khơi dậy và hun đúc cho
mỗi ý tưởng sáng tạo, mỗi khả năng tiềm ẩn của các em, tăng cường khả năng
thuyết trình, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm để mỗi học sinh được thành công
trong học tập và cuộc sống.
Ví dụ: tổ chức hoạt động trải nghiệm, hoạt động ngoại khóa…

