BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TPHCM

ĐỀ TÀI CẤP BỘ

MÃ SỐ: B2001 - 23 -14

TÊN ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG - CÔNG

NGHIỆP TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN CÂY CÔNG NGHIỆP NGẮN

NGÀY, CÂY THỰC PHẨM Ở CÁC QUẬN, HUYỆN NGOẠI

THÀNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chủ nhiệm đề tài: TS ĐÀM NGUYỄN THÙY DƢƠNG

Cộng tác viên: PGS.TS PHẠM XUÂN HẬU

Th.s NGUYỄN VĂN LUYỆN

TPHCM, 2005

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TPHCM

ĐỀ TÀI CẤP BỘ

MÃ SỐ: B2001 - 23 -14

TÊN ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG - CÔNG

NGHIỆP TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN CÂY CÔNG NGHIỆP NGẮN

NGÀY, CÂY THỰC PHẨM Ở CÁC QUẬN, HUYỆN NGOẠI

THÀNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chủ nhiệm đề tài: TS ĐÀM NGUYỄN THÙY DƢƠNG

Cộng tác viên: PGS.TS PHẠM XUÂN HẬU

Th.s NGUYỄN VĂN LUYỆN

TPHCM, 2005

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ...................................................................................................

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU ...................................................................................................

DANH MỤC BẢN ĐỒ ................................................................................................................

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ...............................................................................................................

MỞ ĐẦU ................................................................................................................................... 1

1. Tính cấp thiết của đề tài ..................................................................................................... 1

2. Mục tiêu - Nhiệm vụ - Phạm vi nghiên cứu của đề tài ...................................................... 2

3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................................. 3

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................. 4

5. Cấu trúc của đề tài.............................................................................................................. 7

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ............................................................................................... 8

1.1. Một số khái niệm cơ bản ................................................................................................. 8

1.1.1. Tổ chức lãnh thổ ...................................................................................................... 8

1.1.2. Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ............................................................................... 12

1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ......................................... 14

1.3. Một số hình thức của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ..................................................... 17

1.3.1. Xí nghiệp nông nghiệp ........................................................................................... 17

1.3.1.1. Quan niệm ........................................................................................................... 17

1.3.2. Thể tổng hợp nông nghiệp ..................................................................................... 18

1.3.3. Vùng nông nghiệp .................................................................................................. 20

1.4. Liên kết nông - công nghiệp ......................................................................................... 22

1.4.1. Liên kết nông - công nghiệp là tất yếu và khách quan ........................................... 22

1.4.2. Cơ sở của việc liên kết nông - công nghiệp ........................................................... 27

1.5. Một vài nét về liên kết nông - công nghiệp ở Việt Nam ............................................... 35

1.5.1. Những tiền đề khách quan của sự ra đời liên kết nông - công nghiệp ở Việt Nam35

1.5.2. Liên kết nông nghiệp và công nghiệp là một trong những con đƣờng tất yếu để phát triển kinh tế ở nƣớc ta .............................................................................................. 36

1.5.3. Thực trạng về liên kết nông - công nghiệp và các hình thức kết hợp ở Việt Nam 38

CHƢƠNG 2: TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG - CÔNG NGHIỆP TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN CÂY CÔNG NGHIỆP NGẮN NGÀY, CÂY THỰC PHẨM TẠI CÁC QUẬN, HUYỆN NGOẠI THÀNH TPHCM ....................................................................................................... 40

2.1. Khái quát về Thành phố Hồ Chí Minh .......................................................................... 41

2.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc trồng và chế biến cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày tại TPHCM ......................................................................................................... 41

2.2.1. Vị trí địa lý ............................................................................................................. 41

2.2.2. Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên .................................................. 42

2.2.3. Các điều kiện kinh tế xã hội ................................................................................... 48

2.3. Liên kết nông - công nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm ở các quận, huyện ngoại thành TPHCM .................................................................... 59

2.3.1. Khái quát về sản xuất nông nghiệp tại TPHCM .................................................... 59

2.3.2. Thực trạng trồng và chế biến cây thực phẩm ở các quận, huyện ngọai thành TPHCM ............................................................................................................................ 64

2.4. Đánh giá, nhận xét về liên kết nông - công nghiệp trồng và chế biến CN ngắn ngày, cây thực phẩm ...................................................................................................................... 90

CHƢƠNG 3: ĐỊNH HƢỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ TRONG VÀ CHẾ BIẾN CÂY THỰC PHẨM, CÂY CÔNG NGHIỆP NGẮN NGÀY Ở CÁC QUẬN, HUYỆN NGOẠI THÀNH TPHCM ..................................................................................................................... 95

3.1. Cơ sở định hƣớng .......................................................................................................... 95

3.1.1. Định hƣởng chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội TPHCM đến năm 2010........... 95

3.1.2. Định hƣớng sử dụng đất đến năm 2010 ............................................................... 102

3.2. Định hƣớng cụ thể đối với các quận, huyện ngoại thành TP.HCM ............................ 109

3.2.1. Quan điểm phát triển sản xuất nông nghiệp ở TPHCM ....................................... 109

3.2.2. Định hƣớng sử dụng tài nguyên - nhân lực .......................................................... 111

3.2.3. Định hƣớng theo nghành ...................................................................................... 114

3.2.4. Định hƣớng theo lãnh thổ .................................................................................... 117

3.3. Các giải pháp cụ thể .................................................................................................... 118

3.3.1. Giải pháp về thị trƣờng tiêu thụ ........................................................................... 118

3.3.2. Giải pháp về vốn và tín dụng đầu tƣ .................................................................... 119

3.3.3. Giải pháp về xây dựng hệ thống tổ chức liên kết sản xuất .................................. 120

3.3.4. Giải pháp về thủy lợi ............................................................................................ 121

3.3.5. Giải pháp về khoa học - công nghệ ...................................................................... 122

3.3.6. Giải pháp về đất đai ............................................................................................. 123

3.3.7. Giải pháp phát triển cơ giới hóa ........................................................................... 123

3.3.8. Giải pháp về giống cây chất lƣợng cao ................................................................ 124

3.3.9. Định hình các vùng sản xuất tập trung................................................................. 124

KẾT LUẬN ............................................................................................................................ 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................................... 128

PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh

CN : Công nghiệp

NN : Nông nghiệp

HTX : Hợp tác xã

BVTV : Bảo vệ thực vật

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

VAC : Vƣờn ao chuồng

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu trung bình về khí hậu của TP. HCM .............................................. 44

Bảng 2.2 : Cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của ngƣời lao động phân theo thành phần

kinh tế....................................................................................................................................... 54

Bảng 2.3: Tình hình sử dụng đất của TPHCM năm 2000 ....................................................... 59

Bảng 2.4: Tình hình sử dụng đất NN của TPHCM giai đoạn 1995-2000 ............................... 60

Đơn vị tính: Ha ........................................................................................................................ 60

Bảng 2.5: Cơ cấu giá trị sản lƣợng ngành nông - lâm - ngƣ của TPHCM thời kỳ 1980 – 2001

.................................................................................................................................................. 63

Bảng 2.6: Diện tích cây thực phẩm qua các năm ..................................................................... 64

Bảng 2.7: Diện tích cây thực phẩm (rau, đậu) phân theo các quận huyện ............................... 66

Bảng 2.8: Sản lƣợng cây thực phẩm qua các năm ................................................................... 68

Bảng 2.9: Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày ..................................................................... 74

Bảng 2.10: sản lƣợng cây công nghiệp ngắn ngày .................................................................. 75

Bảng 2.11: Diện tích trồng mía phân theo quận, huyện ........................................................... 78

Bảng 2.12: Diện tích, năng suất, sản lƣợng lạc qua các năm ................................................... 80

Bảng 2.13: Diện tích trồng lạc phân theo các quận, huyện ...................................................... 82

Bảng 2.14: Diện tích, năng suất, sản lƣợng thuốc lá qua các năm .......................................... 84

Bảng 2.15: Diện tích trồng thuốc lá theo các quận, huyện ...................................................... 85

DANH MỤC BẢN ĐỒ

BẢN ĐỒ 1: HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .................................................. 40

BẢN ĐỒ 2: DÂN SỐ - NGUỒN LAO ĐỘNG TP. HỒ CHÍ MINH ...................................... 52

BẢN ĐỒ 3: CƠ CẤU DÂN SỐ HOẠT ĐỘNG THEO NGÀNH KINH TẾ .......................... 54

BẢN ĐỒ 4: DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT, SẢN LƢỢNG CÂY THỰC PHẨM TẠI TP. HỒ

CHÍ MINH ............................................................................................................................... 67

BẢN ĐỒ 5: DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT, SẢN LƢỢNG MÍA TẠI TP HỒ CHÍ MINH NĂM

2003.......................................................................................................................................... 78

BẢN ĐỒ 6: DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT, SẢN LƢỢNG LẠC TẠI TP HỒ CHÍ MINH NĂM

2003.......................................................................................................................................... 81

BẢN ĐỒ 7: DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT, SẢN LƢỢNG THUỐC LÁ TẠI TP HỒ CHÍ

MINH NĂM 2003.................................................................................................................... 83

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Dân số TP HCM qua các năm ............................................................................. 48

Biểu đồ 2.2: Gia tăng dân số tự nhiên giai đọan 1979 - 2004 .................................................. 50

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu sử dụng đất của TPHCM năm 2000 ........................................................ 59

Biểu đồ 2.4: Tình hình sử dụng đất NN của TPHCM thời kỳ 1995-2000 ............................... 61

Biểu đồ 2.5: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của TPHCM năm 2000 ................................... 61

Biểu đồ 2.6. Diện tích cây thực phẩm qua các năm thời kỳ 1995 - 2004 ................................ 65

Biểu đồ 2.7: Tỉ lệ diện tích rau sạch của TPHCM ................................................................... 70

Biểu đồ 2.8: Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày thời kỳ 1995 – 2004 ................................ 75

Biểu đồ 2.9: Diện tích và sản lƣợng mía thời kỳ 1995 – 2004. ............................................... 77

Biểu đồ 2.10: Diện tích và sản lƣợng lạc thời kỳ 1995 – 2004 ................................................ 80

Biểu đồ 2.11: Năng suất cây thuốc lá thời kỳ 1995 – 2004 ..................................................... 85

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nƣớc ta đang diễn ra mạnh mẽ. Quá trình

này đã tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, qui mô các thành phố lớn đang ngày càng mở

rộng diện tích, dân số tăng nhanh, nhu cầu cuộc sống ngày càng đa dạng về số lƣợng cũng

nhƣ chất lƣợng. Làm thế nào cung cấp đủ nhu cầu lƣơng thực, thực phẩm cho con ngƣời và

cung cấp đủ nguyên liệu cho các ngành công nghiệp đang ngày càng gia tăng mà vẫn đảm

bảo đƣợc chất lƣợng và không gây ô nhiễm môi trƣờng? Đây là một thách thức lớn đối với

nƣớc ta nói chung và đối với các địa phƣơng nói riêng.

Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị hành chính có qui mô dân số đông nhất Việt Nam.

Năm 2004 dân sốTPHCM là 6.062.993 ngƣời. TPHCM còn là trung tâm công nghệp lớn

nƣớc ta. Năm 2003 giá trị sản xuất công nghiệp của TPHCM chiếm 24% của cả nƣớc, 52%

của Đông Nam Bộ, gấp 5 lần tỉnh Bình Dƣơng, gấp 3,4 lần tỉnh Đồng Nai. Do đó nhu cầu về

các loại cây thực phẩm và công nghiệp ngắn ngày để đảm bảo cuộc sống hàng ngày của

ngƣời dân thành phố cũng nhƣ cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp của TPHCM là

rất lớn.

Cũng nhƣ các đô thị lớn trong cả nƣớc, diện tích đất nông nghiệp của TPHCM chủ

yếu tập trung ở các quận ven và các huyện ngoại thành. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa

diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây làm cho diện tích đất nông nghiệp suy giảm

nhƣng tiềm năng của các quận, huyện ngọai thành về sản xuất cây công nghiệp, cây thực

phẩm vẫn còn rất phong phú.

Việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ sản xuất kết hợp nông - công nghiệp là rất cần thiết

để đảm bảo sử dụng đất đai hợp lý, để đảm bảo khai thác tối đa tiềm năng của TPHCM và

đáp ứng nhu cầu đa dạng của ngƣời

1

dân thành phố không chỉ về số lƣợng mà cả về chất lƣợng của các loai cây công nghiệp, cây

thực phẩm. Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ

nông - công nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp, cây thực phẩm ở các quận, huyện

ngoai thành TPHCM".

2. Mục tiêu - Nhiệm vụ - Phạm vi nghiên cứu của đề tài

2.1. Mục tiêu của đề tài

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn, mục tiêu cơ bản của đề tài là nghiên cứu, đánh

giá hiện trạng sản xuất các loại cây công nghiệp, cây thực phẩm ở các quận, huyện ngoại

thành TPHCM; từ đó thiết lập lãnh thổ kết hợp nông - công nghiệp trồng và chế biến cây

công nghiệp, cây thực phẩm của thành phố nhằm khai thác tối đa các nguồn lực, tăng hiệu

quả sản xuất và đáp ứng nhu cầu.

2.2. Nhiệm vụ của đề tài

- Đúc kết các cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ nông -công nghiệp trồng

và chế biến nông sản trong bối cảnh CNH - HĐH của nƣớc ta.

- Phân tích, đánh giá các nguồn lực ảnh hƣởng đến sản xuất các loại cây công nghiệp,

cây thực phẩm ở các quận, huyện ngoại thành TPHCM.

- Tìm hiểu thực trạng của việc trồng và chế biến cây công nghiệp, cây thực phẩm ở

địa bàn nghiên cứu.

- Thiết lập hệ thống tổ chức lãnh thổ kết hợp nông - công nghiệp trồng và chế biến

cây công nghiệp, cây thực phẩm (vùng nguyên liệu, các cơ sở chế biến).

- Định hƣớng tổ chức lãnh thổ nông - công nghiệp một cách hợp lý giữa trồng và chế

biến cây công nghiệp, cây thực phẩm ở Thành phố Hồ Chí Minh .

2.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

2

- Về thời gian: Từ năm 1995 đến nay

- Về không gian: Các quận ven và huyện ngọai thành TPHCM (Cụ thể là các quận: 2,

7, 8, 9, 12, Gò vấp, Tân Bình, Bình Thạnh, Thủ Đức và các huyện: Bình Chánh, Củ Chi, Hóc

Môn, Nhà Bè, cần Giờ)

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông - công nghiệp trồng

và chế biến các lọai cây công nghiệp ngắn ngày (mía, lạc, thuốc lá) và cây thực phẩm (rau,

đậu).

3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến nông sản cũng nhƣ liên kết nông - công nghiệp đã

đƣợc nghiên cứu từ lâu và đi vào thực tiễn sản xuất của nhiều nƣớc trên thế giới. Ở Châu Âu

có mô hình đồn điền, trang trại, các công ty trồng và chế biến nông phẩm, v.v...

Ở Việt Nam, mô hình liên kết nông - công nghiệp đã đƣợc nghiên cứu cả về mặt lý

luận lẫn thực tiễn.

Về lý luận, PGS.TS Lê Thông với cuốn sách: "Tổ chức lãnh thổ sản xuất nông

nghiệp trên thế giới", NXB Giáo dục (1986) đề cập đến bản chất và nội dung của liên kết

nông - công nghiệp; TS. Ngô Doãn Vịnh, Nguyễn Văn Phú với tài liệu dành cho hệ đào tạo

Sau Đại học: "Tổ chức lãnh thổ kinh t ế - xã hội" đề cập đến phân vùng, kinh tế vùng và

phân bố lực lƣợng sản xuất; PGS.TS Đặng Văn Phan, TS. Nguyễn Kim Hồng với giáo trình:

"Tổ chức lãnh thổ" do trƣờng Đại học Sƣ phạm TPHCM xuất bản (2002) đề cập đến các

khái niệm, nội dung tổ chức lãnh thổ, tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Việt Nam.

Về thực tiễn, một số luận á n tiến sĩ đề cập đến nội dung này trong lĩnh vực trồng và

chế biến cao su (Ông Thị Đan Thanh - 1986); trồng và chế biến mía (Phạm Xuân Hậu -

1993); trồng và chế biến sắn (Trịnh Thanh Sơn - 2004).

3

Các đề tài nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo vô cùng quí giá và thật sự bổ

ích cho nhóm nghiên cứu chúng tôi khi thực hiện đề tài này, Tuy nhiên, về vấn đề nghiên cứu

hệ thống lãnh thổ kết hợp nông - công nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn ngày,

cây thực phẩm ở các quận, huyện ngoại thành TPHCM đến nay chƣa có công trình nào

nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống. Trong khi vấn đề này rất cần thiết đối với quá

trình đô thị hóa, quá trình CNH - HĐH nền kinh tế đất nƣớc, đặc biệt đối với thành phố lớn,

đông dân, nhiều chức năng quan trọng của vùng và cả nƣớc nhƣ TPHCM .

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp luận

Cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về phép biện chứng là kim chỉ nam trong

suốt quá trình nghiên cứu đề tài. Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các quan điểm truyền thống

cũng nhƣ quan điểm hiện đại trong nghiên cứu Địa lý học. Đó là:

4.1.1. Quan điểm hệ thống

Trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm ở TPHCM luôn biến

đổi do ảnh hƣởng bởi sự phát triển KT - XH của thành phố, của vùng và quốc gia cũng nhƣ

những chính sách của Đảng và Nhà nƣớc. Vì vậy, trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn

ngày, cây thực phẩm luôn chịu ảnh hƣởng bởi hệ thống KT - XH lớn hơn.

Hệ thống KT - XH TPHCM gồm các phân hệ nhỏ hơn và sự phát triển của nó phụ

thuộc rất lớn vào các điều kiện tự nhiên, các đặc điểm dân cƣ, xã hội, v.v... Do vậy, việc

nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông - công nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn

ngày, cây thực phẩm phải đƣợc xem xét nhƣ là các sự vật, hiện tƣợng trong một hệ thống

hoàn chỉnh và không thể tách rời sự phát triển KT - XH của TPHCM và cả nƣớc.

4

4.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Đây là quan điểm cơ bản của Địa lý học. Tức là phải nghiên cứu các đối tƣợng trên

một lãnh thổ để thấy sự khác biệt của lãnh thổ đó trên cơ sở đánh giá tổng hợp các nhân tố

ảnh hƣởng đến những nét khác biệt của vùng. Đề tài trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn

ngày, cây thực phẩm cần đƣợc đặt trong bối cảnh KT - XH của TPHCM có những nét đặc thù

về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, KT - XH, lịch sử phát triển, v.v...

để hình thành các khu vực trồng trọt năng suất cao, các khu vực chế biến hiện đại với nhiều

sản phẩm chất lƣợng cao, có giá trị.

4.1.3. Quan điểm lịch sử viễn cảnh

Vấn đề trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm đƣợc phân tích

theo chuỗi thời gian. Mỗi một giai đoạn mang một màu sắc, một đặc điểm riêng. Vận dụng

quan điểm lịch sử trong việc nghiến cứu tổ chức lãnh thổ nông - công nghiệp trồng và chế

biến cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm ở TPHCM nhằm đánh giá thực trạng của vấn

đề này trong từng giai đoạn nhất định. Trong đó đặc biệt quan tâm đến các thời điểm lịch sử

quan trọng, những biến đổi KT - XH đáng chú ý nhằm đánh giá, phân tích vấn đề một cách

biện chứng, khoa học.

4.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững

Trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm có tác động rất lớn làm

biến đổi môi trƣờng. Do vậy, quán triệt quan điểm sinh thái trong nghiên cứu nhằm mục đích

giảm thiểu những tổn hại đối với môi trƣờng sinh thái nhƣ suy thoái đất, ô nhiễm môi trƣờng,

cạn kiệt tài nguyên, v.v... Việc thiết lập hệ thống liên kết nông - công nghiệp trồng và chế

biến cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm cũng nhƣ việc đƣa ra các giải pháp cho vấn

đề này cũng phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững nhằm đảm bảo không

làm cạn kiệt tài nguyên và suy giảm môi trƣờng sinh thái của TPHCM.

5

4.2. Phương pháp nghiên cứu

4.2.1. Phương pháp thống kê

Các tài liệu thống kê đảm bảo giá trị pháp lý đƣợc triệt để khai thác phục vụ cho việc

nghiên cứu. Số liệu đƣợc thu thập, tổng hợp, xử lý trên cơ sở dữ liệu và kết quả thống kê KT

- XH của Cục Thống kê TPHCM, của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TPHCM, của

Sở Kế họach và Đầu tƣ cùng các cơ quan ban nghành quản lý khác của thành phố.

Đề tài cũng sử dụng các nguồn số liệu của các tổ chức, ban nghành, số liệu thống kê

về nông nghiệp, công nghiệp, dân cƣ, kinh tế của các vùng để so sánh, phân tích khi cần làm

sáng tỏ vị trí của TPHCM so với cả nƣớc hay các vùng lân cận.

4.2.2. Phương pháp điều tra thực địa

Để có đƣợc những số liệu bổ sung và những luận cứ đánh giá đúng nhân tố ảnh hƣởng

cũng nhƣ thực trạng trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm của

TPHCM, ngoài những số liệu thống kê thu thập đƣợc, nhóm nghiên cứu chúng tôi còn tiến

hành nghiên cứu thực địa, phỏng vấn nhân dân và các cán bộ lãnh đạo. Kết quả thu thập đƣợc

là cơ sở thẩm định lại những nhận định, đánh giá, dự báo trong quá trình nghiên cứu thực

hiện nhiệm vụ của đề tài

4.2.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Đây là phƣơng pháp đặc trƣng trong nghiên cứu Địa lý. Chúng tôi đã thiết lập bản đồ

phân bố các loai cây công nghiệp, thực phẩm theo lãnh thổ trên cơ sở dữ liệu thu thập đƣợc

và chồng xếp các bản đồ chuyên đề nhằm xác lập mối liên hệ giữa các đối tƣợng địa lý. Đồng

thời các mối liên hệ, các tác động còn đƣợc minh họa bằng nhiều biểu đồ, đồ thị.

4.2.4. Phương pháp dự báo

6

Phƣơng pháp mà chúng tôi sử dụng ở đây là phƣơng pháp ngoại suy. Phƣơng pháp

này dựa trên nghiên cứu lịch sử của đối tƣợng và sự chuyển động mang tính qui luật đã đƣợc

hình thành trong quá khứ và hiện tại để dự báo tƣơng lai bằng phƣơng pháp xử lý chuỗi thời

gian kinh tế.

4.2.5. Phương pháp hệ thống thông tin địa lý (GIS)

Hệ thống phần mềm thông tin Địa lý (GIS) đƣợc sử dụng phổ biến để lƣu trữ, phân

tích, xử lý các thông tin không gian lãnh thổ. Hệ GIS cho phép chồng xếp các thông tin địa lý

để thấy đƣợc nét đặc trƣng riêng cho đối tƣợng địa lý. Đề tài chủ yếu sử dụng phần mềm

MapInfo để tính toán, thiết kế, biên tập bản đồ, vẽ biểu đồ, đồ thị minh họa cho nội dung đề

tài.

5. Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết kuận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của

đề tài gồm có 3 chƣơng:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Tổ chức lãnh thổ nông - công nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp

ngắn này, cây thực phẩm tại các quận, huyện ngoại thành TPHCM

Chương 3: Định hƣớng tổ chức lãnh thổ nông - công nghiệp trồng và chế biến cây

công nghiệp ngắn này, cây thực phẩm tại các quận, huyện ngoại thành TPHCM

7

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1. Tổ chức lãnh thổ

Khi nói đến tổ chức không gian, không thể nói không gian hay lãnh thổ trừu tƣợng mà

lãnh thổ kinh tế - xã hội của một nƣớc, một vùng cụ thể và trong một hình thái xã hội nhất

định. Theo từ điển Bách khoa Địa lý tiếng Nga, (1968), trang 378: "Lãnh thổ là một bộ phận

của bề mặt đất thuộc quyền sở hữu của một quốc gia nhất định. Lãnh thổ bao gồm đất liền và

lãnh hải giới hạn của lãnh thổ là đường biên giới quốc gia".

Tổ chức không gian kinh tế - xã hội có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Có thể chia

thành 2 nhóm sau:

1.1.1.1. Quan điểm của các nhà Địa lý Xô Viết

Sách của E.B.Alaev "Địa lý kinh tế - xã hội", (1983), đã đƣa ra nhận thức chung của

các nhà địa lý Liên Xô về định nghĩa tổ chức lãnh thổ: "Khái niệm tổ chức lãnh thổ xã hội

trong nghĩa rộng của từ này bao gồm các vấn đề liên quan đến phân công lao động theo lãnh

thổ, phân bố các lực lượng sản xuất, các sự khác biệt về vùng trong quan hệ sản xuất, mối

quan hệ tương hỗ giữa xã hội và thiên nhiên, cũng như các vấn đề chính sách vùng về kinh tế

- xã hội. Ở một nghĩa hẹp hơn, nó bao gồm các phạm trù như tổ chức lãnh thổ - hành chính

của Nhà nước, quản lý vùng về sản xuất, sự hình thành các thành tạo lãnh thổ về tổ chức -

kinh tế, sự xác định các khách thể vùng của quản lý, sự phân vùng về kinh tế- xã hội..."

Có thể đƣa ra định nghĩa ngắn gọn nhƣ sau: Tổ chức lãnh thổ xã hội là sự kết hợp các

cơ cấu lãnh thổ đang hoạt động (bố trí sắp xếp dân cƣ, sản xuất, sử dụng tài nguyên thiên

nhiên), đƣợc liên kết lại bởi các cơ cấu quản

8

lý với mục đích tái sản xuất cuộc sống của xã hội phù hợp với các mục đích và trên cơ sở các

quy luật kinh tế hiện hành trong hình thái xã hội đó".

Từ cách hiểu trên, bản chất của tổ chức không gian kinh tế - xã hội có hai tính chất cơ

bản. Đó là tính tổ chức và tính lãnh thổ - hệ thống lãnh thổ.

Về tính tổ chức: Tổ chức là tính đƣợc sắp xếp, tính phù hợp bên trong của tác động

qua lại giữa các bộ phận ít nhiều đƣợc phân công hóa và độc lập của chỉnh thể cho cấu tạo

của nó quy định. Tổ chức của hệ thống đƣợc thể hiện ở sự giới hạn tính đa dạng trong hoạt

động và tính hoàn chỉnh. Tổ chức của hệ thống có hai mặt là tính sắp xếp và tính định hƣớng.

Tính sắp xếp đƣợc xác định về lƣợng nhƣ độ lớn, quy mô của nó. Tính định hƣớng đặc trƣng

là sự phù hợp của hệ thống với các điều kiện của môi trƣờng xung quanh.

Về tính lãnh thổ - hệ thống lãnh thổ: Tính lãnh thổ của đối tƣợng là độ dài không

gian, nghĩa là có phạm vi ranh giới, kích thƣớc, là nét tạo hình đặc biệt của đối tƣợng, là

những đặc điểm không gian của bức tranh phân bố các đối tƣợng trong một phạm vi nhất

định. Trong bất cứ một lãnh thổ nào về một trình độ sản xuất nhất định, một tổng thể tự nhiên

nhất định, một kết cấu tài nguyên nhất định sẽ có một cơ cấu kinh tế tƣơng ứng. Việc sử dụng

các điều kiện tự nhiên kinh tế, lịch sử, vị trí địa lý khác nhau, là cơ sở của sự tác động qua lại

các thành phần đó.

Nhƣ vậy với mỗi lãnh thổ có một lịch sử hình thành nhất định, hay nói rõ hơn không

gian kinh tế - xã hội có phạm vi của mình, trong đó chứa đựng các thành phần con ngƣời - tự

nhiên và sản xuất. Mỗi thành phần đó bao hàm các yếu tố cấu thành không đứng riêng lẻ, cô

lập nhau và chúng có vai trò nhất định tác động qua lại quan hệ theo các kiểu khác nhau.

Dƣới góc độ lý thuyết hệ thống, hệ thống lãnh thổ bao gồm các hệ thống sản xuất, hệ

thống tự nhiên, hệ thống dân cƣ. Trong đó, hệ thống sản xuất đóng vai trò quan trọng nhất

phức tạp nhất. Theo N.F.Feđorencô (Liên Xô cũ) tính chất phức tạp của kinh tế đƣợc quyết

định không chỉ bởi vô số

9

các thành phần hợp thành của hệ thống kinh tế và những mối liên hệ giữa chúng với nhau mà

còn bởi các đặc điểm về chất của những hiện tƣợng và quá trình kinh tế.

Một điều nữa là mỗi không gian lãnh thổ có sự khác biệt theo cấp bậc, phân hóa, phân

dị khác nhau sản xuất, tự nhiên, dân cƣ.

Việc nghiên cứu tổ chức không gian kinh tế - xã hội theo các vùng, tỉnh bao gồm:

Nghiên cứu các hình thức hiện đại của phân bố sản xuất. Nghĩa là không phải nghiên cứu

phân bố ngành riêng lẻ mà nghiên cứu phân bố theo nhóm ngành. Những hình thức biểu hiện

của phân bố theo nhóm ngành có thể là các loại hình nhƣ:

- Thể tổng hợp công nghiệp.

- Liên hiệp các xí nghiệp công nghiệp.

- Trung tâm công nghiệp.

- Thể tổng hợp nông công nghiệp.

1.1.1.2. Quan điểm của các nhà Địa lý Phương Tây

Ở các nƣớc đã sớm đi vào kinh tế thị trƣờng, từ thế kỷ XIX tổ chức lãnh thổ đã trở

thành khoa học quản lý. Tổ chức lãnh thổ đƣợc hiểu là: ''Nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một

cách đúng đắn và có hiệu quả'''' (Jean Paul De Gaudemar, 1992). Nhiệm vụ của nó là tìm

kiếm một tỷ lệ và quan hệ hợp lý về phát triển kinh tế - xã hội giữa các ngành trong một

vùng, giữa các vùng trong một quốc gia và trên mức độ nhất định có xét đến mối liên kết giữa

các quốc gia với nhau; tạo ra một giá trị mới nhờ có sự sắp xếp có trật tự và hài hòa giữa các

đơn vị lãnh thổ khác nhau trong cùng một tỉnh, một vùng và cả nƣớc, trong những điều kiện

kinh tế thị trƣờng và hệ thống kinh tế mở. Nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lực và lợi thế so

sánh (điều kiện tự nhiên và tài nguyên, nguồn nhân lực, nguồn vốn...), trong xu thế hòa nhập

và cạnh tranh để đẩy nhanh tăng trƣởng kinh tế, giải quyết các

10

vấn đề xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững.

Tổ chức lãnh thổ là "sự tìm kiếm trong khung cảnh địa lý quốc gia, sự phân bố tốt

nhất vùng và các hoạt động tùy thuộc vào các tài nguyên tự nhiên".

Tổ chức lãnh thổ là một chính sách kinh tế dài hạn nhằm cải thiện môi trƣờng trong

đó diễn ra cuộc sống và các hoạt động của con ngƣời.

- Tổ chức lãnh thổ là một hành động của địa lý học có chủ ý hƣớng tới một sự công

bằng về mặt không gian giữa trung tâm và ngoại vi, giữa các cực, và các không gian ảnh

hƣởng, nhằm giải quyết ổn định công ăn việc làm, cân đối giữa quần cƣ nông thôn và quần cƣ

thành thị, bảo vệ môi trƣờng sống.

- Các nút, các cực là: thành phố, thị trấn, làng xóm là những điểm trồi, những nơi tập

trung dân cƣ, các cơ sở công nghiệp chế biến, cơ sở dịch vụ - kỹ thuật. Đó là các trung tâm

dân cƣ kinh tế, đặc trƣng bởi độ "đông đặc" hay mật độ dân số, mật độ xây dựng tƣơng đối

cao.

- Với cách nhìn của tổ chức lãnh thổ thì lãnh thổ là một hệ thống trong đó có các cực,

dải và không gian bề mặt, 3 yếu tố này có quan hệ, có sức hút, lan tỏa và ảnh hƣởng lẫn nhau.

- Sự khác nhau giữa các nút: thƣờng thì các nút (cực) đa chức năng hay khác nhau về

số lƣợng các chức năng, thang bậc các trình độ cao hay thấp, tính phức tạp nhiều hay ít, ý

nghĩa lớn hay nhỏ, phạm vi ảnh hƣởng rộng hay hẹp. Các mốc cũng khác nhau về tiềm năng

phát triển.

- Giữa các trung tâm, các nút có những liên hệ chức năng: chúng trao đổi hoạt động,

biểu hiện qua các dòng ngƣời, dòng sản phẩm, dòng dịch vụ, dòng tiền tệ và dòng thông tin.

Các nút, các dải nằm trong một mạng lƣới, mà các chỗ hổng đƣợc lấp đầy, bằng

những bề mặt, với tất cả hoạt động diễn ra ở đó, trong một hệ thống các quan hệ chức năng có

thang bậc, tạo thành một hệ thống tổ chức

11

không gian.

Cơ cấu hay cấu trúc không gian: là hình thức phân bố trật tự sắp đặt trong không gian

các nút, dải, bề mặt, cùng với những tập đoàn ngƣời và những hoạt động ở đó, liên hệ ảnh

hƣởng lẫn nhau. Đó là bộ khung cơ bản tổ chức không gian, mà mạng lƣới, nút dải là bộ

xƣơng sống.

1.1.2. Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp

Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp là một hình thức của việc tổ chức nền sản xuất xã hội

theo lãnh thổ.

Một trong những chuyên gia Xô viết hàng đầu nghiên cứu và tổ chức lãnh thổ nông

nghiệp là giáo sƣ tiến sĩ địa lý K.I.Ivanov. Trong luận án tiến sĩ với đề tài: "Tổ chức lãnh thổ

sản xuất các sản phẩm nông nghiệp và việc tính toán điều kiện của địa phương'' (1967), ông

đã phát triển tƣ tƣởng của N.N.Kôlôxôvaki về các thể tổng hợp lãnh thổ sản xuất và đƣa nó

vào lĩnh vực nông nghiệp. Về phƣơng diện lý thuyết, K.I.Ivanov xây dựng cơ sở cho phƣơng

pháp dòng (băng chuyền) trong việc tổ chức sản xuất của nhiều phân ngành nông nghiệp.

Nhiều tƣ tƣởng và quan niệm mới của ông đã đƣợc ứng dụng trong lĩnh vực lập mô hình các

hệ thống lãnh thổ.

Lần đầu tiên, giáo trình chuyên ngành "Tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp" đƣợc

giảng dạy tại trƣờng tổng hợp quốc gia Matxcơva vào năm học 1967 - 1968 và đƣợc xuất bản

năm 1974 sau khi ông mất (1972).

Ngoài công trình quan trọng nói trên, K.I.Ivanov còn hàng loạt các công trình khác

liên quan tới việc tổ chức lãnh thổ nông nghiệp nhƣ "Tiến bộ khoa học kỹ thuật và các hình

thức mới về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp gắn liền với sự tiến bộ này" (1969); "Một số vấn đề

về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận hệ thống trong việc nghiên cứu tổ chức lãnh

thổ nông nghiệp" (1971). "Hệ thống lãnh thổ sản xuất nông nghiệp" (1971) v.v...

12

Qua các công trình của K.I.Ivanov, của VG.Kriutokov (1978) và một số tác giả khác

có thể quan niệm về vấn đề này nhƣ sau : "Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được hiểu là một hệ

thống liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên

cơ sở các qui trình kỹ thuật mới nhất, chuyên môn, tập trung hóa, liên hợp hóa và hợp tác

hóa sản xuất cho phép sử dụng có hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về các điều kiện

tự nhiên, kinh tế, nguồn lao động và đảm bảo năng suất lao động xã hội cao nhất".

Thông qua định nghĩa này, có thể thấy rõ sự nổi bật của một số điểm dƣới đây:

- Phân công lao động theo lãnh thổ cùng với việc kết hợp giữa tự nhiên, kinh tế,

nguồn lao động là cơ sở để hình thành các mối liên hệ qua lại theo không gian (lãnh thổ).

- Khía cạnh ngành và khía cạnh lãnh thổ nguyện chặt với nhau trong tổ chức lãnh thổ

nông nghiệp.

- Các đặc điểm không gian của sản xuất phần nhiều bắt nguồn từ tính chất của việc

khai thác và sử dụng các điều kiện sản xuất hiện có.

- Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn hàng đầu trong việc tổ chức lãnh thổ nông nghiệp

Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp không phải là bất biến. Nói cách khác, hình thái kinh tế

xã hội nào thì có kiểu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tƣơng ứng nhƣ thế. Hơn nữa, không thể

phân tích tổ chức lãnh thổ nông nghiệp nếu nhƣ thiếu sự đánh giá trình độ phát triển và

những đặc điểm cấu trúc của nó. Tất cả các thông số này là một khâu không thể tách rời đƣợc

của cùng một quá trình nghiên cứu.

Trình độ phát triển nông nghiệp xác định quy mô và hiệu quả của sản xuất cần đạt

đƣợc trong thời điểm nào đấy. Việc nghiên cứu các chỉ

13

tiêu (định tính, định lƣợng) đặc trƣng cho hiện trạng nông nghiệp mở ra những khả năng to

lớn cho việc khái quát hóa tổ chức lãnh thổ nông nghiệp. Vấn đề là ở chỗ khối lƣợng và hiệu

quả của sản xuất phụ thuộc nhiều vào độ lớn và thành phần các nguồn tài nguyên thiên nhiên,

vật chất, lao động và vào việc sử dụng chúng một cách hợp lý nhất.

Những dấu hiệu cấu trúc phản ánh sự cân đối và các mối liên hệ bên trong của

ngành nông nghiệp. Trong tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, nó có ý nghĩa rất quan trọng. Về

mặt cấu trúc, có thể ví nông nghiệp nhƣ một tòa nhà đồ sộ. Các cấu kiện theo chiều thẳng

đứng của tòa nhà giống nhƣ các mối liên hệ nội ngành hoặc giữa các phân ngành giống nhau;

còn cấu kiện theo chiều ngang giống nhƣ các mối liến hệ hình thành giữa các phân ngành

khác nhau.

Việc đề cập tới khái niệm tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tất yếu nảy sinh vấn đề mối

quan hệ giữa các ngành và các kết hợp lãnh thổ sản xuất, bởi vì đó là vấn đề mang tính chất

nguyên tắc.

Mỗi một ngành đều có sự thống nhất về mặt kỹ thuật sản xuất. Đó là tập hợp của các

xí nghiệp giống nhau về giá trị của sản phẩm sản xuất ra, về các yếu tố phân bố và về các dấu

hiệu khác. Tuy nhiên, các xí nghiệp cũng có thể tách rời nhau về mặt lãnh thổ. Đồng thời, các

xí nghiệp thuộc các ngành khác nhƣ nằm trên cùng một lãnh thổ lại tạo nên các kết hợp sản

xuất lãnh thổ.

Trong điều kiện hiện nay, vấn đề tổ chức lãnh thổ nông nghiệp gắn liền mật thiết với

cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, một cuộc cách mạng đang phát triển mạnh mẽ và trở

thành lực lƣợng sản xuất trực tiếp. Nhờ thành tựu của cuộc cách mạng này, nhiều hình thức tổ

chức lãnh thổ nông nghiệp đã và đang xuất hiện và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp

14

Việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa to lớn không chỉ về

mặt lý luận, mà còn cả về mặt thực tiễn.

Việc xem xét tổ chức lãnh thổ nông nghiệp nói chung và việc vạch ra các hình thức tổ

chức của nó theo lãnh thổ nói riêng trƣớc hết tạo ra những tiền đề cần thiết nhằm sử dụng hợp

lý các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của cả nƣớc cũng nhƣ của từng địa phƣơng.

Trên thực tế, nhiều hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ

với nhau. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội đã hình thành các hình thức mới về

tổ chức lãnh thổ nông nghiệp. Việc nhận thức chúng một cách đúng đắn là chiếc chìa khóa để

sử dụng hợp lý hơn các điều kiện hiện có của đất nƣớc.

Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nhiều hơn các ngành sản xuất

khác. Hoạt động nông nghiệp bao trùm phạm vi lãnh thổ rộng lớn với các điều kiện tự nhiên

rất khác nhau. Trong chừng mực nhất định, các điều kiện tự nhiên nào đó có thể thuận lợi

hoặc không thuận lợi cho sự phát triển từng loại vật nuôi, cây trồng. Do vậy, khi vạch ra các

hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, cần nghiên cứu kỹ các điều kiện tự nhiên, tiến hành

đánh giá chung về phƣơng diện sinh thái. Điều đó nghĩa là cây trồng, vật nuôi phải đƣợc phân

bố ở những nơi có điều kiện thích hợp nhất. Vì thế, việc phân bố vật nuôi, cây trồng cần đƣợc

tiến hành trên cơ sở vạch ra các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp.

• Việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tạo nên những điều kiện nhằm

đẩy mạnh và làm sâu sắc chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp.

Quá trình chuyên môn hóa trong nông nghiệp tạo nên những điều kiện nhằm đẩy

mạnh và làm sâu sắc chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp.

Quá trình chuyên môn hóa trong nông nghiệp có tính chất đặc biệt. Đó là hiện tƣợng

khách quan gắn liền với sự phát triển và hoàn thiện nền

15

sản xuất xã hội. Đồng thời, chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp dựa vào sự tác động của

các qui luật kinh tế khách quan trong các hình thái kinh tế, xã hội khác nhau, liên quan mật

thiết nhất với trình độ phát triển của sức sản xuất và quan hệ sản xuất của một quốc gia.

Chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp là một trong những biểu hiện của phân công

lao động xã hội. Trong khi chuyên môn hóa những nông phẩm nào đấy, một lãnh thổ giữ một

địa vị nhất định trong sự phân công lao động xã hội. Địa vị này đƣợc xác định chủ yếu bởi

sản phẩm hàng hóa sản xuất ra để thỏa mãn nhu cầu của xã hội. Dƣới ảnh hƣởng của quá

trình này, từng bộ phận lãnh thổ trong nƣớc đều chuyên môn hóa những nông phẩm nhất

định. Từ đó, quá trình chuyên môn hóa ngày càng tiếp tục đƣợc đẩy mạnh và trở nên sâu sắc

trên phạm vi toàn quốc.

• Việc hoàn thiện các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp còn tạo ra cả những

điều kiện nhằm nâng cao năng suất lao động.

Việc nâng cao năng suất lao động là kết quả của hàng loạt các yếu tố gắn liền với sự

thay đổi của ba thành phần thuộc quá trình lao động: phƣơng tiện lao động, đối tƣợng lao

động và lực lƣợng lao động. Một trong những con đƣờng nâng cao năng suất lao động sử

dụng tối ƣu nguồn lao động tăng số lƣợng nông phẩm trên một đơn vị diện tích với chi phí ít

nhất trên một đơn vị sản phẩm là việc xác định một cách khoa học các hình thức tổ chức lãnh

thổ nông nghiệp.

• Việc nghiên cứu các hình thức tổ chức nông nghiệp theo lãnh thổ góp phần vào

công tác lập kế hoạch theo lãnh thổ.

Trong hoàn cảnh hiện nay, việc lập kế hoạch phải linh hoạt. Tránh sự cứng nhắc, áp

đặt. Thực chất đây là việc xác định một cách có căn cứ khoa học những mối quan hệ cần thiết

giữa các ngành trong nền sản xuất xã hội, là việc đảm bảo sự cân đối giữa các yếu tố sản xuất

(đất đai, máy móc,

16

sức lao động...) và đƣa ra hệ thống các giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra trong

điều kiện nền kinh tế thị trƣờng.

Trên cơ sở các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, từng đơn vị sản xuất tiến hành

xây dựng kế hoạch sao cho phù hợp với các điều kiện cụ thể của mình, đồng thời thỏa mãn sự

cân đối nhất định giữa các ngành, giữa các yếu tố của sản xuất, giữa tích lũy và tiêu dùng.

• Việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp gắn liền với việc giải quyết có hiệu

quả vấn đề phân bổ lực lượng sản xuất theo lãnh thổ trong cả nước nói chung và trong

từng vùng nói riêng.

1.3. Một số hình thức của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp

Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp có nhiều hình thái từ thấp đến cao, từ đơn giản đến

phức tạp. Trong phạm vi phần này, đề tài chỉ đƣa ra một vài hình thức tổ chức lãnh thổ nông

nghiệp quan trọng nhất

1.3.1. Xí nghiệp nông nghiệp

1.3.1.1. Quan niệm

Xí nghiệp nông nghiệp là một trong nhiều hình thức của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp

trong đó có sự thống nhất giữa lực lƣợng lao động với công cụ và đối tƣợng lao động để sản

xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Mỗi xí nghiệp đều có tính độc lập về pháp lý và có thể có

quan hệ với các xí nghiệp khác.

1.3.1.2. Hình thức biểu hiện

Ở các nƣớc Xã hội chủ nghĩa, các nông trang, nông trƣờng quốc doanh, tập thể, các

hợp tác xã nông nghiệp đƣợc coi là xí nghiệp nông nghiệp.

Ở các nƣớc phƣơng Tây có nhiều hình thức liên quan đến xí nghiệp nông nghiệp. Phổ

biến hơn cả là các nông trại và các đồn điền. Hình thức nông trại thƣờng thây ở Tây Âu và

Bắc Mỹ với quy mô khác nhau: từ vài ha đến hàng trăm ha. Trong khi đó, hình thức đồn điền

tƣơng đối phổ biến ở

17

các nƣớc thuộc địa cũ thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Sản phẩm của các điền thƣờng

là các loại cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê, ca cao, chè), cây công nghiệp hàng năm,

cây thực phẩm và chủ yếu để xuất khẩu.

1.3.2. Thể tổng hợp nông nghiệp

1.3.2.1. Quan niệm

Thể tổng hợp nông nghiệp đƣợc xem nhƣ một hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp

bắt nguồn từ học thuyết của nhà địa lý Xô Viết N.N.Kôlôxôvaki. Trong các công trình của

mình, ông đã đƣa ra học thuyết chu trình sản xuất động lực với 8 chu trình (hay tập hợp các

chu trình sau đó I.U.G.Xauskin và nhiều nhà khoa học khác đã phát triển tƣ tƣởng này và

chia thành 19 chu trình, trong đó tập hợp chu trình nông công nghiệp đƣợc tách ra thành các

chu trình: trồng trọt, cải tạo đất, chăn nuôi trâu bò, chăn nuôi công nghiệp, chu trình đồn điền

và chu trình sinh nhiệt.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, những thành tựu khoa học kỹ thuật đã tạo nên tiền đề

quan trọng làm thay đổi tận gốc bản thân quá trình sản xuất các sản phẩm nông nghiệp.

Phƣơng pháp công nghiệp ngày càng đƣợc áp dụng rộng rãi trong nông nghiệp. Nhiều phân

ngành mới đã và đang xuất hiện với phƣơng pháp tổ chức quy trình sản xuất theo lối công

nghiệp, có mối liên hệ gián tiếp với đất đai. Ngoài ra, các mối liên hệ sản xuất kỹ thuật trƣớc

đây chỉ hạn chế trong phạm vi một xí nghiệp thì ngày nay đã bị phá vỡ. Tất cả những điều đó

cùng với sự phát triển của giao thông vận tải đã mở ra triển vọng to lớn cho việc hình thành

các thể tổng hợp nông nghiệp.

Vậy thế nào là thể tổng hợp nông nghiệp ?

Theo quan niệm của I.F.Mukômel, đó là sự kết hợp (hợp nhất) theo lãnh thổ các xí

nghiệp giống nhau về tính chất của cùng một kiểu, tất nhiên, quan niệm này không thể hiện

đƣợc các mối liên hệ kỹ thuật sản

18

xuất giữa các xí nghiệp. Trong chừng mực nhất định, nó có thể phản ảnh đƣợc tổ chức sản

xuất của nền nông nghiệp trong quá khứ, một phần thời hiện tại nhƣng rõ ràng không thể

chấp nhận đƣợc trong tƣơng lai.

K.I.Ivanôv đƣa ra một quan niệm đầy đủ hơn. Theo ông thể tổng hợp nông nghiệp

nhƣ là sự phối hợp của các xí nghiệp nông nghiệp, có mối quan hệ qua lại và liến kết với

nhau về mặt lãnh thổ cũng nhƣ của các xí nghiệp nông nghiệp và các xí nghiệp công nghiệp

cho phép trên cơ sở các qui trình kỹ thuật mới nhất sử dụng đầy đủ nhất điều kiện tự nhiên,

trong lịch sử để đạt năng suất lao động xã hội cao nhất.

Mặc dù quan niệm về các thể tổng hợp nông nghiệp rất đa dạng, nhƣng có thể nổi lên

những điểm quan trọng dƣới đây :

+ Các yếu tố quyết định diện mạo của thể tổng hợp nông nghiệp gồm có vị trí địa lí,

điều kiện tự nhiên kinh tế, chuyên môn hóa theo giai đoạn của các xí nghiệp nông nghiệp, các

mối liên hệ thuận chiều và ngƣợc chiều của các xí nghiệp nông nghiệp với các xí nghiệp chế

biến nông sản.

+ Các xí nghiệp nông nghiệp có xu hƣớng phân bố liền nhau về lãnh thổ mang lại

hiệu quả kinh tế cao.

+ Cơ sở cấu trúc của các thể tổng hợp nông nghiệp là của xí nghiệp công nghiệp và

các xí nghiệp công nghiệp chế biến.

1.3.2.2. Hình thức biểu hiện

Cơ sở để phân loại dựa vào những sản phẩm hàng hóa mà việc sản xuất những sản

phẩm này do các điều kiện tự nhiên, kinh tế quyết định và liên quan với việc lựa chọn các

quy trình kỹ thuật hợp lý để đảm bảo hiệu quả kinh tế cao. Toàn bộ hệ thống các xí nghiệp

nông nghiệp, các xí nghiệp công nghiệp liên quan với nhau và liền nhau về lãnh thổ đƣợc

hình thành xung quanh, các sản phẩm hàng hóa chính và các quy trình kỹ thuật để sản xuất ra

các sản phẩm ấy.

19

Xuất phát từ những điểm trên, ngƣời ta chia thành hai nhóm thể tổng hợp nông

nghiệp:

+ Các thể tổng hợp mà những sản phẩm hàng hóa đƣợc sản xuất ra trƣớc hết do các

điều kiện tự nhiên phân bố mang tính chất quyết định.

+ Các thể tổng hợp nông nghiệp ngoại thành. Đặc trƣng cho các thể tổng hợp này là ở

chỗ sản phẩm hàng hóa chủ yếu của chúng do nhu cầu thực phẩm của dân cƣ thành phố chi

phối. Các thể tổng hợp nông nghiệp ngoại thành hình thành chủ yếu ở xung quanh các thành

phố, trung tâm công nghiệp. Ở đây, các yếu tố kinh tế (nhu cầu) đóng vai trò chủ đạo, còn các

yếu tố tự nhiên tuy cũng đƣợc lƣu ý nhƣng chỉ giữ vị trí thứ yếu. Quy mô (diện tích, sản

phẩm) của các thể tổng hợp có thể rất khác nhau tùy thuộc vào quy mô số dân của thành phố.

Có thể nói thể tổng hợp nông nghiệp là một trong những hình thức tổ chức sản xuất

theo lãnh thổ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đồng thời, đây còn là bộ khung để tạo nên các

vùng nông nghiệp.

1.3.3. Vùng nông nghiệp

1.3.3.1. Quan niệm

Quan niệm về vùng nông nghiệp không phải là giống nhau. Một số ngƣời cho rằng sự

phân chia lãnh thổ thành những vùng dựa vào các dấu hiệu về tự nhiên có thể thay thế cho

phân vùng nông nghiệp. Các điều kiện tự nhiên có vai trò hết sức quan trọng đối với nông

nghiệp, song điều đó không có nghĩa là các điều kiện sản xuất của nông nghiệp đã ổn định.

Vì thế, quan niệm trên không hoàn toàn chính xác.

Một số ngƣời khác quan niệm phân vùng nông nghiệp nhƣ là phân vùng tự nhiên phục

vụ mục đích nông nghiệp. Sự phân chia đất nƣớc thành những bộ phận đồng nhất về tự nhiên

để phục vụ nông nghiệp là điều cần thiết, song đó không phải là phân vùng nông nghiệp hay

phân vùng tự

20

nhiên. Nhiệm vụ cần phân vùng tự nhiên phục vụ mục đích nông nghiệp là phát hiện các tổng

thể tự nhiên và đánh giá chúng theo yêu cầu của sản xuất nông nghiệp. Trong khi đó, nhiệm

vụ của phân vùng nông nghiệp là phát hiện ra các thể tổng hợp sản xuất lãnh thổ đã có hoặc

đang hình thành, đánh giá mức độ hợp lý của chúng và đƣa ra những định hƣớng sản xuất.

1.3.3.2. Hình thức biểu hiện

Vùng nông nghiệp đƣợc coi là một trong những hình thức tổ chức lãnh thổ nông

nghiệp. Thực chất, đó là những lãnh thổ sản xuất nông nghiệp tƣơng đối đồng nhất về các

điều kiện tự nhiên, kinh tế đƣợc phân chia với mục đích phân bố hợp lý và chuyên môn hóa

đúng đắn sản xuất nông nghiệp trên cơ sở sử dụng đầy đủ và có hiệu quả nhất các điều kiện

sản xuất của các vùng trong cả nƣớc cũng nhƣ trong nội bộ từng vùng.

Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp có liên quan mật thiết với nhau, nhƣng

không thể thay thế cho nhau đƣợc.

Trƣớc hết là mối quan hệ giữa vùng nông nghiệp với kiểu xí nghiệp nông nghiệp. Mặc

dù một lãnh thổ đƣợc coi nhƣ một vùng nông nghiệp đồng nhất về các điều kiện tự nhiên,

kinh tế xã hội, song điều đó không có nghĩa là các điều kiện này không tác động đến sản xuất

nông nghiệp hoàn toàn giống hệt nhau ở mọi nơi. Trên thực tế, cơ cấu sản xuất của các xí

nghiệp nông nghiệp đƣợc phân bố trong các vùng có điều kiện tự nhiên giống nhau có thể rất

khác nhau.

Với cách hiểu nhƣ vậy, vùng nông nghiệp là sự biểu hiện tổng hợp của các hình thức

sản xuất nông nghiệp khác nhau và đƣợc coi nhƣ một lãnh thổ có sự lập lại của các kiểu sản

xuất tƣơng đối giống nhau hoặc của các kiểu sản xuất khác nhau nhƣng liên quan mật thiết

với nhau.

Ở một số vùng, ngoài các kiểu sản xuất đặc trƣng còn có cả một vài xí nghiệp khác

không tiêu biểu cho vùng. Từ đó, có thể hiểu vùng nông nghiệp là một bộ phận lãnh thổ của

đất nƣớc có sự lập đi lập lại một cách

21

có quy luật sự kết hợp của các kiểu xí nghiệp nông nghiệp, trong đó đa số kiểu xí nghiệp đặc

trƣng cho vùng, còn một vài kiểu khác không thể hiện bộ mặt của vùng. Để tính toán đầy đủ

sự khác nhau về phƣơng diện lãnh thổ, cần tiến hành phân loại các kiểu xí nghiệp nông

nghiệp lẫn phân vùng nông nghiệp, bởi vì phân kiểu các xí nghiệp nông nghiệp không thể

thay thế cũng nhƣ không làm giảm ý nghĩa của phân vùng nông nghiệp và ngƣợc lại.

Mối quan hệ giữa phân vùng nông nghiệp với việc nghiên cứu các thể tổng hợp nông

nghiệp cũng tƣơng tự nhƣ thế. Việc nghiên cứu các thể tổng hợp nông nghiệp và phân vùng

nông nghiệp là hai phần có mối liên hệ qua lại và bổ sung cho nhau của phƣơng pháp nghiên

cứu nông nghiệp.

1.4. Liên kết nông - công nghiệp

Ngày nay, sản xuất nông nghiệp đang hƣớng tới nền sản xuất hàng hóa với sự tham

gia của nhiều ngành, không phải chỉ trong một vùng, một quốc gia mà thậm chí có qui mô

quốc tế. Liên kết sản xuất giữa nông nghiệp với công nghiệp (trƣớc hết là với công nghiệp

chế biến các sản phẩm nông nghiệp) là xu hƣớng phát triển tất yếu của nền nông nghiệp thế

giới.

1.4.1. Liên kết nông - công nghiệp là tất yếu và khách quan

Bất cứ một hoạt động sản xuất nào cũng đều hƣớng tới kết quả cuối cùng. Các sản

phẩm nông nghiệp có giá thành sản xuất thấp đƣợc sản xuất hàng loạt theo kiểu công nghiệp

với chất lƣợng cao phù hợp với ngƣời tiêu dùng vẫn là mục đích chính của ngành sản xuất

nông nghiệp. Muốn đạt điều đó nông nghiệp phải "bắt chƣớc" lối sản xuất công nghiệp, phải

liên kết với sản xuất công nghiệp và mở rộng qui mô sản xuất. Nền sản xuất hiện đại ngày

nay hoàn toàn có khả năng cho phép sản xuất nông nghiệp làm đƣợc điều đó.

1.4.1.1. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ đã biến

22

nông nghiệp từ một ngành sản xuất cổ truyền chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thành một ngành

sản xuất tiên tiến, dạng sản xuất kiểu công nghiệp

Không một ngành sản xuất nào trong giai đoạn hiện nay lại không chịu ảnh hƣởng của

khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Trƣớc hết là ở lĩnh vực cơ sở vật chất kỹ thuật phục

vụ sản xuất nông nghiệp.

Việc đầu tƣ cho sản xuất nông nghiệp để chuyển từ nền sản xuất cổ truyền tới một nền

sản xuất hiện đại, một dạng sản xuất kiểu công nghiệp đã diễn ra từ giữa thế kỷ XX. Các

nƣớc tƣ bản có nền kinh tế phát triển cao nhƣ Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Đức... đã đầu tƣ rất lớn cho

sản xuất nông nghiệp trƣớc hết là đầu tƣ trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học kỹ thuật phục vụ

sản xuất nông nghiệp.

Các nƣớc có trình độ khoa học kỹ thuật cao đã không ngần ngại khi đầu tƣ kinh phí

vào quá trình sản xuất nông nghiệp từ khâu lai tạo, chọn giống, cải tiến kỹ thuật sản xuất

(máy móc, thuốc trừ sâu, phân bón...). Cuộc cách mạng trong lĩnh vực di truyền đã làm thay

đổi nhanh chóng các kết quả sản xuất nông nghiệp: nhiều giống cây trồng và vật nuôi mới có

khả năng cho năng suất cao đã nâng sản lƣợng của ngành sản xuất nông nghiệp lên một cách

đáng kể và làm thay đổi cơ cấu giá trị sản lƣợng nông nghiệp trong cơ cấu tổng sản phẩm

quốc dân trong nƣớc. Quá trình hiện đại hóa nông nghiệp dẫn đến chỗ tăng sản lƣợng hàng

hóa nông nghiệp, chính điều đó, trong chừng mực nhất định, đã có tác dụng mở rộng quan hệ

giữa nông nghiệp với các ngành sản xuất công nghiệp khác. Sản lƣợng nông nghiệp nhiều,

đòi hỏi phải đƣợc chế biến để tăng giá trị thƣơng phẩm, để sử dụng lâu dài. Sản xuất nông

nghiệp phát triển đòi hỏi các ngành công nghiệp có liên quan về mặt sản xuất cung ứng các

loại máy móc, thiết bị, hóa chất, cũng phải phát triển theo phục vụ kịp thời cho nông nghiệp.

Quá trình hiện đại hóa nông nghiệp trong các khâu cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi

hóa, hóa học hóa... Những điều đó đã đƣợc chứng minh ở tất cả các nƣớc có nền kinh tế phát

triển trên thế giới.

23

Để đảm bảo sản xuất nông nghiệp từ sản xuất nhỏ thủ công sang giai đoạn sản xuất

lớn kiểu công nghiệp cần phải có sự đầu tƣ thích đáng vào máy móc thiết bị sản xuất nông

nghiệp. Trong những năm trƣớc đây, việc đầu tƣ vào sản xuất nông nghiệp diễn ra chậm chạp

vì quá trình thu hồi vốn trong sản xuất nông nghiệp diễn ra chậm hơn nhiều so với trong sản

xuất công nghiệp. Hơn nữa do tính chất rủi ro trong sản xuất nông nghiệp thƣờng cao hơn

công nghiệp nên các nhà đầu tƣ ít đầu tƣ vào nông nghiệp. Sau chiến tranh thế giới thứ II, đặc

biệt là vài thập niên gần đây, nhiều nƣớc đã tập trung vào sản xuất nông nghiệp, tỉ lệ vốn đầu

tƣ đã tăng lên đáng kể.

Việc sử dụng vốn cố định trong sản xuất nông nghiệp, không giống nhƣ trong sản

xuất công nghiệp, vì tính chất gián đoạn của sản xuất nông nghiệp. Cần phải đầu tƣ nhiều hơn

cho lao động nông nghiệp so với lao động công nghiệp mới đảm bảo quá trình đƣa kỹ thuật

công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp. Quá trình tăng vốn đầu tƣ cho lao động nông nghiệp

diễn ra ở các nƣớc tƣ bản nhanh hơn ở các nƣớc xã hội chủ nghĩa trƣớc đây. Chẳng hạn, năm

1940 vốn đầu tƣ cho một lao động nông nghiệp ở Hoa Kỳ chỉ bằng 1/2 lần so với vốn đầu tƣ

cho một lao động nông nghiệp ở các nƣớc tƣ bản đã phát triển nhƣ Anh, Pháp, Đức nhƣng

nhanh hơn ở các nƣớc xã hội chủ nghĩa trƣớc đây, tới năm 1968 tỷ lệ này chỉ còn 1/1,5. Ở

Pháp và Cộng hòa Liên bang Đức tỉ lệ đầu tƣ cho một lao động nông nghiệp trong những

năm gần đây cao hơn đầu tƣ cho một lao động công nghiệp.

Tuy việc đầu tƣ vốn cho một lao động nông nghiệp ngày càng tăng nhƣng năng suất

lao động công nghiệp vẫn cao hơn nhiều so với lao động nông nghiệp. Sản xuất công nghiệp

đã bƣớc sang giai đoạn tự động hóa. Giá trị sản phẩm do một lao động nông nghiệp làm ra

ngay ở các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa có trình độ phát triển cao vẫn thấp hơn nhiều so với giá trị

sản phẩm do một lao động công nghiệp. Phải chăng sự cách biệt về năng suất lao động xã hội

có nhiều khác biệt còn nằm ở cả cách tính giá trị sản phẩm nông nghiệp. Để đảm bảo sau

bằng khoảng cách này cần phải đầu tƣ

24

vào sản xuất nông nghiệp cùng với việc tính lại giá trị sản phẩm nông nghiệp.

1.4.1.2. Nông nghiệp có liên quan chặt chẽ đến mọi ngành kinh tế, trước hết là với

công nghiệp, cơ sở cho việc hình thành sự liên kết nông - công nghiệp

Lực lƣợng sản xuất phát triển kéo theo sự thay đổi tận gốc quan hệ giữa nông nghiệp

với các ngành kinh tế quốc dân khác. Mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp với sản xuất

công nghiệp thể hiện ở chỗ nông nghiệp nhận những sản phẩm của công nghiệp phục vụ cho

quá trình sản xuất nông nghiệp nhƣ phân bón, máy móc, thuốc trừ sâu, điện tử... và cả

phƣơng pháp tiến hành sản xuất hợp lý kiểu nông nghiệp.

Lực lƣợng sản xuất phát triển, phân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc

thì mối liên hệ giữa các khâu trong quá trình sản xuất một sản phẩm càng phải chặt chẽ hơn.

Sự liên kết giữa các khâu trong một quá trình sản xuất sản phẩm cuối cùng từ nông nghiệp đã

dẫn đến sự hình thành các liên hợp nông công nghiệp.

Quá trình liên kết giữa các bộ phận của sản xuất nông nghiệp với nhau hoặc giữa sản

xuất nông nghiệp với sản xuất công nghiệp đƣợc gọi là quá trình nhất thể hóa. Có sự nhất thể

hóa theo chiều ngang giữa các xí nghiệp sản xuất cùng một loại sản phẩm hoặc các xí nghiệp

cùng nằm trong một giai đoạn công nghệ để mở rộng qui mô sản xuất, sử dụng tốt hơn công

suất thiết bị. Cũng có sự nhất thể hóa theo chiều dọc giữa các xí nghiệp hoặc các ngành có

liên quan trong việc tạo ra sản phẩm cuối cùng, các xí nghiệp hoặc các ngành trong cùng dây

chuyền sản xuất.

Khái niệm nhất thể hóa bắt nguồn từ tiếng La Tinh "Integrato" nghĩa là "sự nhích lại

gần nhau", "sự quyện chặt lấy nhau". Theo nghĩa kinh tế của từ nhất thể hóa là tập hợp các

mối liên hệ thƣờng xuyên, lâu dài, ổn định về sản xuất, kỹ thuật và kinh tế giữa các bộ phận

cấu thành một cách

25

tự nguyện, tƣơng đối biệt lập nhƣng vẫn có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau của một tổng thể

kinh tế nào đó nhằm tối ƣu hóa cấu trúc và đảm bảo cho nó phát triển tổng hợp, cân đối, nhịp

nhàng.

Mục đích của quá trình nhất thể hóa là giảm tối thiểu chi phí sản xuất và thu lợi nhuận

tối đa. Nhất thể hóa loại trừ nguy cơ cạnh tranh giữa các công đoạn khác nhau của cùng một

chu trình thống nhất sản xuất ra một loại sản phẩm cuối cùng, làm hạ giá thành sản phẩm.

Nhất thể hóa còn là điều kiện để công nghiệp hóa nông thôn, thúc đẩy quá trình chuyển hóa

nông thôn thúc đẩy quá trình chuyển hóa nông thôn thành đô thị.

Sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa công nghiệp và thƣơng nghiệp với nông nghiệp

trong quá trình nhất thể hóa làm cho số lƣợng sản phẩm (có nguồn gốc nông nghiệp) đã qua

chế biến ngày càng đa dạng và giá thành hạ. Xu thế hòa hoãn và hợp tác sau thời kỳ chiến

tranh lạnh càng làm mở rộng hơn, làm sâu sắc thêm quá trình nhất thể hóa. Quá trình liên kết

giữa nông nghiệp và công nghiệp không chỉ diễn ra trong một vùng, một quốc gia mà cả liên

quốc gia, có quy mô quốc tế.

Tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đã gây nên

những biến động lớn trong nông nghiệp. Ngày nay một nông dân của Tây Âu hoặc Hoa Kỳ

có thể gieo trồng 300 ha ngũ cốc và chăn nuôi bò hoặc khai thác một nông trại chuyên canh

ngũ cốc khoảng 500 đến 600 ha. Máy điện tử thu hoạch cà chua của Mỹ chỉ với 5 ngƣời điều

khiển có thể hái và phân loại 300 tấn cà chua trong 1 giờ.

Xu thế hiện đại hóa nông nghiệp, áp dụng quy trình công nghệ kiểu công nghiệp trong

sản xuất nông nghiệp đã làm cho nông nghiệp và công nghiệp xích lại gần nhau hơn, mối liên

hệ về mặt sản xuất trở nên vững vàng hơn.

1.4.1.3. Sự hợp tác chặt chẽ trong tĩnh vực sản xuất nông nghiệp

26

trên quy mô quốc tế

Ngày nay, khi chấm dứt thời kỳ chiến tranh lạnh, xu thế hợp tác giữa các quốc gia,

khu vực và thế giới ngày càng phát triển. Sự hợp tác đó không chỉ dựa trên cơ sở liên kết về

mặt sản xuất mà cả ở khâu vận chuyển và tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Các tổ chức kinh tế

quốc tế, đã tạo điều kiện cho các xí nghiệp nông nghiệp, các đồn điền, trang trại trong từng

vùng, từng quốc gia, khu vực phát triển phù hợp với xu thế hiện nay; đa dạng hóa mẫu mã

hàng từ một dạng nguyên liệu ban đầu. Sự hợp tác trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp thể

hiện từ hình thức trợ vốn đến chuyển giao công nghệ và bao tiêu sản phẩm.

Tóm lại, liên kết nông công nghiệp là hình thức áp dụng kiểu sản xuất công nghiệp

trong ngành nông nghiệp trên quy mô lớn (liên kết nhiều xí nghiệp có cùng chức năng lại với

nhau), là quá trình liên kết giữa các ngành công nghiệp với các ngành nông nghiệp trong

chuỗi dây chuyền sản xuất các sản phẩm nông nghiệp và tổ chức tiêu thụ các sản phẩm nông

nghiệp (cả những sản phẩm tƣơi sống lẫn các sản phẩm đã qua quá trình chế biến).

1.4.2. Cơ sở của việc liên kết nông - công nghiệp

1.4.2.1. Cơ sở kinh tế xã hội của việc liên kết nông - công nghiệp

Ngày nay khi mà trình độ sản xuất nông nghiệp đã đạt mức phát triển cao, liên kết

giữa sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, các ngành kinh tế khác đòi hỏi ngày càng hoàn

thiện các mối quan hệ sản xuất giữa chúng và trên cơ sở đó tạo ra các hình thức mới của nền

sản xuất xã hội. Quá trình đó đƣợc qui định bởi nhiều nhân tố có tính chất xã hội, kinh tế, tự

nhiên và lịch sử.

Sự phát triển của lực lƣợng sản xuất và phân công lao động xã hội là cơ sở đầu tiên

của quá trình liên kết nông - công nghiệp với các ngành kinh

27

tế quốc dân khác. Trƣớc đây, sản xuất nông nghiệp có một thời là hoạt động sản xuất duy

nhất của loài ngƣời. Trƣớc khi xảy ra cuộc phân công lao động lần thứ nhất thì trồng trọt là

hoạt động sản xuất xã hội duy nhất, việc tự cung tự cấp khép kín.

Cùng với sự phát triển không ngừng của lực lƣợng sản xuất quá trình phân công lao

động xã hội đã diễn ra theo các giai đoạn khác nhau. Sau giai đoạn đầu tiên của quá trình

phân công lao động xã hội. Chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt, các loại lao động mới với tƣ

cách là các ngành sản xuất riêng biệt đƣợc tách ra khỏi nông nghiệp là thủ công và buôn

bán... Lúc đầu chúng lệ thuộc ngành vào nông nghiệp, nhƣng sau cùng với sự phát triển liên

tục của lực lƣợng sản xuất, các ngành đó, đã thể hiện chỗ đứng độc lập của mình. Nền sản

xuất phát triển mạnh mẽ, sản xuất đại cơ khí đã diễn ra sự tách biệt hoàn toàn các loại lao

động kể trên. Kết quả là các lĩnh vực sản xuất độc lập, nông nghiệp, công nghiệp, thƣơng

nghiệp... đã ra đời.

Bản chất của phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc thể hiện ở chuyên môn hóa

ngƣời lao động theo nghề và tạo ra nền sản xuất chuyên môn hóa, nâng cao mức độ tập trung

và xã hội hóa sản xuất, đẩy mạnh kinh tế, tăng cƣờng kết quả hoạt động của các ngành và

điều quan trọng hơn cả là ở chỗ năng suất lao động xã hội tăng lên chƣa từng thấy so với nền

sản xuất trƣớc đó.

Sự phân công lao động xã hội cũng đã dẫn tới sự tách riêng nhiều ngành sản xuất mới.

Trƣớc hết, xu hƣớng này thể hiện ở sự phân chia quá trình công nghệ và tổ chức sản xuất.

Lực lƣợng sản xuất trong xã hội ngày càng phát triển lớn mạnh, nhiều ngành sản xuất

công nghiệp hóa đã đƣợc tách ra, chẳng hạn nhƣ ngành cơ khí nông nghiệp, công nghiệp chế

biến các sản phẩm nông nghiệp tách ra thành các ngành sản xuất độc lập. Ngành cơ khí nông

nghiệp lại tách ra thành cơ khí trồng trọt và cơ khí chăn nuôi... Nhƣ vậy trong khi phát

28

triển liên tục và khắp mọi nơi, phân công lao động xã hội đã dẫn đến sự tách riêng các ngành

sản xuất ngày càng mới.

Chính sự tách riêng các ngành sản xuất chuyên môn hóa sâu (chuyên môn hóa hẹp) do

yêu cầu của tăng năng suất lao động, kết quả của sự phát triển khoa học kỹ thuật đã dẫn đến

chỗ phải tập trung các xí nghiệp chuyên môn hóa sản xuất nhỏ thành các xí nghiệp chuyên

môn hóa sản xuất có qui mô lớn để sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa.

Năng suất lao động xã hội chung hay trình độ xã hội sản xuất không chỉ đƣợc xác

định bằng trình độ lao động trong một ngành hay một vài ngành sản xuất riêng biệt, mà đúng

hơn là bằng mức độ mật thiết và sự hoàn hảo của các mối liên hệ kinh tế kỹ thuật và công

nghệ giữa xí nghiệp chuyên môn hóa và các ngành mà chúng không thể tự cung cấp đƣợc tất

cả các tƣ liệu sản xuất cần thiết. Đồng thời quyết định phần lớn các kết quả hoạt động của các

xí nghiệp, các ngành khác nhau. Sự cần thiết phải thiết lập các mối quan hệ chặt chẽ và tƣơng

đối ổn định giữa các xí nghiệp chuyến môn hóa sản xuất dẫn đến sự hợp tác các xí nghiệp này

với nhau. Vì vậy chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất giữa các xí nghiệp là hai mặt khác

nhau của cùng một quá trình phân công lao động xã hội và qui định lẫn nhau trong sự phát

triển của mình. Nếu các xí nghiệp ngày càng đƣợc chuyên môn hóa thì nó càng phụ thuộc

chặt chẽ vào các xí nghiệp khác, các mối liên hệ kinh tế - kỹ thuật ngày càng chặt chẽ, đòi hỏi

việc tổ chức lãnh thổ các mối liên hệ giữa chúng ngày càng cao hơn.

Cùng với việc thúc đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất nông nghiệp, nền sản xuất hiện

đại đòi hỏi phải có sự liên kết giữa hai ngành sản xuất (nông nghiệp và công nghiệp) với

nhau. Sự liên kết giữa các ngành sản xuất trong xã hội tƣ bản không phải diễn ra trong tất cả

các ngành, các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và công nghiệp mà chỉ ở các ngành sản xuất có

liên quan đến ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp. Các

29

xí nghiệp nông nghiệp (đồn điền, trang trại, v.v...) là của tƣ nhân, các nhà máy sản xuất máy

móc và chế biến sản phẩm công nghiệp của tƣ nhân. Việc liên kết giữa các nhà sản xuất khác

nhau trong giai đoạn đầu tiên vô cùng khó khăn. Con đƣờng hợp tác, liên kết hiện nay trở nên

dễ dàng hơn do vai trò của các Công ty tƣ bản độc quyền. Cũng có trƣờng hợp các chủ đồn

điền khuếch trƣơng sản xuất mở rộng diện tích canh tác (tập trung hóa đất đai) và tiến hành

chuyên môn hóa sản xuất một sản phẩm nào đó. Khi các tập đoàn hoặc các ông chủ nông

nghiệp đủ mạnh họ có thể mua các nhà máy công nghiệp phục vụ cho việc sản xuất các máy

móc phục vụ nông nghiệp và chế biến các sản phẩm nông nghiệp, biến các xí nghiệp vốn

trƣớc kia chỉ có chức năng sản xuất một (hoặc một số) sản phẩm nông nghiệp thành một liên

hợp sản xuất nông - công nghiệp - thƣơng nghiệp khép kín.

Việc tách ra hàng loạt các dạng hoạt động sản xuất và các ngành thuộc ngành công

nghiệp và các ngành khác sản xuất tƣ liệu sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển và tiêu

thụ nông sản diễn ra nhƣ sau:

- Qua con đường tách các ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất cho nông

nghiệp: Trƣớc kia nông nghiệp vốn tự cung tự cấp phần lớn các tƣ liệu sản xuất nhƣ: sức kéo,

giống gia súc, công cụ sản xuất thô sơ, thức ăn gia súc, v.v... Sau đó nhờ sự phát triển của

công nghiệp, mà công nghiệp cơ khí nông nghiệp, công nghiệp chế biến thức ăn gia súc tách

ra thành các ngành công nghiệp riêng biệt.

- Qua con đường tách ra từ công nghiệp các ngành chế biến các sản phẩm nông

nghiệp, nhƣ các ngành công nghiệp chế biến sữa, chế biến thịt, cá, rau quả, v.v...

- Qua con đường vận chuyển nông phẩm: Gần nhƣ toàn bộ các loại hoạt động kể trên

đƣợc đƣa sang ngành giao thông, các sản phẩm nông nghiệp đã trở thành hàng hóa.

30

- Qua con đường tiêu thụ sản phẩm: Trƣớc kia nền nông nghiệp là một nền sản xuất

tự cung tự cấp khép kín. Ngày nay sự phát triển của các ngành nông nghiệp và các ngành

kinh tế khác đòi hỏi nông nghiệp phải chuyên môn hóa sản xuất, các vùng sản xuất không thể

tự đóng khung cho mình. Các mối trao đổi hàng hóa phát triển, các tổ chức chuyên môn hóa

thu mua hàng nông sản với cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp (kho tàng, dụng cụ ủ lạnh, cơ

quan kiểm nghiệm sản phẩm và kiểm định chất lƣợng sản phẩm) là bộ phận quan trọng của

nông nghiệp thƣơng mại hóa.

Trong quá trình này, còn diễn ra quá trình tách các dạng hoạt động riêng lẻ thuộc các

ngành phục vụ sản xuất nông nghiệp. Từ đó xuất hiện các loại hoạt động cung ứng tƣ liệu sản

xuất cho nông nghiệp, sửa chữa thiết bị, xây dựng, thú y, cải tạo đất... tức là hình thành cấu

trúc hạ tầng cho liên hiệp công nông nghiệp.

Rõ ràng là trên cơ sở phân công lao động xã hội, các ngành và các dạng hoạt động xã

hội đƣợc tách ra, sau đó thì các mối liên hệ chặt chẽ giữa các ngành và các hoạt động có liên

quan đƣợc hình thành. Mỗi ngành mỗi một dạng hoạt động riêng biệt chỉ có thể hoạt động

đƣợc với điều kiện là các ngành khác hỗ trợ cho nó.

Việc đảm bảo các mối liên hệ chặt chẽ giữa các xí nghiệp thực hiện các giai đoạn kế

tiếp nhau của cùng một quá trình công nghệ nhƣng lại bị phân tán quản lý theo các ngành

khác nhau rất phức tạp. Không tổ chức tốt các mối liên hệ và ngay cả khi các mối liên hệ đã

đƣợc ổn định vẫn không tách khỏi sự không đồng bộ và mất cân đối gây ảnh hƣởng xấu đến

nhịp điệu trao đổi, chất lƣợng nguyên liệu và sản phẩm cuối cùng, dẫn đến những hao phí,

mất mát không đáng có trong quá trình sản xuất chuyên môn hóa để tái tạo qui trình công

nghệ thống nhất mà trƣớc đó đã bị chia cắt trong quá trình phân công lao động xã hội, trở

thành một yêu cầu khách quan. Ban đầu qui trình công nghệ sản xuất một sản phẩm riêng biệt

31

thống nhất, sau đó nó đƣợc chia ra thành các công đoạn với các loại và loại phụ hoạt động

sản xuất và để rồi sau đó lại bắt đầu quá trình liên kết các loại, loại phụ thành một qui trình

công nghệ thống nhất.

Các nông trại lớn Tây Âu, Hoa Kỳ đã thể hiện khá rõ nét về sự liên kết với các chủ

chế biến sản phẩm nông nghiệp hoặc với những nhà công nghiệp sản xuất hóa chất, sản xuất

máy móc phục vụ nông nghiệp thành các liên hợp lớn. Chẳng hạn: Công ty Brandis Fruit

Company của Hoa Kỳ hiện có trên một triệu ha đất ở Trung Mỹ với khoảng 1/4 diện tích nói

trên đƣợc trồng chuối. Công ty này có hàng ngàn lao động, hơn 3.000 km đƣờng sắt, nhiều

hải cảng và một đội thủy thuyền lớn chuyên chở chuối đến các nhà máy chế biến hoặc xuất

khẩu chuối tƣơi.

Các liên hợp nông - công nghiệp chế biến thực phẩm phát triển nhanh chóng, các qui

trình công nghệ bảo quản, chế biến nông phẩm tham gia ngày càng nhiều vào dây chuyền sản

xuất. Các xí nghiệp nông - công nghiệp không những chỉ kết hợp hoạt động sản xuất nông

nghiệp với các xí nghiệp chế biến nông sản mà còn quán xuyến cả khâu bảo quản, lƣu trữ và

lƣu thông phân phối.

Trong lĩnh vực này, đã hình thành các xí nghiệp đa quốc gia với số lƣợng công nhân

và doanh số rất lớn. Nhƣ hãng Unilever (Anh và Hà Lan), Nestlé (Thụy Sỹ), Snift (Hoa Kỳ),

v.v... chỉ riêng công ty Nestlé có 230 xí nghiệp đặt tại 49 quốc gia khác nhau với trên 120.000

công nhân và có tới 95% doanh số do các xí nghiệp đặt ngoài Thụy Sỹ thực hiện. Độc quyền

Vextơn ở Anh có 115 trang trại lớn, 6 nhà máy liên hợp nuôi gia cầm, 18 nhà máy chế biến

thức ăn phục vụ chăn nuôi, 114 nhà máy chế biến bánh kẹo, chè, cà phê, 522 cửa hàng với

tổng số lao động khoảng 110.000 công nhân.

Xu hƣớng khách quan nâng cao nhịp độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của nông

nghiệp thƣờng bắt nguồn từ đặc điểm kinh tế xã hội có nền

32

kinh tế phát triển và là một trong những tiền đề quan trọng nhất, hợp qui luật của liên kết

nông - công nghiệp trong giai đoạn hiện nay. Phân công lao động xã hội chuẩn bị một mảnh

đất, chuẩn bị cho sự "canh tác" liên kết các ngành sản xuất sau này. Tuy nhiên, trong trƣờng

hợp này không phải liên kết của bất cứ lao động nào nói chung mà là của lao động chuyên

môn hóa có liên quan về qui trình công nghệ.

1.4.2.2. Cơ sở vật chất của liên kết nông - công nghiệp là công nghiệp hóa nông

nghiệp.

Công nghiệp hóa nông nghiệp là việc kết thúc đƣa nông nghiệp lên cơ sở công

nghiệp hiện đại, bằng cách thay đổi cơ sở vật chất kỹ thuật, qui trình công nghệ, tổ chức và

quản lý nông nghiệp. Công nghiệp hóa nông nghiệp là cơ sở vật chất cho sự ra đời của liên

hợp nông - công nghiệp.

Nói cách khác, công nghiệp hóa nông nghiệp là cơ khí hóa tổng hợp và tự động hóa

các quá trình trồng trọt, chăn nuôi, áp dụng tính dây chuyền, tính nhịp điệu vào mọi thao tác

và các giai đoạn sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng, áp dụng những kỹ thuật sản xuất

công nghiệp. Từ đó có thể nâng cao việc chế biến nông phẩm, chuyển hoạt động này từ xí

nghiệp nông nghiệp sang xí nghiệp công nghiệp chuyên môn hóa với qui trình công nghệ

phức tạp, sản xuất hàng loạt và tự động hóa.

Cuộc cách mạng kỹ thuật và công nghệ hiện nay đã làm biến đổi không ngừng cả về

số lƣợng, lẫn chất lƣợng trong các quá trình cơ giới hóa, hiện đại hóa, hóa học hóa... trong

nông nghiệp.

Trong lĩnh vực cơ giới hóa, từ chỗ chỉ có cơ giới hóa từng bộ phận (từng khâu, từng

qui trình công nghệ) tiến tới áp dụng các máy và tổ hợp các máy cơ khí hóa tổng hợp và tự

động hóa các qui trình sản xuất. Các máy móc đƣợc sử dụng với công suất lớn, tốc độ làm

việc nhanh (công suất trung bình của mỗi máy kéo các nƣớc khối SEV vào những năm 50 là

22,5

33

mã lực, năm 70 là 30 mã lực. Còn ở Hoa Kỳ cũng thời gian tƣơng ứng 29 và 66 mã lực), các

máy liên hợp đƣợc đƣa vào sản xuất nông nghiệp có thể tiến hành nhiều thao tác kỹ thuật.

Những máy móc liên hợp này tạo điều kiện kết hợp chặt chẽ giữa cơ giới hóa và hóa học hóa

nông nghiệp. Tiến hành xây dựng và áp dụng hệ thống giao thông, các phƣơng tiện vận

chuyển chuyên dùng phù hợp đặc điểm của từng sản phẩm nông nghiệp, áp dụng những qui

trình công nghệ mới, tổ chức và quản lý lao động tiên tiến trong tất cả các quá trình sản xuất

trong trồng trọt chăn nuôi.

Trong lĩnh vực điện khí hóa, con ngƣời đã tiến tới xây dựng các thiết bị đảm bảo điện

khí hóa tổng hợp mọi quá trình sản xuất và hoàn toàn điều khiển chúng theo chƣơng trình tự

động sử dụng năng lƣợng nhiệt và các nguồn năng lƣợng khác cho nông nghiệp. Áp dụng các

thành tựu của khoa học lý - sinh vào sản xuất nồng nghiệp.

Trong lĩnh vực hóa học, sinh học, sử dụng rộng rãi có hiệu quả các phƣơng tiện hóa

học và sinh học vào sản xuất nông nghiệp. Sử dụng các loại phân bón tổng hợp, các yếu tố vi

lƣợng để cải tạo và tăng năng suất cây trồng. Phát triển công nghiệp vi sinh và sử dụng rộng

rãi sản phẩm của ngành vào trong chăn nuôi. Các chất dẻo để phục vụ cho quá trình sản xuất

nông nghiệp.

Ở lĩnh vực thủy lợi con ngƣời đã sử dụng tổng hợp nguồn nƣớc xây dựng các công

trình thủy nông đảm bảo tƣới tiêu tự động tiết kiệm đƣợc lao động, nguồn nƣớc.

Trong lĩnh vực khoa học phục vụ sản xuất nông nghiệp đã lai tạo đƣợc những giống

cây trồng và vật nuôi có những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và sinh học phù hợp với qui trình kỹ

thuật công nghiệp, phát triển những ngành hóa-sinh và lý - sinh, áp dụng những thành quả

của nó vào nông nghiệp.

34

Tất cả những điều trên làm cho quá trình nhất thể hóa giữa các ngành tham gia sản

xuất nông phẩm cuối cùng hình thành liên hợp nông - công nghiệp toàn quốc.

Hiện nay, trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển nhanh

chóng, công nghiệp hóa nông nghiệp đƣợc thể hiện bằng những đặc điểm sau:

- Không chỉ hệ thống máy móc, mà các tổ hợp các tƣ liệu lao động cơ giới, hóa học,

kỹ thuật, thủy lợi và sinh học đều nằm trong một tổng thể cơ sở vật chất sinh học - kỹ thuật

của nông nghiệp.

- Nét tiêu biểu của giai đoạn tiến bộ kỹ thuật hiện nay trong nông nghiệp là sự kết hợp

hữu cơ những biến đổi cơ sở vật chất kỹ thuật với những cải tiến tƣơng ứng về tổ chức sản

xuất ở mọi cấp.

- Công nghiệp hóa nông nghiệp phát triển với nhịp độ cao kết hợp chặt chẽ với cơ sở

vật chất sinh học, kỹ thuật của qui trình công nghệ và tổ chức sản xuất.

Tóm lại, nhờ áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ,

việc sản xuất nông nghiệp nhờ kết quả của quá trình tập trung hóa, chuyên môn hóa, nhất thể

hóa sản xuất trên cơ sở những mối liên hệ kinh tế liên ngành giữa nông nghiệp với công

nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân khác. Liên hợp nông công nghiệp ra đời là kết quả của

quá trình phân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc.

1.5. Một vài nét về liên kết nông - công nghiệp ở Việt Nam

1.5.1. Những tiền đề khách quan của sự ra đời liên kết nông - công nghiệp ở Việt

Nam

Mặc dù có những bƣớc nhảy vọt lớn lao động phát triển kinh tế. Đặc biệt ở sự cải tiến,

nâng cao kỹ thuật trong sản xuất nhƣng chúng ta vẫn có thể nói rằng Việt Nam là một nƣớc

nông nghiệp. Vị trí của nông nghiệp

35

trong nền kinh tế quốc dân vẫn là quan trọng. Song khác với trƣớc đây, nền nông nghiêp lạc

hậu đã dần dần đƣợc chuyển biến thành một nền nông nghiệp tiên tiến. Sản phẩm nông

nghiệp của Việt Nam đã có một số mặt hàng đƣợc thị trƣờng thế giới chấp nhận. Để có đƣợc

điều đó các sản phẩm nông nghiệp của ta phải đạt đƣợc tất cả chuẩn về mẫu mã, chất lƣợng,

giá thành hợp lý. Đặc biệt, trong những thập kỷ gần đây, với một nền kinh tế mở, nông

nghiệp Việt Nam đã có nhiều cơ hội để giao lƣu với các nƣớc có nền nông nghiệp tiên tiến

tạo đƣợc sự kích thích mạnh mẽ cho quá trình phát triển nông nghiệp. Trên đồng ruộng Việt

Nam đã xuất hiện nhiều máy móc nhƣ: máy cày, bừa, làm cỏ, gieo hạt giống, máy bơm

nƣớc... có kỹ thuật tiên tiến vừa tiết kiệm nhân lực vừa cho năng suất lao động cao. Chúng ta

cũng đã vừa tạo đƣợc sự thay đổi, nâng cao phẩm chất của giống cây trồng, lựa chọn những

loại phân bón ít gây hại nhất cho cây trồng... để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

Tất cả những việc làm trên đã tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp và

công nghiệp. Mà trƣớc hết là ở lĩnh vực cung cấp tƣ liệu sản xuất phục vụ nông nghiệp, chế

biến các sản phẩm nông nghiệp. Các nhà máy sản xuất máy móc phục vụ nông nghiệp đã

đƣợc thành lập để đáp ứng nhu cầu trang bị máy móc cho quá trình sản xuất nông nghiệp.

Nhƣ vậy, mục tiêu phát triển xã hội, nâng cao đời sống nhân dân là tiền đề khách

quan cho sự hình thành liên kết nông - công nghiệp ở Việt Nam.

1.5.2. Liên kết nông nghiệp và công nghiệp là một trong những con đường tất yếu

để phát triển kinh tế ở nước ta

Công nghiệp và nông nghiệp là hai ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội. Hai

ngành đều có một quá trình ra đời, hình thành và phát triển hết sức phong phú. Chủ nghĩa tƣ

bản ra đời với tiền đề vật chất của nó là nền công nghiệp tƣ bản chủ nghĩa, thực hiện cuộc

cách mạng lớn trong lịch

36

sử và từ đó hình thành mối quan hệ chặt chẽ giữa nông nghiệp và công nghiệp tƣ bản chủ

nghĩa. Với những nƣớc có nền kinh tế chậm phát triển, nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ

bé thì mối quan hệ này cũng mới trong quá trình định hình và chịu tác động phúc tạp nếu có

các dự án đầu tƣ nƣớc ngoài.

Xuất phát từ thực tiễn của đất nƣớc ta và dựa vào kinh nghiệm của các nƣớc xã hội

chủ nghĩa anh em trƣớc đây, Đảng ta đã khẳng định luận điểm có thể phải kết hợp ngay từ

đầu giữa công nghiệp và nông nghiệp xã hội chủ nghĩa : "Nông nghiệp chỉ có thể tạo ra giá trị

thặng dƣ, tạo ra sản phẩm hàng hóa cho xã hội dƣới tác động tích cực của công nghiệp trong

mối quan hệ không phải chỉ dựa vào nhau mà là tiền đề lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau trong

một cơ cấu kinh tế mới của chủ nghĩa xã hội".

Nền nông nghiệp đang đƣợc công nghiệp hóa, hiện đại hóa; sản lƣợng nông nghiệp ở

nƣớc ta trong những năm qua đã đạt đƣợc những thành tựu to lớn: Các vùng nông nghiệp

chuyên môn hóa đƣợc hình thành. Đƣợc hình thành và phát triển, nguồn sản phẩm xuất khẩu

đã góp phần quan trọng trong việc tạo ngoại lệ cho đất nƣớc. Những thành quả đáng ghi nhận

đó không phải ngẫu nhiên mà có, điều này càng thể hiện rõ vai trò quản lý, chỉ đạo của Đảng

và Nhà nƣớc trong sản xuất. Ngoài ra về kỹ thuật, một điều không thể thiếu là sự tham gia

tích cực của ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến và sản xuất máy móc

phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

Tóm lại, để hình thành và phát triển một nền kinh tế toàn diện, vai trò của ngành nông

nghiệp và công nghiệp đều đƣợc thể hiện rõ ràng. Đặc biệt trong nền kinh tế Việt Nam ở giai

đoạn hiện nay sự liên kết đó vô cùng quan trọng. Ta có thể khẳng định rằng chỉ có thể thực

hiện liên kết nông - công nghiệp đạt tới trình độ cao thì mới đƣa nền kinh tế, cụ thể là sản

xuất nông nghiệp đạt đƣợc kết quả cao.

37

1.5.3. Thực trạng về liên kết nông - công nghiệp và các hình thức kết hợp ở Việt

Nam

Trong nông nghiệp có nhiều hình thức sở hữu, nhƣng chủ yếu là sở hữu tập thể và tƣ

nhân. Riêng đất đai (tƣ liệu sản xuất chính trong nông nghiệp) vẫn là sở hữu của nhà nƣớc.

Trong công nghiệp, sở hữu Nhà nƣớc đóng vai trò quan trọng nhất. Bên cạnh đó cũng xuất

hiện một số hình thức hỗn hợp nhƣ sở hữu tƣ bản nƣớc ngoài. Vì vậy, bên cạnh những thuận

lợi vốn có khi có cơ sở công hữu về tƣ liệu sản xuất thì cũng có không ít khó khăn do tồn tại

những hình thức sở hữu khác nhau.

Trong thực tế nền kinh tế hiện nay của nƣớc ta, việc liên kết giữa nông và công

nghiệp vẫn chƣa đạt đƣợc kết quả toàn diện. Ví dụ: Sự ra đời của các tổ chức trồng và chế

biến cao su ở Đông Nam Bộ là hình thức liên kết giữa nông trƣờng quốc doanh trồng cây cao

su với các cơ sở chế biến mủ cao su. Các sản phẩm mủ cao su đƣợc sơ chế sau đó lại chuyển

đến những đơn vị sản xuất khác mới chế biến đƣợc cao su thành phẩm.

Ở vùng nông thôn, các sản phẩm nông nghiệp khá phong phú, song để chế biến và

bảo quản đảm bảo chất lƣợng còn rất khó khăn, thƣờng xuyên xuất hiện sự mất cân giữa

nguồn nguyên liệu đƣợc cung ứng, công suất và công nghệ chế biến nhỏ bé, lạc hậu. Công

nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn vẫn ở gian đoạn chƣa phát triển, qui mô còn nhỏ bé,

trình độ kỹ thuật còn lạc hậu, chủ yếu tập trung ở hình thức khai thác tài nguyên. Điều đó dẫn

đến sản phẩm làm ra với mẫu mã, chất lƣợng kém nến khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng thế

giới còn thấp.

Bứt ra khỏi thực tế đó, một số doanh nghiệp đã thể hiện đƣợc khả năng của mình

trong cơ chế kinh tế thị trƣờng. Đó là các doanh nghiệp đã thực hiện rất hiệu quả mối liên kết

nông - công nghiệp trong sản xuất. Mối liên kết này rõ nét hơn đối với các doanh nghiệp

trồng và chế biến cây công nghiệp (chè, cà phê, cao su, mía...), cây ăn quả (nhãn, vải, cam,

38

quýt...). Các doanh nghiệp này đã thực hiện rất nhiều công đoạn sản xuất để thu đƣợc sản

phẩm cuối cùng đạt chất lƣợng cao.

Chúng ta thấy rằng mặc dù do thực tế nền kinh tế nƣớc ta còn gặp nhiều khó khăn.

Song với khả năng vƣơn lên, một số đơn vị sản xuất (những đơn vị thực hiện bƣớc phát triển

tất yếu đối với nền kinh tế của mình) sẽ làm ăn có lãi, đời sống công nhân, nông dân đƣợc cải

thiện.

39

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

40

CHƢƠNG 2: TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG - CÔNG NGHIỆP TRỒNG VÀ

CHẾ BIẾN CÂY CÔNG NGHIỆP NGẮN NGÀY, CÂY THỰC PHẨM TẠI

CÁC QUẬN, HUYỆN NGOẠI THÀNH TPHCM

2.1. Khái quát về Thành phố Hồ Chí Minh

TPHCM là đơn vị hành chính chiến lƣợc thành lập từ tháng 6/1976 trên cơ sở Đô

thành Sài Gòn, tỉnh Gia Định, phần đất Củ Chi (Tỉnh Hậu Nghĩa cũ), Bến Cỏ (Bình Dƣơng)

và một phần thuộc tỉnh Đồng Nai (đƣợc sát nhập vào năm 1978).

Diện tích tòan thành phố là 2095,01 km2 (chiếm hơn 6,13% diện tích cả nƣớc), trong

đó nội thành là 442,13 km2 và ngoại thành là 1652,88 km2.

Trong những năm qua, TPHCM có sự thay đổi về các đơn vị hành chính với việc hình

thành các quận mới nhƣ quận 2, quận 9, quận Thủ Đức (đƣợc tách ra từ huyện Thủ Đức),

quận 7 (từ huyện Nhà Bè), quận 12 (đƣợc tách ra từ Huyện Hóc Môn). Vào cuối năm 2003,

hai quận mới là quận Bình Tân và Tân Phú đƣợc thành lập (trên cơ sở chia tách huyện Bình

Chánh và quận Tân Bình). Hiện nay, TPHCM bao gồm 19 quận nội thành (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7,

8, 9, 10, 11, 12, Gò vấp, Tân Bình, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Thủ Đức, Bình Tân, Tân Phú)

và 6 huyện ngọai thành (Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ) với 253 phƣờng,

5 thị trấn và 59 xã.

2.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc trồng và chế biến cây thực phẩm và

cây công nghiệp ngắn ngày tại TPHCM

2.2.1. Vị trí địa lý

Lãnh thổ TPHCM trải dài theo hƣớng tây bắc - đông nam, có tọa độ địa lý 10o 22'13"

đến 11°22'17" vĩ độ Bắc và từ 106o01'25" đến 107o01'10"

41

kinh độ Đông. Điểm cực bắc của thành phố là xã Phú Mỹ Hƣng (huyện Củ Chi), điểm cực

nam là xã Long Hòa (huyện Cần giờ), điểm cực tây là xã Thái Mỹ (huyện Củ Chi) và điểm

cực đông là xã Thanh An (huyện Cần Giờ).

Tính theo đƣờng chim bay, chiều dài của thành phố theo hƣớng tây bắc - đông nam

khoảng 100 km và chiều ngang nơi rộng nhất là 40 km.

TPHCM nằm trong khu vực Đông Nam Bộ. Về phía đông bắc, TPHCM giáp với tỉnh

Bình Dƣơng và Đồng Nai; phía đông nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; phía tây và tây nam

giáp tỉnh Long An và Tiền Giang, phía tây bắc giáp tỉnh Tây Ninh và phía nam giáp biển

Đông với 25 km đƣờng bờ biển.

TPHCM có vị trí đặc biệt thuận lợi, nằm giữa vùng Nam Bộ giàu có và nhiều tiềm

năng. TPHCM là trung tâm kinh tế, công nghiệp, thƣơng mại, dịch vụ, khoa học kĩ thuật, đầu

mối giao thông và giao lƣu quốc tế lớn của cả nƣớc đƣợc gắn kết bằng cả đƣờng bộ, đƣờng

không, đƣờng thủy. Đó là thuận lợi cho thành phố trong việc phát triển KT - XH cũng nhƣ

mở rộng các quan hệ kinh tế với các tỉnh thành trong cả nƣớc và quốc tế.

Trong sản xuất nông nghiệp cũng nhƣ sản xuất và chế biến cây thực phẩm và công

nghiệp ngắn ngày, TP HCM không những lợi thế so sánh về các điều kiện tự nhiên, KT - XH

mà còn nằm trong khu vực phát triển năng động. Tuy vậy, ngành sản xuất và chế biến cây

công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm tại TP HCM cũng chịu sức ép cạnh tranh rất lớn trong

khu vực với Thái Lan, Malayxia, Inđônêsia và thế giới.

2.2.2. Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

2.2.2.1. Địa hình

♦ Đặc điểm:

42

Nằm ở đồng bằng hạ lƣu sông Đồng Nai - Sài Gòn, thuộc khu vực chuyển tiếp từ cực

Nam Trung Bộ sang đồng bằng sông Cửu Long, địa hình TPHCM có hai đặc điểm nổi bật

sau:

- Địa hình đồng bằng thấp và tƣơng đối bằng phẳng, độ cao tối đa chƣa quá 40 m,

nhiều chỗ còn trong tình trạng thấp trũng, bị chia cắt bởi một mạng lƣới sông rạch chằng chịt.

- Địa hình có xu hƣớng dốc từ tây bắc xuống đông nam với độ dốc nhỏ.

♦ Các dạng địa hình

Do nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa vùng đồi và đồng bằng nên địa hình của TPHCM có

nhiều kiểu với nguồn gốc hình thành khác nhau:

Địa hình đồi bóc mòn: Phân bố nhiều nhất ở khu vực Long Bình quận Thủ Đức. Đặc

trƣng cho dạng địa hình này là các đồi hình bát úp, đỉnh tròn, sƣờn thoải với độ cao từ 20 -

25m, bề mặt bị phong hóa mạnh, tạo nên lớp vỏ phong hóa tƣơng đối dày và dễ bị bóc mòn,

rửa trôi.

Địa hình đồng bằng bậc thềm với 3 bậc khác nhau. Thềm bậc 1 phân bố ở Bình

Chánh, đông Hóc Môn, nam Củ Chi, Thủ Đức và toàn bộ huyện Nhà Bè với độ cao trung

bình 1 m đƣợc cấu tạo bởi hỗn hợp trầm tích sông biển. Bậc thềm 2 phân bố chủ yếu ở phía

tây nội thành và chạy dọc theo thung lũng sông thuộc huyện Củ Chi, độ cao trung bình tăng

dần từ nội thành (3 - 3,5 m) ra đến Củ Chi ( 6 - 8 m). Vật liệu chính tạo nên dạng địa hình

này là trầm tích sét bột có nguồn gốc hỗn hợp sông - biển. Thềm bậc 3 có độ cao khác nhau

tùy thuộc từng khu vực, từ 5 - 1 0 m ở Hóc Môn cho đến 10 - 25 m ở Củ Chi, một phần Thủ

Đức và đƣợc tạo nên bởi trầm tích cuộn sỏi, cát sét, cát bột.

Ngoài ra ở TPHCM còn có dạng địa hình đồng bằng đầm lầy kéo dài từ Thái Mỹ đến

nông trƣờng Lê Minh Xuân; địa hình bãi bồi đầm lầy sú vẹt

43

tập trung ở huyện cần Giờ với độ cao 0,5 - 1 m và địa hình giồng cát ven biển.

Nhìn chung địa hình TPHCM vẫn là đồng bằng thấp. Mặc dù có một phần tƣơng đối

lớn lãnh thổ là vùng trũng, nhƣng do tác động của chế độ bán nhật triều nên khả năng thoát

nƣớc nhanh, ít gây ngập úng kéo dài, thuận lợi cho xây dựng các công trình dân dụng, cơ sở

hạ tầng và phát triển các nghành kinh tế.

2.2.2.2. Khí hậu

TPHCM nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất cận xích đạo.

Lƣợng bức xạ tƣơng đối lớn, đạt trung bình khoảng 140 kcal/cm2/năm. Số giờ nắng trung

bình trong ngày là gần 6 giờ. Nền nhiệt khá cao và ổn định với nhiệt độ bình quân hàng năm

Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu trung bình về khí hậu của TP. HCM

là 27,5°C. Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm thấp, từ 2-3°C.

Tháng

Cả năm Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4

Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12 Nhiệt độ (°C) 2004 28,0 27,2 26,7 28,5 30,1 29,5 28,1 27,8 28,0 27,9 27,5 28,0 26,6 1995 27,5 26,3 26,7 27,9 29,6 29,1 28,1 27,6 27,5 27,2 27,6 26,9 25,7 Số giờ nắng 2004 2.080,8 181,8 190,7 220,6 216,9 176,3 143,6 164,5 161,3 162,3 146,8 167,3 148,7 1995 2.155 214 234 227 252 196 185 148 149 122 159 116 152 Lƣợng mƣa (mm) 2004 1.783,6 0,1 0 0 13,2 263,9 246,8 355,9 201,3 283,7 309,0 97,0 12,7 1995 2.084 12 0 12 18 269 295 366 493 188 274 106 51

Nguồn: Niên giám thống kê TPHCM năm 1997 và 2004, Cục Thống kê TPHCM

44

Khí hậu của TPHCM chia làm 2 mùa rõ rệt. Mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 11, còn

mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lƣợng mƣa trung bình đạt trên dƣới 2.000

mm/năm và phân bố không đều theo thời gian. Khoảng 90% lƣợng mƣa trong năm tập trung

vào mùa mƣa. Theo không gian, lƣợng mƣa có xu hƣớng tăng dần từ tây nam lên đông bắc. Ở

các huyện phía nam và tây nam của thành phố nhƣ cần Giờ, Nhà Bè, Bình Chánh, lƣợng mƣa

trung bình năm chỉ dao động trong khoảng 1.000 - 1.400 mm; còn ở các quận nội thành, Thủ

Đức, phía bắc Củ Chi, lƣợng mƣa thƣờng vƣợt quá 2.000 mm/năm. Ngoài ra TPHCM nằm ở

khu vực ít chịu ảnh hƣởng trực tiếp của gió bão.

Nhìn chung, khí hậu của thành phố tƣơng đối ôn hòa, không có những ngày đông

tháng giá cũng nhƣ không có những tháng nóng gắt, ít bão lụt. Đây là điều kiện thuận lợi đối

với việc phát triển các ngành nông nghiệp cũng nhƣ đối với đời sống của ngƣời dân. Tuy

nhiên việc phân hóa gay gắt giữa mùa mƣa và mùa khô đặt ra vấn đề cần giải quyết nguồn

nƣớc ngọt vào mùa khô.

Các yếu tố khí hậu của TPHCM tạo những thuận lợi rất cơ bản cho sản xuất nông

nghiệp nhiệt đới nói chung và cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm nói riêng. Đây là

những loại cây có thể phát triển nhanh và cho năng suất cao.

2.2.2.3. Thủy văn

Nằm ở hạ lƣu sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, mạng lƣới sông ngòi, kênh rạch ở

thành phố khá dày đặc với mật độ 3,38 km/km2.

Thành phố nằm giữa hai con sông lớn là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông, nhƣng

lại chịu ảnh hƣởng nhiều của hệ thống sông Đồng Nai. Sông Đồng Nai dài 850 km bắt nguồn

từ vùng Lang Biang do hai nhánh Đa Dung và Đa Nhim hợp thành. Sông Đồng Nai còn đƣợc

tiếp nƣớc từ một phụ lƣu khác là sông La Ngà từ cao nguyên đổ xuống nên có nhiều thác

45

ghềnh, ở đoạn uốn khúc giữa đồng bằng, sông Đồng Nai tiếp nhận thêm nƣớc của sông Bé rồi

hội lƣu với sông Sài Gòn tại Nhà Bè. Từ đây sông chia làm nhiều nhánh (lớn nhất là sông

Lòng Tàu) chảy qua vùng rừng Sác rồi đổ ra biển ở vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái.

Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quảng chảy qua lãnh thổ các tỉnh Tây Ninh,

Bình Phƣớc, Bình Dƣơng rồi chảy vào địa phận thành phố. Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí

Minh có nhiều rạch nối với sông Sài Gòn (rạch Láng Tre, rạch Tra, rạch Bến Cát, rạch Thị

Nghè...) và một số kênh đào (kênh Tham Lƣơng, kênh An Hạ, kênh Thái Mỹ, kênh Đông).

Quan trọng hơn cả trong số này là rạch Bến Nghé. Đây là điểm khởi đầu của các tuyến đƣờng

sông, nối Sài Gòn với các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long. Năm 1819, một đoạn rạch Bến

Nghé đƣợc mở rộng và lấy tên là An Thông Hà (tức kênh Tàu Hủ). Năm 1905 kênh Tẻ (từ

cầu chữ Y ra Tân Thuận) đƣợc đào mới, sau đó là kênh Đôi song song với rạch Bến Nghé.

Nhờ hệ thống kênh rạch trên, việc đi lại bằng đƣờng thủy trong khu vực trở nên thuận lợi hơn

nhiều.

Sông Vàm Cỏ Đông có lƣu lƣợng nƣớc không lớn, đƣợc nối thông với sông Vàm Cỏ

Cây và Đồng Tháp Mƣời bởi nhiều sông nhánh và hệ thống các kênh, rạch.

Chế độ thủy văn của thành phố chịu tác động qua lại giữa các hệ thống sông (Đồng

Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông) cùng với thủy triều. Hầu hết kênh rạch và một phần hạ lƣu các

sông Đồng Nai, Sài Gòn đều chịu ảnh hƣởng của thủy triều. Tùy theo những điều kiện cụ thể

(mùa, lƣu lƣợng nƣớc sông...), nƣớc biển có thể ngƣợc dòng xâm nhập đến tận Bình Dƣơng

(trên sông Sài Gòn) và Long Đại (trên sông Đồng Nai).

Việc xây dựng hồ thủy lợi Dầu Tiếng (trên sông Sài Gòn) và hồ thủy điện Trị An

(trên sông Đồng Nai) đã có ảnh hƣởng ít nhiều đến môi trƣờng và các yếu tố kinh tế - xã hội

của vùng hạ lƣu. Cụ thể là đã làm thay đổi

46

chế độ thủy văn, trầm tích và tạo nên những biến đổi nhất định về mặt địa mạo của vùng cửa

sông.

Trong sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, nƣớc có vai trò rất quan trọng đối với

việc tƣới tiêu và sử dụng trong công nghiệp chế biến. TPHCM với nguồn nƣớc khá phong

phú tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp ngắn ngày và cây thực phẩm. Tuy

nhiên vấn đề ô nhiễm nƣớc ở TPHCM do ảnh hƣởng của quá trình công nghiệp hóa và hiện

đại hóa đã ảnh hƣởng không nhỏ đến năng suất và chất lƣợng cây trồng.

2.2.2.4. Thổ nhưỡng

Với tổng diện tích tự nhiên 209,5 nghìn ha, đất đai của thành phố đƣợc chia thành 4

nhóm đất chính: nhóm đất phèn, nhóm đất phù sa, nhóm đất xám và nhóm đất mặn.

- Nhóm đất phèn chiếm ƣu thế với 27,5% tổng diện tích tự nhiên. Loại đất phèn trung

bình đang đƣợc khai thác để trồng lúa. Còn loại đất bị phèn nhiều hay đất phèn mặn đƣợc

khai thác để trồng mía, dứa (thơm) hay lạc (đậu phộng) phụ thuộc vào mức độ cải tạo đất.

- Nhóm đất phù sa ít bị nhiễm phèn chiếm diện tích nhỏ, khoảng 12,6% tổng diện tích

đất đai. Tuy nhiên, đây là nhóm đất thích hợp cho việc trồng lúa, trong đó có 5,2 nghìn ha đất

phù sa ngọt trồng lúa cho năng suất cao.

- Nhóm đất xám phát triển trên phù sa cổ chiếm 19,3%, thuận lợi cho việc trồng cây

công nghiệp hàng năm, cây thực phẩm...

- Nhóm đất mặn chiếm 12,2%, tập trung ở huyện Cần Giờ hiện nay đang khai thác để

trồng rừng, đặc biệt là đƣớc.

Ngoài bốn nhóm đất chính trên, TP.HCM còn có một vài nhóm đất khác nhƣ đất đỏ

vàng (1,5%, phân bố ở vùng gò đồi thuộc Củ Chi, Thủ Đức); đất cồn cát - cát biển (3,2%, tập

trung ở Cần Giờ), diện tích sông, suối, v.v.... (23,7%).

47

2.2.3. Các điều kiện kinh tế xã hội

2.2.3.1. Dân số

♦ Qui mô dân số

Dân số của TP.HCM từ 3.419.978 ngƣời năm 1979 đã tăng lên 3.988.124 ngƣời năm

1989 và đạt 5.037.155 ngƣời vào thời điểm (1/4/1999). Cho đến năm 2002, dân số của thành

phố đã lên tới 5.449.217 ngƣời và chiếm hơn 6,83% dân số của cả nƣớc. Với con số này, số

dân của thành phố gấp hơn 1,5 lần số dân của Thanh Hóa - tỉnh đứng hàng thứ hai về quy mô

dân số; gấp 2, 3 lần số dân của cả vùng Tây Bắc cộng lại và gấp hơn 19 lần số dân của Bắc

Kạn - tỉnh có số dân ít nhất cả nƣớc. Hiện nay (năm 2004) dân số thành phố là 6.022.993

ngƣời

Về quy mô dân số phân theo các quận, huyện tính đến tháng 10/2003, đông nhất là

các quận Tân Bình (hơn 66,4 vạn ngƣời), Bình Thạnh (trên 41 vạn), huyện Bình Chánh (gần

Biểu đồ 2.1: Dân số TP HCM qua các năm

39 vạn) và ít nhất là hai huyện Nhà Bè (gần 6,8 vạn) và Cần Giờ (hơn 6,2 vạn).

48

♦ Động lực tăng dân số

Động lực tăng dân số của TP.HCM phụ thuộc vào cả gia tăng tự nhiên lẫn gia tăng cơ

học.

- Gia tăng tự nhiên

Trong những năm qua, tỉ suất sinh thô của thành phố liên tục giảm, từ 18,4 ‰ năm

1995 xuống 17,3 ‰ năm 2000; 16,7‰ năm 2002 và năm 2004 là 16 ‰. Mức sinh có sự phân

hóa giữa nội thành và ngoại thành. Ở nội thành, mức sinh thấp hơn (15,76 ‰ năm 2004), còn

ở ngoại thành lại cao hơn (17,26 ‰). Trong khi đó, tỉ suất tử thô hầu nhƣ ít thay đổi và ở mức

trung bình năm khoảng 4‰. Sự phân hóa về mức tử giữa khu vực nội thành và ngoại thành

không đáng kể.

Tổng tỉ suất sinh giảm nhanh trong thời gian giữa 3 cuộc tổng điều tra dân số gần đây

nhất. Năm 1979 tổng tỉ suất sinh là 2,8 con; năm 1989 giảm xuống 2,1 con và năm 1999 chỉ

còn 1,8 con. Con số này thấp hơn nhiều so với mức bình quân của cả nƣớc (số liệu tƣơng ứng

là 4,8; 3,8 và 2,3).

Kết quả là tốc độ gia tăng dân số tự nhiên của TP.HCM giảm liên tục, từ 1,78% năm

1979 xuống 1,67% năm 1990 và 1,36% năm 1999. Đến năm 2002, mức gia tăng chỉ còn

1,27%, thấp hơn mức trung bình của cả nƣớc. Bình quân mỗi năm mức gia tăng dân số tự

nhiên của thành phố giảm 0,02%.

Tốc độ gia tăng dân số tự nhiên có sự khác nhau giữa khu vực nội thành với ngoại

thành và giữa các quận, huyện. Năm 2004, mức tăng ở các quận nội thành là gần 1,17%, còn

ở các huyện ngoại thành là 1,32%. Nơi có mức tăng cao nhất thuộc các huyện Nhà Bè

(1,46%), Cần Giờ (hơn 1,46%) và thấp nhất ở quận 3 (1,14%) và quận 1 (1,15%).

Mặc dù tốc độ gia tăng tự nhiên giảm mạnh, nhƣng do số dân đông nên số ngƣời tăng

thêm hàng năm vẫn còn lớn. Số trẻ em sinh ra trung bình

49

Biểu đồ 2.2: Gia tăng dân số tự nhiên giai đọan 1979 - 2004

năm vào nửa đầu thập niên 90 của thế kỉ XX là 61.169 và vào nửa sau vẫn đạt 67.451.

- Gia tăng cơ học

Gia tăng cơ học đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển dân số ở TPHCM. Từ

năm 1986 trở lại đây gia tăng cơ học của TPHCM rất cao. Tốc độ gia tăng cơ học trung bình

năm cho thời kì 1986 - 1999 là 0,78%, nghĩa là bằng khoảng 1/2 tốc độ gia tăng dân số tự

nhiên của thành phố. Chỉ tính riêng 5 năm trong giai đoạn 1994 - 1999, số ngƣời nhập cƣ từ

các tỉnh là 415.387 và từ nƣớc ngoài là 5.831 ngƣời. Trong khi đó, số ngƣời xuất cƣ là 78.375

ngƣời. Nhƣ vậy, tỉ suất di cƣ thuần túy đạt mức 7,22%, cao hơn nhiều so với các thành phố

khác (Hà Nội 4,8%, Đà Nẵng 4,7%) và gấp 3,4 lần so với giai đoạn 1984 - 1989 (2,1%).

TP.HCM có nền kinh tế phát triển vào bậc nhất ở nƣớc ta và có sức hút đối với lao

động từ các địa phƣơng khác. Chính vì vậy TPHCM là đơn vị hành chính có quy mô dân số

lớn nhất nƣớc. Đó không chỉ là nguồn lợi lớn trong việc cung cấp lao động cho các nghành

kinh tế mà còn là thị

50

trƣờng tiêu thụ mạnh mẽ những sản phẩm đƣợc sản xuất và chế biến từ cây công ngiệp ngắn

ngày và cây thực phẩm.

2.2.3.2. Lao động

Nguồn lao động của TPHCM tƣơng đối dồi dào do dân số trẻ và dòng ngƣời nhập cƣ

đông đảo. Năm 2002 số dân trong độ tuổi lao động của thành phố là 3.582.428 ngƣời, chiếm

hơn 65,7% dân số (mức trung bình của cả nƣớc là 60,7%). Trên thực tế, quy mô nguồn lao

động còn lớn hơn nữa bởi có những ngƣời ngoài độ tuổi vẫn tham gia lao động (năm 2002 có

84.903 ngƣời, trong đó 57.878 ngƣời trên độ tuổi lao động và 27.025 ngƣời dƣới độ tuổi lao

động).

Nhìn chung, nguồn lao động của thành phố tăng khá nhanh. Tốc độ tăng trƣởng trung

bình năm trong thời kì 1979 - 1989 là 3,48%, còn thời kì 1989 - 1999 lên tới 3,75%. Điều đó

liên quan nhiều đến số lƣợng ngƣời nhập cƣ.

Trong những năm qua, việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế của thành phố đã dẫn đến

những thay đổi nhất định về tình hình sử dụng lao động theo các ngành. Nhìn chung, tỉ lệ lao

động trong khu vực I (nông, lâm, ngƣ nghiệp) giảm mạnh, từ 20,4% năm 1979 xuống 13,9%

năm 1989 và 6,6% năm 1999. Năm 2002, khu vực này có 144.297 lao động và chỉ chiếm

6,2% số ngƣời đang làm việc của thành phố. Trong khi đó, tỉ lệ lao động trong khu vực III

(dịch vụ) tăng nhanh, tƣơng ứng với các mốc thời gian nói trên là 38,2%; 42,7% và 51,9%.

Năm 2002, số lao động của khu vực này là 1.226.111 ngƣời, chiếm 52,5% số ngƣời đang làm

việc của thành phố. Tỉ lệ lao động trong khu vực II (công nghiệp - xây dựng) tƣơng đối cao

và ít thay đổi. Năm 2002 có 965.291 lao động, chiếm 41,3%.

So với mức trung bình của cả nƣớc và với các tỉnh, thành khác, chất lƣợng lao động

của TPHCM có cao hơn. Theo số liệu thống kê lao động -việc làm năm 2002 của Bộ Lao

động - Thƣơng binh và Xã hội, tỉ lệ lao

51

BẢN ĐỒ DÂN SỐ - NGUỒN LAO ĐỘNG TP. HỒ CHÍ MINH

52

động chƣa biết chữ của thành phố chỉ có 0,49% (cả nƣớc 2,06%), đã tốt nghiệp tiểu học là

31,03% (cả nƣớc 36,39%), đã tốt nghiệp trung học cơ sở 26,12% (cả nƣớc 22,37%), đã tốt

nghiệp trung học phổ thông đạt 32,30% (cả nƣớc 22,99%).

Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chất lƣợng lao động ở TPHCM cũng vào loại dẫn

đầu cả nƣớc. Nơi đây tập trung đến 37% tổng số cán bộ khoa học của nƣớc ta và đây là một

trong những tiền đề quan trọng hàng đầu để thành phố bƣớc vào nền kinh tế tri thức của thế

kỉ XXI. Tuy nhiên, điều đó vẫn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa

và hiện đại hóa. Tỉ lệ ngƣời lao động không có chuyên môn kỹ thuật tuy đã giảm từ 63,8%

năm 1996 xuống 57,5% năm 2000, song nhƣ thế vẫn còn quá lớn so với yêu cầu. Tỉ lệ ngƣời

lao động có bằng cấp từ công nhân kỹ thuật trở lên tăng từ 13,9% năm 1996 lên 19,4% năm

2000, nhƣng rõ ràng còn chậm. Ngoài ra còn phải kể đến sự bất hợp lí về cơ cấu lao động

phân theo trình độ dẫn đến tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ".

Ở các ngành khác nhau thì đội ngũ lao động có chuyên môn kỹ thuật cũng rất khác

nhau. Các ngành quản lí nhà nƣớc, giáo dục - đào tạo, y tế, hoạt động khoa học công nghệ, tài

chính ngân hàng có đội ngũ lao động với chất lƣợng cao hơn hẳn so với các ngành khác. Tỉ lệ

lao động có bằng cấp trong ngành khoa học công nghệ chiếm tới gần 80,7%, giáo dục đào tạo

77,4%, y tế 77,8%. Trong khi đó, tỉ lệ này trong công nghiệp - xây dựng là 11,8%, còn trong

nông - lâm - ngƣ nghiệp chỉ vẻn vẹn có hơn 2,2%.

Sự phân hóa về trình độ chuyên môn kỹ thuật của ngƣời lao động còn thể hiện rõ qua

các thành phần kinh tế. Nhìn chung, ở khu vực nhà nƣớc, đội ngũ lao động có trình độ cao

hơn các khu vực khác.

53

CƠ CẤU DÂN SỐ HOẠT ĐỘNG THEO NGÀNH KINH TẾ

54

Bảng 2.2 : Cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động phân theo thành phần kinh tế

Đơn vị tính: %

Trình độ Nhà nƣớc Tập thể Tƣ nhân Cá thể Đầu tƣ nƣớc ngoài

Tổng số 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00

Không có bằng cấp 68,97 76,99 94,11 59,95 76,53

Có bằng cấp 31,03 23,01 5,89 40,05 23,47

6,59 16,37 6,87 3,30 4,65

9,54 3,84 3,59 1,02 2,47

3,15 1,38 0,99 0,30 0,76

19,82 8,98 11,39 1,26 15,24

0,95 0,46 6,18 0,01 0,35 Trong đó: - Công nhân kỹ thuật - Công nhân kỹ thuật - Trung cấp - Trung cấp - Cao đẳng - Cao đẳng - Đại học - Đại học - Trên đại học - Trên đại học Nguồn: số liệu thống kê lao động - việc làm năm 2002 của Bộ Lao động -Thương binh

và Xã hội

Số lƣợng và chất lƣợng nguồn lao động cũng phân bố không đồng đều theo lãnh thổ.

Phần lớn nguồn lao động tập trung ở khu vực nội thành, đặc biệt là đội ngũ lao động có trình

độ. Tỉ lệ cán bộ khoa học kỹ thuật ở các quận chiếm tới 94,7% tổng số cán bộ khoa học kỹ

thuật của thành phố, trong đó cao nhất các quận 1, 3, 10, Tân Bình, Phú Nhuận và Bình

Thạnh. Chỉ riêng 6 quận kể trên đã chiếm tới 61,1%. Trong khi đó, số cán bộ khoa học kỹ

thuật ở các huyện ngoại thành chỉ có 5,3%.

Nếu nhƣ tính trên số dân thì cứ 100 ngƣời của thành phố có 4,7 ngƣời có trình độ từ

cao đẳng trở lên. Tỉ lệ này ở các quận là 5,4; còn ở các huyện chỉ có 1,4. Nơi có tỉ lệ cao nhất

là quận 3 (10% dân số) và thấp nhất ở huyện Cần Giờ (0,8%).

55

Nhìn chung lực lƣợng lao động của TPHCM khá dồi dào, mặt khác chất lƣợng lao

động dẫn đầu cả nƣớc. Lao động có kỹ thuật, tiếp thu nhanh với những tiến bộ khoa học kỹ

thuật hiện đại, nhạy bén và năng động cao với nền sản xuất hàng hóa và đã quen với việc

kinh doanh trên thị trƣờng. Đây là tiềm năng quí giá để khai thác có hiệu quả nguồn lao động

của thành phố

2.2.3.3. Cơ sở hạ tầng

Nguồn điện

Hiện nay thành phố có các nhà máy điện với tổng công suất thiết kế là 1.098,7 MW.

Nguồn cung cấp điện chủ yếu cho thành phố: đƣờng dây 500 KV quốc gia, nhà máy điện

Hiệp Phƣớc, Phú Mỹ Hƣng, Trị An, Thác Mơ, Đa Nhim và thủy điện Đa Mi. Nguồn điện này

đảm bảo cho thành phố duy trì sản xuất và sinh hoạt trong điều kiện công nghiệp hóa, đô thị

hóa ngày càng mạnh mẽ, nhu cầu về điện ngày một tăng

Cấp thoát nước

Nhu cầu cấp nƣớc cho thành phố khoảng 2 triệu m3/ ngày đêm. Hiện nay đang có nhà

máy nƣớc Thủ Đức công suất khoảng 1 triệu m3/ngày đêm, nhà máy nƣớc Hóc Môn và một

số nhà máy nƣớc ngầm khác có công suất khoảng 1 triệu m3/ngày đêm, đảm bảo nƣớc cho

sản xuất tiêu dùng và sinh hoạt.

Hệ thống thoát nƣớc hỗn hợp ở nội thành dài 700 km, hiện đang triển khai xây dựng

100 km ống ϕ 300 - 2500 mm, 5 trạm xử lý nƣớc bẩn 80.000 - 20.000 m3/ngày đêm và 12

trạm bơm nƣớc thải. Dự án quy hoạch sẽ tách 2 hệ thống nƣớc mƣa và nƣớc bẩn. Nƣớc bẩn

sẽ đƣợc tập trung ở trạm xử lý trƣớc khi đƣa ra sông rạch. Tiếp tục cải tạo kênh Nhiêu Lộc,

Thị Nghè để giải quyết tình trạng ngập úng.

56

Mạng bƣu chính viễn thông thành phố đƣợc hiện đại hóa, đồng bộ hóa, tự động hóa

và số hóa trên toàn mạng. Ngành bƣu điện thành phố đã đa dạng hóa các loại dịch vụ thông

tin, đáp ứng yêu cầu thông tin trong nƣớc và quốc tế. Năm 2001 có 187 bƣu cục, trên 600.000

máy điện thoại, 128 máy Telex, 12.000 máy Fax, 150.000 máy nhắn tin, mật độ sử dụng 20

máy/100 dân. Mật độ này sẽ còn cao hơn nữa trong tƣơng lai, khi các nghành kinh tế tăng

trƣởng mạnh mẽ hơn.

Mạng điện thoại có 18 tổng đài cũng đƣợc tự động hóa hoàn toàn và trên 370 tổng đài

thuê bao với dung lƣợng gần 1 triệu số. Hệ thống cáp truyền dẫn có tổng chiều dài 1.621 km,

hệ thống truyền dẫn bằng cáp quang có tổng chiều dài 830 km. Sự phát triển của mạng lƣới

bƣu chính viễn thông góp phần không nhỏ vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa

thành phố và nó cũng thể hiện sự phát triển của TPHCM.

♦ Giao thông vận tải

TPHCM là đầu mối giao thông quan trọng bậc nhất của cả nƣớc. Ở đây có đủ các loai

hình giao thông, từ đƣờng ô tô, đƣờng sắt, đƣờng sông, đƣờng biển cho đến đƣờng hàng

không.

Về đƣờng giao thông TPHCM là đầu mối giao thông liên tỉnh, rất thuận lợi cho việc

giao lƣu trực tiếp với Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và vùng phụ cận. Hệ thống

giao thông bao gồm các tuyến quốc lộ, liên tỉnh với tổng chiều dài trong phạm vi thành phố là

218 km.

Ngoài ra giao thông đô thị rất phát triển ở khu vực nội thành, tuy sự phân bố không

thật đồng đều. Mật độ đƣờng xá rất cao ở khu vực trung tâm Sài Gòn - Chợ Lớn và thấp hơn

ở khu vực khác. Tòan thành phố có đến hàng nghìn km đƣờng đô thị, tuyệt đại bộ phận đã

đƣợc trải nhựa với khoảng 1.045 giao lộ và trên 210 cây cầu các loai, trong đó có một số cầu

có ý nghĩa chiến lƣợc nhƣ cầu Sài Gòn, cầu Bình Triệu, cầu chữ Y, v.v...

57

Đƣờng sắt của thành phố và vùng phụ cận tính từ Trảng Bom về ga Sài Gòn dài 56

km. Tuyến quan trọng nhất hiện nay là tuyến đƣờng sắt Thống Nhất từ Hà Nội vào TPHCM.

Một số đoạn đƣờng nhánh chuyên dụng trƣớc đây đến nay đã ngừng khai thác.

Các tuyến đƣờng sông gồm có hai loại: Tuyến đƣờng sông quốc gia (do Trung ƣơng

quản lý, tàu 350 tấn có thể qua lại) dài 37 km; còn tuyến đƣờng sông địa phƣơng (do thành

phố quản lý, ghe tàu từ 2 tấn đến 200 tấn đi lại đễ dàng) có chiều dài hơn 680 km. Về cảng

sông có cảng Bình Đông và các bến Tân Thuận, Bình Lợi, Bình Phƣớc, Tôn Thất Thuyết,...

với năng lực thông qua cảng khoang 9.000 tấn/năm.

Tuyến đƣờng biển tính từ cảng Sài Gòn đến phao số 0 dài khoang 150 km. Từ đây tàu

bè có thể đi đến nhiều nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Các cảng có khả năng tiếp nhận

tàu trọng tải đến 2,5 vạn tấn gồm thƣơng cảng Sài Gòn, cảng Bến Nghé, Tân Cảng và Nhà

Bè.

Về đƣờng hàng không, có rất nhiều đƣờng bay nối TPHCM với các vùng trong nƣớc

và với các nƣớc trên thế giới. Sân bay Tân Sân Nhất là sân bay quốc tế có tổng diện tích 1 ,5

nghìn ha (trong đó đã sử dụng 605 ha) với công suất trên 10 triệu lƣợt khách/năm và có thể

tiếp nhận các máy bay cỡ lớn nhƣ Boeing 747, 777; Air Bus 320, 300...

Về vận tải hàng hóa theo các loại phƣơng tiện, khối lƣợng vận chuyển nghiêng hẳn về

đƣờng bộ (hơn 59% năm2002), còn khối lƣợng luân chuyển chủ yếu thuộc về đƣờng biển

(88,5%). Về vận tải hành khách, đƣờng bộ chiếm ƣu thế tuyệt đối (96,3) theo số lƣợng vận

chuyển và chiếm phần lớn (49,5%) theo số lƣợng luân chuyển.

58

2.3. Liên kết nông - công nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn

ngày, cây thực phẩm ở các quận, huyện ngoại thành TPHCM

2.3.1. Khái quát về sản xuất nông nghiệp tại TPHCM

Bảng 2.3: Tình hình sử dụng đất của TPHCM năm 2000

Đơn vi tính: ha

2.3.1.1. Hiện trạng sử dụng đất

Loại đất Diện tích

Ha %

Tổng diện tích tự nhiên của thành phố 209.501 100,00

Đất chƣa sử dụng 40.203 19,19

Đất ở 16.696 7,97

Đất chuyên dùng 23.839 11,38

Đất lâm nghiệp 33.475 15,98

Đất nông nghiệp 95.288 45,48

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu sử dụng đất của TPHCM năm 2000

Nguồn: Điều tra nông thôn, nông nghiệp TPHCM 2001, Cục thống kê TPHCM

Về cơ cấu sử dụng đất, trong tổng số 209,5 nghìn ha đất tự nhiên của thành phố thì

diện tích đất đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất với 95.288 ha

(chiếm 45,48%). Đất lâm nghiệp đứng hàng

59

thứ hai về tỷ trọng trong tổng số đất đang đƣợc sử dụng với 33.475 ha (15,98%), trong đó

phần nhiều là đất có rừng trồng. Tiếp theo là đất chuyên dùng (đất cho giao thông, thủy lợi,

an ninh, quốc phòng, nghĩa trang...) khoảng 23.839 ha (11,38%) và đất ở là 16.696 ha

(7,97%). Ở TPHCM, đất chƣa sử dụng bao gồm diện tích mặt nƣớc, sông suối còn 40.203 ha,

chiếm 19,19% diện tích tự nhiên. Trong số này có 4.409 ha có thể cải tạo để đƣa vào khai

thác.

Do quá trình đô thị hóa ở các quận huyện ven đô diễn tiến với tốc độ khá nhanh nên

Bảng 2.4: Tình hình sử dụng đất NN của TPHCM giai đoạn 1995-2000

Đơn vị tính: Ha

diện tích đất nông nghiệp thu hẹp dần.

Đất nông nghiệp 1995 2000 Chênh lệch STT

Tổng diện tích 99.164 95.288 - 3.876

1. Đất trồng cây hàng năm 75.289 68.712 - 6.577

Đất ruộng lúa, lúa màu 59.591 55.073 -4.518

Đất trồng cây hàng năm khác 15.698 13.640 - 2.059

2. Đất vƣờn tạp 12.068 11.294 -774

3. Đất trồng cây lâu năm 7.822 10.856 + 3.034

4. Đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi 276 277 + 1

5. Đất có mặt nƣớc nuôi trồng thủy sản 3.710 4.149 + 440

Nguồn: Điều tra nông thôn, nông nghiệp TPHCM 2001, Cục thống kê TPHCM

Diện tích NN năm 1995 là 99.164 ha, nhƣng đến năm 2000 chỉ còn 95.288 ha, trong

đó diện tích đất trồng cây hàng năm giảm nhanh nhất (giảm 6.577 ha với diện tích đất trồng

lúa giảm 4.518 ha và đất trồng cây hàng năm giảm 2.059 ha); kế đến là đất vƣờn tạp (- 2.059

ha); ngƣợc lại diện tích đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất có mặt

nƣớc nuôi trồng thủy sản lại có xu hƣớng tăng lên với tỉ lệ tƣơng ứng: 3.034 ha , 1 ha, 440 ha.

60

Biểu đồ 2.4: Tình hình sử dụng đất NN của TPHCM thời kỳ 1995-2000

Về cơ cấu sử dụng đất NN: phần lớn đất NN năm 2000 là đất trồng cây hàng năm

chiếm 72,11% với 68,712 ha (trong đó chủ yếu là đất trồng lúa và màu lƣơng thực: 55,072

ha); kế đến là đất vƣờn tạp chiếm 11,86%; đất trồng cây hàng lâu năm 11,39%; đất có mặt

nƣớc nuôi trồng thủy sản mặc dù chỉ chiếm có 4,35% nhƣng đang có xu hƣớng tăng lên do

lợi nhuận thu đƣợc từ việc nuôi trồng thủy sản khá cao; đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi

Đất trồng cây hàng năm

Đất vƣờn tạp

72,11%

Đất trồng cây lâu năm

11,86%

Đất trồng cỏ cho chăn nuôi

4,35% 0,29% 11,39%

Đất có mặt nƣớc nuôi trồng thủy sản

Biểu đồ 2.5: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của TPHCM năm 2000

chiếm tỉ trọng thấp nhất chỉ có 0,29%

61

2.3.1.2. Phát triển sản xuất nông nghiệp

Tuy đất nông nghiệp giảm liên tục hàng năm, nhƣng sản xuất nông nghiệp ngoại

thành vẫn tiếp tục phát triển đạt đƣợc những thành tựu đáng kể. Thời kỳ từ 1995 - 1998; trồng

trọt giảm 2%/năm, chăn nuôi tăng 4,97%/ năm; Thời kỳ từ 1999 - 2000 các ngành trồng trọt

tăng 0,87%/năm, chăn nuôi tăng 5,89%/năm. Các hoạt động dịch vụ nông nghiệp tăng 6,1%;

Từ năm 2000 - 2002 giá trị sản xuất nông nghiệp tăng khá; năm 2000 tăng 3,6%, năm 2001

tăng 3,3%, năm 2002 tăng 4,7%.

Tuy nhiên, với diện tích đất nông nghiệp giảm gần 1.000 ha/năm, nếu không có

những bƣớc đột phá tiếp trong cơ cấu sản xuất, xây dựng mô hình và hƣớng dẫn đầu tƣ tập

trung sẽ rất khó duy trì tốc độ tăng trƣởng nhƣ hiện nay.

Sản xuất nông nghiệp chịu tác động mạnh của quá trình đô thị hóa ở vùng ngoại

thành. Trong thời gian gần đây bình quân mỗi năm giảm 6.025 hộ (6,1%), 5.108 lao động

(3,3%) với trên 30 ngàn nhân khẩu (8,7%) nông, lâm nghiệp và thủy sản, diện tích canh tác

mỗi năm giảm 1,096 ha (2%). Mặt khác, do các yếu tố thời tiết tác động với diễn biến phức

tạp. Nhƣng giá trị sản xuất vẫn tăng (1,1%), trong đó có chăn nuôi tăng 4,5%

Tốc độ tăng trƣởng của nồng lâm nghiệp và thủy sản chậm hơn các ngành công

nghiệp, xây dựng và dịch vụ nên mặc dù giá trị tuyệt đối về giá trị sản xuất và giá trị tăng

thêm của các ngành nông lâm nghiệp và thủy sản vẫn tăng, nhƣng tỷ trọng chiếm trong tổng

sản phẩm toàn địa bàn thành phố có xu hƣớng giảm dần. Từ 0,5% năm 1990, xuống còn 3,3%

năm 1995 xuống 1,8% năm 2001 và 1,5% năm 2004, bình quân mỗi năm vị trí giảm gần

0,3%.

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn giữ đƣợc và có phần tăng là do sự

chuyển dịch về cơ cấu tăng các hoạt động ở những loại

62

có giá trị kinh tế hàng hóa cao trên một đơn vị diện tích, giảm dần những cây trồng vật nuôi

Bảng 2.5: Cơ cấu giá trị sản lượng ngành nông - lâm - ngư của TPHCM thời kỳ 1980 – 2001

có giá trị hàng hoa thấp.

1995 2000 2001

Chỉ tiêu Cơ cấu Trị số (tỷ đồng) Cơ cấu (%) Trị số (tỷ đồng) Trị số (tỷ đồng) Cơ cấu (%) (%)

Tổng số 1.935,530 100,0 2.790,360 100,0 3.418,448 100,0

l.Nông nghiệp 1.620,213 83,7 2.169,266 77,8 2.332,464 68,2

Trồng trọt 875,941 45,2 1.003,443 36,0 955,120 27,9

Chăn nuôi 526,757 29,1 916,783 32,9 1.103.204 32,3

Dịch vụ NN 181,515 9,4 249,000 8,9 274,140 8,0

2. Lâm nghiệp 84,862 4,4 93,364 3,3 76,844 2,3

3. Thủy sản 230,255 11,9 527,770 18,9 1.009,140 29,5

Nguồn: Niên giám thống kê TPHCM năm l997 và 2004, Cục Thống kê TPHCM

Tỉ trọng của ngành trồng trọt có xu hƣớng giảm, trong khi đó tỉ trọng của ngành chăn

nuôi lại có xu hƣớng tăng, tuy tỉ lệ tăng nhƣng chƣa cao để bù đắp lại sự sụt giảm của ngành

trồng trọt, tỉ trọng ngành dịch vụ nông nghiệp cũng có xu hƣớng tăng nhƣng khá chậm. Nhìn

chung, xu hƣớng chuyển đổi cơ cấu trong nội bộ ngành là đúng hƣớng, giảm trồng trọt, tăng

chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Tuy vậy, sự chuyển đổi còn chậm và chƣa tạo ra sự đột

phá rõ nét trong chuyển đổi cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp. Trong cơ cấu trồng trọt và lâm

nghiệp giảm dần; ngƣợc lại chăn nuôi và thủy sản tăng dần.

Trong trồng trọt thì cây ăn trái tăng; ngƣợc lại lúa và các cây trồng khác giảm. Trong

chăn nuôi nhìn chung đều tăng, nhƣng đàn gia súc tăng cao

63

hơn, đặc biệt là đàn bò sữa. Ở thủy sản thì nuôi trồng tăng nhanh hơn các hoạt động khác, chủ

yếu là nuôi tôm sú.

2.3.2. Thực trạng trồng và chế biến cây thực phẩm ở các quận, huyện ngọai thành

TPHCM

2.3.2.1. Hiện trạng trồng cây thực phẩm

Ở TPHCM cây thực phẩm có điều kiện phát triển nhằm phục vụ cho nhu cầu ngày

càng tăng của thành phố hơn 6 triệu dân. Trong cơ cấu cây thực phẩm phải kể đến rau đậu

các loai nhằm giải quyết nhu cầu rau xanh cho nhân dân.

Rau và đậu là những cây cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dƣỡng cao, có chứa nhiều

chất xơ và vitamin rất cần thiết cho sức khỏe con ngƣời, nhất là những vùng tập trung dân cƣ

và các khu công nghiệp lớn nhƣ TPHCM.

♦ Về diện tích

Diện tích rau, đậu của TPHCM qua các năm giảm dần do quá trình đô thị hóa diễn ra

Bảng 2.6: Diện tích cây thực phẩm qua các năm

Đơn vị tính: ha

mạnh mẽ ở hầu hết các quận, huyện.

Cây thực phẩm 1995 1997 1999 2001 2003 2004

Tổng số 13.160 12.233 10.178 9.905 9.193 8.915

Rau 12.761 11.940 9.929 9.797 9.126 8.842

Đậu 399 293 258 108 67 73

Nguồn: Niên giám thống kê năm 1997, 2000, 2004, Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí

Minh

64

Trong giai đoan 1995 - 2004 tổng diện tích gieo trồng rau, đậu các loại năm 2004 là

8.915 ha, so với năm 1995 giảm 32,25 % (- 4.245 ha). Diện tích gieo trồng rau đậu đang thu

hẹp dần vì vùng trồng rau, đậu chuyên canh tại các quận Tân Bình, Gò Vấp, Thủ Đức, Hóc

Môn, Củ Chi, xã Vĩnh Long A và B của huyện Bình Chánh bị quy hoạch biến đổi thành khu

công nghiệp, khu dân cƣ. Thời kỳ 1990 - 2000 bình quân mỗi năm diện tích trồng rau đậu

Biểu đồ 2.6. Diện tích cây thực phẩm qua các năm thời kỳ 1995 - 2004

giảm 2,6%; thời kỳ 1995 - 2000 mỗi năm giảm 7,4%.

Trong số cây thực phẩm, cây đậu có diện tích giảm nhanh nhất. Năm 2004 diện tích

trồng đậu chỉ bằng khoảng 18,29 % so với năm 1995. Cùng giai đoan này, diện tích trồng rau

cũng giảm nhƣng giảm chậm hơn và bằng 69,86% so với cùng kỳ.

Rau, đậu đƣợc phân bố ở 14 quận, huyện, trong đó nhiều nhất ở huyện Củ Chi, huyện

Hóc Môn, huyện Bình Chánh. Riêng 3 huyện này năm 2004 chiếm 71,82% diện tích đất

trồng rau đậu. Có thể coi 3 huyện này là vành đai xanh của thành phố. Đứng đầu về diện tích

là huyện Củ Chi với 3.022 ha năm 2004, kế đến là Bình Chánh 2.357 ha và Hóc Môn 1.023

ha. Các quận, huyện còn lại có diện tích dƣới 1.000 ha mà phần lớn dao động từ vài chục đến

dƣới 400 ha.

65

Bảng 2.7: Diện tích cây thực phẩm (rau, đậu) phân theo các quận huyện

Đơn vị tính: Ha

Đơn vị hành chính NĂM 1997 NĂM 2004 Chênh lệch

Ha % Ha %

Toàn thành phố 12.233 100 8.915 100 -3.318

Quận 2 47 0,38 53 0,59 + 6

Quận 7 11 0,09 3 0,03 -8

Quận 8 314 2,57 81 0,91 -233

Quận 9 97 0,79 147 1,65 +50

Quận 12 1.454 11,89 782 8,77 -672

Quận Gò Vấp 1.241 10,15 381 4,22 -861

Quận Tân Bình 335 2,74 -335

Quận Tân Phú 24 0,27 +24

Quận Bình Tân 46 0,52 +46

Quận Bình Thạnh 3 0,02 8 0,09 +5

Quận Thủ Đức 593 4,85 926 10,39 +333

Củ Chi 3.221 26,33 3.022 33,90 -199

Hóc Môn 2.041 16,68 1.023 11,48 -1.018

Bình Chánh 2.847 23,27 2.357 26,44 -490

Nhà Bè 8 0,07 7 0,08 -1

Cần Giờ 20 0,16 55 0,62 +35

Nguồn: Niên giám thống kê năm 1997, 2000, 2004, Cục Thống kê TPHCM

66

DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT, SẢN LƢỢNG CÂY THỰC PHẨM TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

67

Tuy nhiên diện tích trồng rau, đậu tại mỗi quận, huyện lại có sự khác biệt. So với năm

1997, diện tích trồng rau đậu của quận Tân Bình không còn nữa. Thay vào đó việc xuất hiện

70 ha rau đậu ở 2 quận mới đƣợc thành lập là Tân Phú và Bình Tân (đƣợc tách ra từ quận Tân

Bình và huyện Bình chánh vào cuối năm 2003). Cũng trong giai đoan này diện tích rau đậu ở

một số quận, huyện giảm rất nhanh. Giảm nhanh nhất là quận 12, năm 2004 diện tích trồng

rau đậu ở quận 12 giảm 54% so với năm 1997; kế đến là huyện Hóc Môn giảm 50,12%; quận

Gò Vấp giảm 31% và quận 8 là 26%. Ngƣợc lại một số quận, huyện khác diện tích lại tăng

lên đáng kể nhƣ: quận 9 tăng 1,5 lần ; huyện Cần Giờ tăng 2,75 lần.

♦ Về năng suất

Năng suất rau, đậu qua các năm không ổn định do ảnh hƣởng thời tiết thất thƣờng.

Năng suất rau dao động trong khoảng 180 - 185 tạ/ha, đậu dao động khoảng 6 - 6,3 tạ/ha. Nếu

so với các tỉnh trong khu vực ĐBSCL và vùng Đông Nam Bộ, năng suất rau và đậu của

TPHCM thấp hơn hơn (Long An: 191 tạ/ha; Lâm Đồng 218 tạ/ha). Năng suất thấp do đất đai

không đều, manh mún nên việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp

khó khăn.

Bảng 2.8: Sản lượng cây thực phẩm qua các năm

Đơn vị tính: Tấn

♦ Về sản lượng

1995 1999 2001 2003 2004 Cây thực phẩm

Tổng số 187.106 184.201 174.831 167.254 163.179

Rau 286.880 184.045 174.766 167.211 163.134

Đậu 226 156 65 43 45

Nguồn: Niên giám thống kê năm 1997, 2000, 2004, Cục Thống kê TPHCM

68

Năng suất rau, đậu không thay đổi nhiều trong những năm qua nhƣng do diện tích

gieo trồng giảm mạnh nên sản lƣợng rau, đậu cũng giảm đi nhanh chóng.

Năm 1995 sản lƣợng rau là 186.880 tấn và đậu là 226 tấn thì đến năm 2004 chỉ còn

163.234 tấn rau (giảm 123.646 tấn) và 45 tấn đậu (giảm 181 tấn). Nhƣ vậy trong giai đoạn

1995 - 2004 sản lƣợng rau giảm 43% và sản lƣợng đậu giảm 80%.

Tóm lại, diện tích gieo trồng rau đậu hàng năm ở các quận, huyện ngoại thành

TPHCM trƣớc năm 2000 dao động từ 10.000 - 12.000 ha, sản lƣợng từ 200.000 - 250.000

tấn. Do quá trình đô thị hóa nhanh nên diện tích rau đậu giảm dần đến năm 2004 còn 8.842 ha

trồng rau và 73 ha trồng đậu các loại với sản lƣợng 163.134 tấn tập trung chủ yếu ở quận 12,

quận Gò Vấp, Thủ Đức, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh.

2.3.2.2. Chế biến và bảo quản rau, đậu

Sản xuất thực phẩm nói chung và rau, đậu nói riêng là ngành có hiệu quả và thu nhập

khá cao trong nghành trồng trọt, là ngành có khả năng thu hút nhiều lao động và giải quyết

việc làm. Với ý nghĩa to lớn trên, rau đậu đƣợc phát triển và trở thành một ngành sản xuất

quan trọng trong nông nghiệp.

Nhu cầu tiêu thụ rau, đậu của TPHCM rất lớn. Hàng năm TPHCM tiêu thụ trên

400.000 tấn rau, đậu, bình quân trên 1.200 tấn/ngày. Trong khi đó sản lƣợng rau, đậu của

thành phố chỉ cung cấp đƣợc khoảng 40%, còn lại khoảng 60% đƣợc sản xuất từ các tỉnh

Lâm Đồng, Tây Ninh, Tiền Giang, Long An ..., trong đó nhiều nhất là nguồn từ Đà Lạt.

Tuy nhiên việc chế biến và bảo quản rau, đậu có đặc điểm cần lƣu ý. Rau, đậu là loai

sản phẩm chứa nhiều nƣớc nên dễ bị hƣ hỏng. Sản phẩm của rau, đậu đòi hỏi phải đảm bảo

chất lƣợng tƣơi thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của ngƣời dân thành phố. Rau đậu còn là sản

phẩm có khối lƣợng lớn,

69

cồng kềnh, khó vận chuyển lại dễ bị hƣ hỏng nên việc tổ chức sản xuất và bố trí sản xuất cây

rau, đậu ở TPHCM phải đảm bảo đƣợc thâm canh lại vừa thuận tiện cho việc chế biến, bảo

quản, vận chuyển đến nơi tiêu thụ. Bên cạnh đó trong nhiều năm qua, các loai rau, đậu trên

địa bàn TPHCM (dù do thành phố sản xuất hay đƣợc nhập về từ các tỉnh lân cận) đều có chứa

dƣ lƣợng chất bảo vệ thực vật, kim loại nặng, nhiều vi trùng và kí sinh trùng rất có hại cho

sức khỏe.

Đứng trƣớc tình hình đó, TPHCM đã chủ trƣơng sản xuất rau, đậu an toàn để cung cấp

cho ngƣời tiêu dùng và xuất khẩu từ năm 1997. Nhờ chƣơng trình này mà diện tích và sản

lƣợng rau an toàn đã tăng lên.

Năm 2000 Rau các loại

Rau sạch

Năm 2004

Biểu đồ 2.7: Tỉ lệ diện tích rau sạch của TPHCM

Rau các loại Rau sạch

70

Năm 2000 thành phố có 21 ha diện tích rau sạch (chiếm 2,3% diện tích trồng rau) đến

năm 2002 diện tích tăng lên 505 ha với sản lƣợng đạt 10.000 tấn), năm 2003 đƣợc công nhận

1.636 ha (vƣợt kế hoạch 136 ha) sản lƣợng đạt hơn 30.000 tấn, đến hết năm 2004 đạt hơn

4.000 ha chiếm gần 50% diện tích gieo trồng rau, đậu ở các quận, huyện ngoại thành. Dự

kiến đến hết năm 2005 toàn bộ diện tích gieo trồng rau, đậu của thành phố đạt tiêu chuẩn an

toàn.

Hiện nay thành phố đã công nhận 11 xã đủ điều kiện sản xuất rau an toàn, 4 xã là

vùng sản xuất rau an toàn, đã xây dựng đƣợc 18 tổ sản xuất rau an toàn ở các huyện Hóc

Môn, Củ Chi, Bình Chánh, quận 12; hỗ trợ một liên tổ nâng cấp thành hợp tác xã sản xuất rau

an toàn tại xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi.

Một trong những giải pháp của chƣơng trình rau đậu an toàn là triển khai sản xuất rau

đậu trong nhà lƣới để ngăn côn trùng xâm nhập, phá hoại dẫn đến giảm tối đa sử dụng thuốc

trừ sâu. Đặc biệt là việc trồng rau ăn lá rất thích hợp với điều kiện nhà lƣới do thời gian sinh

trƣởng ngắn, thời gian quay vòng nhanh, năng suất rau cao.

Đối với các tổ sản xuất rau an toàn mới thành lập, Trung tâm Khuyến nông đầu tƣ cho

mỗi tổ từ 1 - 2 nhà lƣới và chỉ thu hồi 50% chi phí. Ngoài 60 nhà lƣới do Trung tâm khuyến

nông đầu tƣ, các trang trại và hộ nông dân đã tự đầu tƣ hơn 300 nhà lƣới và nhiều dạng, đơn

giản hoặc kiên cố.

2.3.2.3. Liên kết trồng, chế biến, bảo quản cây thực phẩm (rau, đậu)

Hiện nay trên địa bàn TPHCM có 20 doanh nghiệp tham gia vào việc kinh doanh rau

đậu an toàn, trong đó có 16 doanh nghiệp đã đăng ký tiêu chuẩn chất lƣợng rau an toàn tại Sở

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Bên cạnh đó, để hỗ trợ là khuyến khích các hộ nông

dân mở rộng diện tích rau đậu an toàn và tăng năng suất, tăng sản lƣợng, Sở đã hỗ trợ để hình

thành đƣợc 10 điểm cung ứng vật tƣ kỹ thuật và dịch vụ rau an toàn.

71

Các đơn vị thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhƣ Trung tâm Khuyến

nông, Chi Cục bảo vệ thực vật đã tổ chức 98 lớp tập huấn, hƣớng dẫn nông dân về kỹ thuật

và qui trình sản xuất rau an toàn, phòng trị bệnh trên rau, thu hút 13.000 học viên là nông dân

tham dự (hầu hết nông dân tham dự tập huấn đã tự nguyện làm cam kết sử dụng thuốc bảo vệ

thực vật an toàn trên rau), tổ chức 24 điểm trình diễn và hội thảo sử dụng thuốc bảo vệ thực

vật an toàn, hiệu quả trên rau; cung cấp 2.116 tài liệu bƣớm cho nông dân, xây dựng 20 panô

tuyên truyền, vận động nông dân sản xuất rau, đậu an toàn.

Thành phố đã đầu tƣ trang thiết bị để phân tích nhanh dƣ lƣợng thuốc trừ sâu, tạo điều

kiện tốt công tác kiểm tra chất lƣợng rau an toàn, phân tích các mẫu rau ở ngay tại đồng

ruộng và chợ đầu mối. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với các quận,

huyện và các sở - ngành có chức năng triển khai chỉ thị của thành phố về việc tăng cƣờng các

biện pháp ngăn chặn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tùy tiện trên rau, đậu.

Đầu ra cho rau an toàn buổi đầu đƣợc giải quyết khá căn cơ, số lƣợng doanh nghiệp,

cơ sở tham gia thu mua rau an toàn ngày càng tăng. Chính vì vậy trƣớc đây nông dân trồng

rau an toàn còn e ngại không tiêu thụ sản phẩm vì giá thành cao nhƣng nay ngƣời trồng rau

phấn khởi và mạnh dạn tham gia trồng rau an toàn vì đầu ra đảm bảo, giá thành giảm (do

giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật) và các hộ trồng rau an toàn đã ký đƣợc hợp đồng bao

tiêu sản phẩm với các công ty, siêu thị, nhà hàng... trong khi ngƣời tiêu dùng bắt đầu có thói

quen mua "rau sạch".

2.3.2.4. Kết quả của việc liên kết trồng, chế biến, bảo quản cây thực phẩm (rau, đậu)

Nhờ Nhà nƣớc hỗ trợ kỹ thuật, cho vay vốn, hỗ trợ 50% kinh phí làm nhà lƣới và tạo

điều kiện cho ngƣời sản xuất an tâm mở rộng qui mô nên

72

diện tích rau an toàn tăng rất nhanh. Giai đoạn 2000 - 2004 diện tích trồng rau an toàn tăng

lên 8 lần .

Thành phố đã hình thành các vùng sản xuất rau sạch trọng điểm tại xã Tân Phú Trung

(huyện Củ Chi), xã Tân Thới Nhì, Xuân Thới Thƣợng (huyện Hóc Môn), xã Tân Quy Tây,

huyện Bình Chánh). Hiện nay vùng chuyến canh rau an toàn đã xây dựng hơn 150 nhà lƣới

và đƣợc trang bị hệ thống phun, tƣới hiện đại.

Việc trồng rau an toàn trong Nhà nƣớc giúp ngƣời nông dân quay vòng vốn nhanh, do

thời gian sinh trƣởng của rau ngắn, năng suất cao. Do đó thu nhập tăng lên đáng kể: doanh

thu trung bình 100 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận trên 40 triệu đồng/ha/năm.

Tuy nhiên việc trồng rau theo quy trình sạch cần đầu tƣ cao hơn do chi phí lao động,

vật tƣ lớn hơn mặc dù giá thành sản xuất đã đƣợc giảm một phần vì giảm sử dụng thuốc bảo

vệ thực vật. Vì lý do đó giá thành sản xuất rau an toàn thƣờng cao hơn so với sản xuất rau

thông thƣờng từ 1,2-1,3 lần. Để ngƣời sản xuất có lãi, giá bán cũng phải cao hơn.

Xét về mặt kinh tế thì ngƣời tiêu dùng sẽ lựa chọn loại rau thông thƣờng vì giá rẻ.

Tuy nhiên ở nƣớc ta nói chung và TPHCM nói riêng, chi phí về rau trong bữa ăn gia đình

hiện rất thấp (khoảng 10 - 15%) nên việc mua rau với giá cao hơn thì ngƣời tiêu dùng cũng

dễ chấp nhận nếu đúng là rau sản xuất theo quy trình an toàn. Đồng thời đảm bảo khâu dịch

vụ bán hàng có lợi nhuận. Nhƣ vậy sản xuất "rau sạch" cũng sẽ đƣợc kích thích phát triển bởi

động lực kinh tế.

Chất lƣợng rau, đậu của thành phố đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đã thu hút

ngƣời tiêu dùng thói quen dùng "rau sạch". Nhờ đó số vụ ngộ độc thực phẩm có nguồn gốc từ

rau của TPHCM giảm đáng kể từ năm 2002 đến nay.

73

Chất lƣợng rau của thành phố không chỉ đƣợc ƣa chuộng và tiêu thụ ngay tại chỗ mà

còn là nguồn xuất khẩu có giá trị. Hàng tuần tại Liên tổ sản xuất rau Ấp Đình, xã Tân Phú

Trung, huyện Củ Chi đều có chuyên rau xuất sang Nhật. Mặc dù xuất khẩu rau của thành phố

chiếm một tỉ lệ nhỏ bé, trong tổng giá trị hàng xuất khẩu hàng năm, nhƣng đây là tín hiệu

đáng mừng cho chính quyền và nhân dân thành phố trong việc lựa chọn đúng đắn chiến lƣợc

phát triển những loại cây con phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của thành phố.

2.3.3. Liên kết nông - công nghiệp trồng và chế biến cây cây công nghiệp ngắn

ngày ở các quận, huyện ngoại thành TPHCM

2.3.3.1. Hiện trạng trồng cây công nghiệp ngắn ngày

Cũng nhƣ cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày ở TPHCM có xu thế giảm

nhanh về diện tích và đi kèm với nó là sản lƣợng giảm liên tục do ảnh hƣởng của quá trình đô

Bảng 2.9: Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày

Đơn vị tính: Ha

thị hóa.

Cây công nghiệp 1995 1997 1999 2001 2003 2004

Tổng số 12.837 10.275 8.136 5.285 4.991 4.756

Lạc 6.489 5.238 3.235 1.424 1.527 1.811

Thuốc lá 438 194 243 118 97 45

Mía 5.714 4.693 4.456 3.574 3.290 2.850

Các loại cây khác 196 150 202 169 77 50

Nguồn: Niên giám thống kê năm 1997, 2000, 2004, Cục Thống kê TPHCM

74

Biểu đồ 2.8: Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày thời kỳ 1995 – 2004

Năm 1995 diện tích cây công nghiệp ngắn ngày là 12.837 ha thì đến năm 2004 chỉ

còn có 4.756 ha. Nhƣ vậy giai đoạn 1995 - 2004 giảm đi 2/3 diện tích ( - 8.081 ha).

Cây công nghiệp ngắn ngày ở TP HCM có các cây nhƣ mía, lạc, thuốc lá, cói, bông,

V.V.... Trong số các cây này thì mía, lạc, thuốc lá là cây dẫn đầu có diện tích trồng trọt 4.706

ha (chiếm 98,9% ) năm 2004.

Bảng 2.10: sản lượng cây công nghiệp ngắn ngày

Đơn vị tính: Ha

Tuy nhiên sản lƣợng của các nhóm cây này giảm mạnh trong giai đoạn 1995 - 2004.

Cây CN ngắn ngày 1995 1997 1999 2001 2003 2004

Lạc 12.867 10.580 5.653 2.477 4.306 4.954

Thuốc lá 723 859 419 164 166 85

Mía 274.092 195.855 215.660 195.039 187.504 165.132

Nguồn: Niên giám thống kê năm 1997, 2000, 2004, Cục Thống kê TPHCM

75

Năm 2004 sản lƣợng của lạc chỉ bằng 38% so với năm 2004; tƣơng tự sản lƣợng cây

thuốc lá chỉ bằng 11%; riêng đối với cây mía sản lƣợng giảm ít hơn và bằng 60% so với năm

1995.

♦ Cây mía

Mía là cây công nghiệp hàng năm đứng thứ nhất về diện tích. Mía là nguồn nguyên

liệu quan trọng cho ngành chế biến đƣờng, rƣợu, giấy, công nghiệp hóa chất. Cây mía phát

triển đến đâu, công nghiệp chế biến chế biến và công nghiệp hóa chất phát triển theo đến đó.

Cây mía còn có khả năng bảo vệ và cải tạo đất. Mỗi 100 tấn mía thu hoạch đƣa vào nhà máy

chế biến sẽ trả lại cho đất hơn 11 tấn rễ, hơn 15 tấn lá khô, khoảng 25 tấn búp và lá xanh. Nếu

tận dụng tốt các chất phế thải này để bồi dƣỡng cho đất thì có thể giữ vững và nâng cao độ

phì nhiêu của đất.

Chính vì vậy cây mía là cây công nghiệp ngắn ngày có ý nghĩa đối với sản xuất công

nghiệp của TPCM. Trong số các cây hàng năm, mía là cây có diện tích lớn nhất (chiếm 59%

ha trồng cây công nghiệp năm 2004) nhƣng cũng giảm nhanh.

Năm 1995 cả TP.HCM có 5.714 ha trồng mía thì đến năm 2004 chỉ còn 2.850 ha.

Nhƣ vậy trong vòng 9 năm, diện tích mía giảm gần 1/2.

Do diện tích giảm nên sản lƣợng mía cũng giảm trong thời gian nói trên tƣơng ứng từ

274.092 tấn năm 1995 xuống còn 165.132 tấn năm 2004. Nhƣ vậy, sản lƣợng mía giảm 40%

trong 9 năm qua.

Tuy nhiên có điểm đáng lƣu ý là trong giai đoạn 1995 - 2004, diện tích mía giảm đi

50% nhƣng sản lƣợng chỉ giảm 40% do năng suất tăng liên tục từ 470 tấn/ha (năm 1995) lên

580 tấn/ha.

76

Biểu đồ 2.9: Diện tích và sản lượng mía thời kỳ 1995 – 2004.

Năm 1997 cây mía có mặt tại 12 quận huyện nhƣng gần đây do quá trình đô thị hóa

diễn ra mạnh mẽ, diện tích trồng mía thu hẹp lại và cây mía đƣợc phân bố ở 9 quận, huyện

của thành phố là quận 2, quận 9, quận 12, quận Bình Thạnh, huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn,

huyện Bình Chánh, huyện Nhà Bè, huyện Cần Giờ, trong đó đại bộ phận diện tích trồng mía

tập trung ở huyện Bình Chánh.

Năm 2003 Bình Chánh có 2.682 ha, chiếm 81% diện tích mía của thành phố. Sau

Bình Chánh là huyện Củ Chi với 445 ha (chiếm 13%) diện tích trồng mía của các quận,

huyện còn lại không đáng kể.

77

DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT, SẢN LƢỢNG MÍA TẠI TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2003

78

Bảng 2.11: Diện tích trồng mía phân theo quận, huyện

Đơn vị tính: Ha.

Đơn vị hành chính Năm 1997 Năm 2003 Năm 2004

Quận 2 1 2

Quận 7 1

Quận 9 1

Quận 12 181 30 21

Quận Gò Vấp 1

Quận Bình Thạnh 6 6

Quận Thủ Đức 3

Huyện Củ Chi 901 445 354

Huyện Hóc Môn 506 86 81

Huyện Bình Chánh 2.995 2.682 2.368

Huyện Nhà Bè 37 15 7

Huyện Cần Giờ 61 25 17

Nguồn: Niên giám thống kê năm 1997, 2000, 2004, Cục thống kê TP HCM

Cây lạc

Lạc là loại cây có giá trị đặc biệt, cung cấp thức ăn giàu đạm và chất béo thực vật,

sinh tố và tăng thêm lƣợng phân bón cho đất, cải tạo đất, thêm nguồn thức ăn cho gia súc.

Cây lạc là cây có năng lƣợng cao nhƣng lại thƣờng đƣợc trồng ở những vùng ít năng lƣợng.

Vì thời vụ lạc ngắn (từ 3-6 tháng), dễ trồng, không kén đất, có thể xen canh, gối vụ với các

loại cây ngắn ngày khác.

79

Bảng 2.12: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc qua các năm

CÂY LẠC 1995 1997 1999 2001 2003 2004

Diện tích (ha) 6.489 5.238 3.235 1.424 1.527 1.811

Năng suất (tấn/ha) 1,98 2,0 1,74 1,73 2,81 2,73

Sản lƣợng (tấn) 12.867 10.580 5.653 2.477 4.306 4.954

Nguồn: Niên giám thống kê năm 1997, 2000, 2004, Cục Thống kê TPHCM

Trong số các cây công nghiệp hàng năm, cây lạc đứng thứ hai về diện tích (38,07%

diện tích trồng cây công nghiệp ngắn ngày). Cũng nhƣ các cây trồng khác, diện tích trồng lạc

giảm rất mạnh từ 6.489 ha năm 1995 xuống 1.527 năm 2003 và 1.811 ha năm 2004.

Mặc dù năng suất có tăng trong thời gian kể trên từ 1,98 tấn/ha năm 1995 lên 2,81

tấn/ha năm 2003 và 2,73 tấn/ha năm 2004 song sản lƣợng lạc vẫn giảm từ 12.867 tấn xuống

Biểu đồ 2.10: Diện tích và sản lượng lạc thời kỳ 1995 – 2004

4.954 tấn (giảm 62%) do diện tích giảm quá nhanh (giảm 73%).

80

DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT, SẢN LƢỢNG LẠC TẠI TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2003

81

Ở TPHCM, cây lạc đƣợc trông ở 6 quận, huyện (quận 2, quận 9, quận Thủ Đức,

huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn, huyện Bình Chánh) nhƣng từ năm 2004 cây lạc chỉ còn tại 4

Bảng 2.13: Diện tích trồng lạc phân theo các quận, huyện

quận, huyện và chủ yếu tập trung ở huyện Củ Chi.

Năm 1997 Năm 2003 Năm 2004 Đơn vị hành chính

2 4 Quận 2

31 6 4 Quận 9

10 1 Quận Thủ Đức

4.736 1.512 1.797 Huyện Củ Chi

149 4 Huyện Hóc Môn

310 10 Huyện Bình Chánh

5.238 1.527 1.811 Tổng số

Nguồn: Niên giám thống kê năm 1997, 2000, 2004, Cục Thống kê TPHCM

Trong giai đoạn 1995 - 2004, diện tích lạc tại huyện Củ Chi chiếm hơn 90%. Từ năm

2003 trở lại đây diện tích trồng lạc tại huyện Củ Chi luôn chiếm tới hơn 99% diện tích trồng

lạc của thành phố, riêng năm 2004 trồng đƣợc 1.797 ha ; còn các quận, huyện còn lại chỉ vẻn

vẹn 14 ha.

♦ Cây thuốc lá

Thuốc lá là cây công nghiệp đƣợc trồng mạnh, giá trị sử dụng của thuốc lá không còn

giới hạn trong việc hút thuốc. Ngày nay nó đã đƣợc sử

82

DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT, SẢN LƢỢNG THUỐC LÁ TẠI TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2003

83

dụng ở một lĩnh vực khác. Thân lá thuốc lá có tác dụng tốt trong phòng trừ sâu bệnh trên

đồng ruộng (bệnh rỉ sét trong cây họ đậu). Trong công nghiệp hóa, dƣợc, thực phẩm cũng sử

dụng đƣợc nhiều hóa chất thu đƣợc từ cây thuốc lá nhƣ sản xuất nƣớc hoa từ hoa thuốc lá,

hay axit xitơric lấy từ cây thuốc lá nhiều hơn từ 2 đến 3 lần trong cam, chanh để sử dụng

trong công nghiệp thực phẩm, ngƣời ta cũng chiết xuất đƣợc trong hạt thuốc lá 35-40% dầu

sử dụng trong công nghiệp hay thân cây thuốc lá để chế biến thành thức ăn gia súc có giá trị

kinh tế cao; ngoài ra, các phế thải của thuốc lá trong quá trình chế biến có thể làm phân hữu

cơ rất tốt.

Cây thuốc lá cũng có mặt trong cơ cấu cây trồng của thành phố nhƣng hiện nay diện

tích còn lại không đáng kể vì giảm quá nhanh, từ 438 ha năm 1995 xuống 97 ha năm 2003 và

Bảng 2.14: Diện tích, năng suất, sản lượng thuốc lá qua các năm

45 ha năm 2004. Nhƣ vậy giai đoạn 1995 - 2004 diện tích trồng thuốc lá giảm tới 90%.

Cây thuốc lá 1995 1997 1999 2001 2003 2004

Diện tích (ha) 438 194 243 118 97 45

Năng suất (tấn/ha) 1,56 1,80 1,72 1,38 1,71 1,88

Sản lƣợng (tấn) 723 351 419 164 166 85

Nguồn: Niên giám thống kê năm 1997, 2000, 2004, Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí

Minh

Trồng cây thuốc lá không đem lại hiệu quả kinh tế cao, diện tích đất canh tác nhỏ hẹp,

manh mún nên việc đầu tƣ về phân bón, thuốc trừ sâu, giống... gặp nhiều khó khăn nên năng

suất thuốc lá trong thời gian trên tăng không đáng kể từ 15,6 tạ/ha lên 18,8 tạ/ha.

84

Biểu đồ 2.11: Năng suất cây thuốc lá thời kỳ 1995 – 2004

Trƣớc năm 1997 cây thuốc lá đƣợc trồng chủ yếu ở 4 huyện ngọai thành là Thủ

Đức, Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh. Từ năm 2003, huyện Hóc Môn không trồng

thuốc lá nữa, thay vào đó là việc tăng diện tích trồng tại quận 12 (đƣợc tách ra từ

huyện Hóc Môn) với 35 ha năm 2003 và 13 ha năm 2004

Bảng 2.15: Diện tích trồng thuốc lá theo các quận, huyện

Đơn vị tính: Ha

Đơn vị hành chính Năm 1995 Năm 2003 Năm 2004

Quận 12 35 13

Thủ Đức 1 5

Huyện Củ Chi 41 32 283

Huyện Hóc Môn 142

Huyện Bình Chánh 20 8

Tổng số 97 45 438

Nguồn: Niên giám thống kê năm 1997, 2000, 2004, Cục Thống kê TPHCM

85

Năm 2003 cây thuốc lá chỉ còn 41 ha và có diện tích lớn nhất tại huyện Củ Chi với 41

ha kế đến là quận 12 với 35 ha. Còn lại là Bình Chánh với 20 ha và quận Thủ Đức 1 ha. Tuy

nhiên đến năm 2004, chỉ có quận 12 và huyện Củ Chi còn duy trì đƣợc 45 ha trồng thuốc lá.

2.3.3.2. Chế biến cây công nghiệp ngắn ngày

♦ Chế biến mía

Trƣớc năm 2004, TPHCM có 2 cơ sở chế biến mía đƣờng theo dây chuyền công

nghiệp là Nhà máy đƣờng Khánh Hội và DNTN Hùng Ký. Hiện nay nhà máy đƣờng Khánh

Hội ngƣng sản xuất tinh luyện mía đƣờng và chuyển sang làm dịch vụ xuất khẩu đƣờng nên

TPHCM chỉ còn có 1 cơ sở là DNTN Hùng Ký còn lại là các lò đƣờng thủ công phân tán gần

vùng trồng mía.

Sở dĩ các lò đƣờng tƣ nhân ở TPHCM vẫn tồn tại và phát triển trong khi này máy

đƣờng với dây chuyền sản xuất hiện đại phải chuyển chức năng là do:

- Thứ nhất, các vùng mía không tập trung nên các nhà máy đƣờng công suất lớn

không thể thu mua đủ nguyên liệu, trong khi ở nhiều vùng xa các nhà máy, mía phải đƣợc ép

thủ công và chế biến thành đƣờng thủ công.

- Thứ hai, thời vụ thu hoạch mía hiện khá dồn dập, tập trung vào khoảng 1-2 tháng

trong năm, trong khi các nhà máy đƣờng cần thu hoạch rải ra trong suốt 5-6 tháng.

Ngành chế biến đƣờng mía thủ công ở nông thôn giải quyết nhiều khó khăn về thời vụ

và tập quán trồng trọt cũng nhƣ sự tận dụng các diện tích phân tán có thể khai thác ở nhiều

vùng nông thôn khác nhau. Vấn đề đặt ra ở đây là: một mặt, hiệu quả của chế biến đƣờng thủ

công thấp hơn nhiều so với hiệu quả của các nhà máy lớn. Chỉ tính riêng tỷ lệ thu hồi đƣờng

từ mía, sản xuất thủ công tốn nguyên liệu hơn chế biến công nghiệp

86

khoảng 70 - 80% (19-19,7 tấn mía/1 tấn đƣờng trong các lò thủ công so với 10,5-11,5 tấn

mía/1 tấn đƣờng trong các nhà máy đƣờng lớn).

Mặt khác, so sánh với nhu cầu hiện nay và mức trung bình trên thế giới, mức tiêu

dùng đƣờng là quá thấp. Những đầu tƣ trong chƣơng trình phát triển công nghiệp đƣờng của

Việt Nam vừa qua và trong thời gian tới dù có cho phép nâng công suất của các nhà máy

đƣờng nhƣng vẫn chƣa cho phép giải quyết những mâu thuẫn trong ngành. Vì vậy, trong

nhiều năm tới vẫn còn có nhu cầu thực tiễn về sự tồn tại các lò đƣờng thủ công ở nông thôn.

Hơn nữa, khi hội nhập với khu vực và thế giới, trong khi đƣờng công nghiệp có sức cạnh

tranh thấp thì do tính đặc thù, sản phẩm đƣờng thủ công do các lò thủ công cung cấp chƣa bị

cạnh tranh nhiều.

Điều này chứng tỏ mối liên kết giữa trồng và chế biến mía ở thành phố Hồ Chí Minh

chƣa hiệu quả. Nếu ngành mía đƣờng không có sự phối hợp nhịp nhàng giữa ngƣời sản xuất

và ngƣời trồng mía thì việc chuyển đổi diện tích trồng mía sang trồng dứa cũng nhƣ các nhà

máy sản xuất đƣờng chuyển đổi chức năng là điều tất yếu.

♦ Chế biến lạc

Tiêu dùng dầu thực vật ở Việt Nam còn rất thấp (0,24kg / ngƣời / năm), nếu trừ sản

phẩm xuất khẩu thì con số nêu trên còn thấp hơn nhiều. Trong khi đó, ở các nƣớc lân cận

mức tiêu thụ dầu thực vật bình quân 4 kg/ngƣời/năm và ở các nƣớc phát triển là

18kg/ngƣời/năm. Thị trƣờng trong nƣớc và thế giới đang cần nhiều dầu thực vật có chất

lƣợng cao.

Với nhu cầu và thị trƣờng đầy tiềm năng nhƣ vậy đã thúc đẩy ngành công nghiệp chế

biến và chế biến dầu thực vật tinh luyện (từ lạc, mè...) ở TPHCM phát triển rất mạnh. Hiện

nay, mỗi năm TPHCM có thể sản xuất 110.000 tấn dầu (chiếm 1/4 năng lực sản xuất dầu của

cả nƣớc).

Có thể nói tất cả những yếu tố trên sẽ là động lực lớn để đẩy mạnh phát triển cây lạc

cả về diện tích, năng suất và sản lƣợng. Tuy nhiên, thực

87

tế đã diễn ra theo chiều hƣớng ngƣợc lại. Trong giai đoạn 1995-2004, cây lạc giảm tới 72%

diện tích và 61,5% sản lƣợng.

Cũng giống nhƣ cây mía, mối liên hệ giữa sản xuất và chế biến (ép dầu lạc) ở

TPHCM chƣa có sự liên kết chặt chẽ. Có rất nhiều nguyên nhân nhƣng chủ yếu là diện tích

trồng lạc nhỏ hẹp, manh mún gây khó khăn cho nhà máy trong việc phổ biến kỹ thuật canh

tác, thâm canh, chăm sóc, xây dựng phát triển hệ thống thủ lợi v.v... cũng nhƣ trong việc thu

mua, vận chuyển ... nên phần lớn các hộ nông dân trồng lạc tự chọn giống, kỹ thuật, phân

bón... theo kinh nghiệm qua các kênh thông tin khác (chứ không phải từ các nhà máy) và tự

tìm thị trƣờng tiêu thụ hoặc thông qua các cơ sở kinh tế tƣ nhân nên giá cả thất thƣờng. Đặc

biệt giá nguyên liệu mà ngƣời nông dân sản xuất ra không cạnh tranh nổi với mặt hàng cùng

loại của Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc. Do đó các nhà máy sản xuất dầu thấy rằng thay vì

phải mất công, mất vốn đầu tƣ sản xuất thì việc nhập nguyên liệu sẽ nhanh chóng, tiện lợi và

thu đƣợc nhiều lợi nhuận hơn.

♦ Chế biến thuốc lá

Tƣơng tự nhƣ cây mía và cây lạc, việc liên kết trồng và chế biến thuốc lá cũng chƣa

chặt chẽ do nguồn nguyên liệu thuốc lá tại TPHCM sản xuất không đáp ứng đủ năng suất

thiết kế của nhà máy thuốc lá Sài Gòn,Vinatabb, Khánh Hội v.v… Do đó thay vì liên kết với

vùng nguyên liệu tại TPHCM, các nhà máy đó tập trung đầu tƣ vốn, kỹ thuật, giống... cho

vùng sản xuất nguyên liệu tại Đồng Nai - nơi có các vùng tập trung sản xuất cây thuốc lá với

diện tích lớn.

2.3.3.3. Tình hình kết hợp giữa cây trồng và chế biến cây ngắn ngày ở TPHCM.

Ở TPHCM trƣớc đây, nông dân trồng các cây ngắn ngày chủ yếu trên những phần đất

dôi dƣ không đủ khả năng canh tác các loại cây trồng khác hoặc những phần đất bỏ hoang.

Tình hình sản xuất các loại cây công nghiệp

88

ngắn ngày còn chƣa tập trung, manh mún. Đến mùa thu hoạch các hộ nông dân bán thành

phẩm cho các cơ sở chế biến thủ công trong thành phố.

Từ năm 1994 cùng với Luật đầu tƣ và những chính sách khuyến khích sản xuất trong

nƣớc, nhiều nhà máy chế biến sản phẩm từ cây công nghiệp ngắn ngày ( mía, lạc, thuốc lá...)

đã đƣợc phát triển mở rộng với nhiều hình thức đầu tƣ liên doanh, liên kết 100% vốn nƣớc

ngoài. Chính vì vậy mặc dù diện tích trồng cây ngắn ngày liên tục giảm sút nhƣng nhờ có

các nhà nghiên cứu, các trung tâm khuyến nông đã cung cấp giống mía, lạc, thuốc lá... có

năng suất cao làm cho năng suất tăng liên tục .

Nhìn chung tình hình trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn ngày ở TPHCM trong

thời gian qua có nhiều biến động vì ảnh hƣởng bởi giá cả thị trƣờng và quá trình đô thị hóa

làm cho việc kết hợp giữa trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn ngày (mía, lạc, thuốc

lá...) gặp nhiều khó khăn.

Hay nói cách khác tại TPHCM chƣa có sự liên kết chặt chẽ giữa nông dân sản xuất

nguyên liệu với các nhà máy chế biến trong vùng, hoạt động kinh doanh giữa các đối tác với

nhau hầu hết đều thông qua mạng lƣới tƣ tƣởng. Vì thế có tình trạng bộ phận trung gian

chèn ép hai phía đối tác gây ảnh hƣởng không ít đến tình hình sản xuất và chế biến trong

thành phố.

Mặc dù nhiều nhà máy đã tiến hành ký hợp đồng với nông dân cung ứng nguồn

nguyên liệu nhằm ổn định sản xuất và để các hộ nông dân yên tâm sản xuất, toàn tâm toàn ý

với cây trồng mà mình đã lựa chọn, tuy nhiên, việc ký hợp đồng này chỉ tiến hành với những

hộ có diện tích canh tác lớn . Đối với những hộ nông dân có diện tích nhỏ thƣờng phải tự bỏ

vốn ra sản xuất hoặc thông qua tƣ thƣơng tiêu thụ sản phẩm. Đến vụ mùa thu hoạch tƣ

thƣơng gom sản phẩm cung ứng cho các nhà máy và cơ sở chế biên thủ công trong vùng .

Tình hình liên kết giữa trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn ngày ở TPHCM hiện

nay cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa những ngƣời nông

89

dân, nhà máy công nghiệp và các cơ sở chế biến để tạo ra sự liên kết ràng buộc với nhau

trong khâu cung ứng nguyên liệu đảm bảo sự ổn định giữa sản xuất và chế biến.

2.4. Đánh giá, nhận xét về liên kết nông - công nghiệp trồng và chế biến

CN ngắn ngày, cây thực phẩm

Mối liên kết nông - công nghiệp trong sản xuất và chế biến cây thực phẩm, cây công

nghiệp ngắn ngày ở TPHCM không thể thiếu sự tham gia tích cực của ngành công nghiệp chế

biến thực phẩm và ngành công nghiệp cơ khí sản xuất máy móc phục vụ cho sản xuất nông

nghiệp. Chính sự tác động có hiệu quả của ngành công nghiệp chế biến và cơ khí đối với

nông nghiệp là điều kiện thuận lợi cho phát triển cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn

ngày. Ngƣợc lại việc phát triển sản xuất các loại cây công nghiệp ngắn ngày và thực phẩm lại

càng thúc đẩy ngành công nghiệp công nghiệp chế biến và công nghiệp cơ khí.

♦ Về ngành công nghiệp chế biến thực phẩm

Hiện nay ngành công nghiệp chế biến thực phẩm thực sự trở thành một trong những

ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của thành phố và cả nƣớc. Đây

là ngành mà giá trị sản xuất chiếm tỉ trọng lớn trong toàn ngành công nghiệp toàn ngành công

nghiệp. Năm 2004 giá trị sản xuất theo giá thực tế của ngành đạt 39.578 tỉ đồng, chiếm 19%

tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp. Sản xuất của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm

tại thành phố hết sức đa dạng với hàng trăm nhóm mặt hàng mà phần lớn nguồn nguyên liệu

đầu vào của ngành là sản phẩm của ngành trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Trong

đó ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ các loại cây thực phẩm và cây công nghiệp

ngắn ngày hàng năm cần rất nhiều nguyên liệu, đặc biệt từ cây rau đậu, mía, lạc , thuốc lá.

Nhìn chung, ngƣời nông dân trồng cây lƣơng thực

90

thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày ở TPHCM rất yên tâm về khâu tiêu thụ sản phẩm.

Vấn đề còn lại là giá thu mua của các nhà máy, các cơ sở chế biến nhƣ thế nào?

Ngƣời nông dân có lãi không ?

Thực tế chỉ ra rằng mặc dù nguồn tiêu thụ các loại cây thực phẩm cây công nghiệp

ngắn ngày( đặc biệt là cây lạc, thuốc lá, mía) rất dồi dào nhƣng ngƣời nông dân vẫn không an

tâm sản xuất vì nhiều lý do :

- Thứ nhất: các nhà máy không ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm đối với những nông

hộ có diện tích trồng cây nhỏ (mà phần lớn các nông hộ ở TPHCM có diện tích trồng trọt

thấp )

- Thứ hai: giá thu mua nguyên liệu của các nhà máy không ổn định, lại bị cạnh tranh

về giá gay gắt với các sản phẩm cùng loại của Thái Lan, Trung Quốc, Malayxia... thậm chí

nhiều cơ sở còn nhập nguyên liệu từ các nƣớc này về chế biến vì giá thành rẻ hơn nếu mua

nguyên liệu từ nông dân.

- Thứ ba: do ảnh hƣởng của quá trình đô thị hóa, giá đất tăng mạnh, ngƣời nông dân

có tâm lý chờ giá, không thiết tha với việc đầu tƣ, chăm sóc cây trồng và đồng ruộng .

♦ Về ngành cơ khí

Ngành công nghiệp cơ khí cung cấp máy móc cho ngành nông nghiệp của thành phố,

chủ yếu là lắp ráp, mang tính chất gia công và sản xuất những phụ tùng, máy móc cho ngành

nông nghiệp nói chung và sản xuất cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày riêng nhƣ:

máy hút chân không, máy tách hạt lạc, lƣỡi xới đất, các máy móc thiết bị làm đất ( máy bơm,

máy cày đĩa, máy phanh đất, máy bừa ...) máy sấy tĩnh, máy sấy động..., máy chế biến đƣờng,

nghiền thức ăn gia súc... Đây là những sản phẩm của Công ty chế tạo máy Sài Gòn, Công ty

cơ khí dân dụng, Xí nghiệp liên hiệp cơ khí nông nghiệp...

91

Nhìn chung máy móc, thiết bị, công nghệ sản xuất của ngành công nghiệp cơ khí phục

vụ cho sản xuất và chế biến cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày có nhu cầu rất lớn

song ngành cơ khí của thành phố chƣa đáp ứng đƣợc nhiều, còn non yếu, lạc hậu chƣa đủ sức

đảm đƣơng vai trò chủ lực trong việc trang bị kỹ thuật hiện đại cho ngành sản xuất và chế

biến cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm chính. Vì vậy, việc đầu tƣ máy móc cơ khí

phục vụ cho sản xuất và chế biến cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm của thành phố

chƣa có bƣớc chuyển mới trong suốt nhiều năm qua.

Trƣớc giải phóng cũng có một số máy cày, máy xới máy bơm nƣớc, bình xịt máy...

hầu hết có công suất nhỏ, tập trung chủ yếu ở khu làm đất. Sau gần 27 năm giải phóng tình

trạng này đã đƣợc khắc phục, đến nay tƣơng đối hoàn chỉnh. Một số trang trại, xƣởng cơ khí

đã trang bị một số máy móc hiện đại phục vụ khâu làm đất và sữa chữa cơ khí nhỏ, giải quyết

đƣợc yêu cầu cơ giới hóa khâu làm đất trên 80% diện tích canh tác và sản xuất phần lớn cơ

khí nhỏ ở nông thôn.

♦ Về thủy lợi

Để phục vụ sản xuất nông nghiệp, các quận, huyện có 25 trạm bơm do nhà nƣớc quản

lý, với hệ thống kênh mƣơng dài 765km, trong đó 117km( tỷ lệ 15,3% ) đã đƣợc kiên cố hóa,

lớn nhất là kênh Đông Củ Chi đã đƣa nƣớc từ hồ Dầu Tiếng Tây Ninh về tƣới cho vùng

chuyên canh ở Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh. Tuy nhiên, cần đầu tƣ xây dựng hệ thống

kênh mƣơng liên hoàn để chống hạn và chống thâm nhập của thủy triều.

♦ Về cung cấp điện

Mạng lƣới điện đã phủ khắp vùng nông thôn, kể cả năm xã thuộc vùng sâu, vùng xa

và 15 xã thuộc diện nghèo. Đến nay đã có 100% số xã, ấp (61 xã, 380 ấp ) và 97,5% số hộ

(181.472 hộ) dùng điện, trong đó tỷ lệ ấp có điện lƣới quốc gia là 99,2 % ( tỷ lệ hộ dùng diện

cao nhất là Hốc

92

Môn: 99,3%, Bình Chánh: 98,7%, Củ Chi: 97,3%, Nhà Bè: 95,1% và thấp nhất là Cần Giờ :

87%. Hiện chỉ có 9,42% hộ ở Cần Giờ chƣa dùng điện lƣới quốc gia, còn lại tất cả các hộ ở

các huyện đều dùng điện lƣới quốc gia.

♦ Về đường giao thông

Dù chất lƣợng chƣa cao, nhƣng hệ thống giao thông đƣợc kéo dài và nâng cấp. Hầu

hết các xã đã có đƣờng ôtô đến tận Ủy ban nhân dân xã (trừ Thạnh An huyện Cần Giờ), trong

đó có 77% (47 xã ) có đƣờng bê tông, với tổng chiều dài 1.405 km, bình quân mỗi xã có 23,1

km đƣờng ôtô, nhiều nhất là huyện Củ Chi có 32,7 km và ít nhất là huyện Nhà Bè 3 km bình

quân mỗi xã. Tỷ lệ này ở Bình Chánh 41,6%; Nhà bè 61%; Cần Giờ 33%; Củ Chi 32% và

Hóc Môn là 29%. Vào năm 1995 tỷ lệ đƣờng bê tông chỉ đƣợc 17,1%, trong đó Bình Chánh

:38%, Nhà Bè: 34%, Hóc Môn 29%, Củ Chi: 11% và Cần Giờ chỉ có một đƣờng nhựa từ bến

phà Bình Khánh đến Ủy ban nhân dân huyện. Mặc dù vậy, thành phố cần tiếp tục phải đầu tƣ

vốn cho việc hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn đảm bảo chất lƣợng cao là rất cấp

bách .

Trong 5 năm (1995 - 2000) đã có 292 cầu bêtông hóa, nhiều nhất là ở Củ Chi 62 cầu

và Cần Giờ 59 cầu. Tuy nhiên vùng nông thôn vẫn còn 104 cầu khỉ, chủ yếu ở huyện Củ Chi

(59 cầu). Những loại hình cầu nông thôn cần phải đƣợc thay thế bằng loại cầu kiên cố, hiện

đại.

♦ Về kỹ thuật trồng trọt và giống cây trồng

- Ứng dụng công nghệ nhà kính của Israel để nhân giống cây quý hiếm.

- Áp dụng mô hình nhà lƣới trong sản xuất rau sạch nhằm đảm bảo chất lƣợng vệ sinh

an toàn thực phẩm và nâng cao năng suất.

- Trình diễn hệ thống canh tác ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất rau, hoa

kiểng... có giá trị cao.

- Áp dụng các giống cây cho năng suất cao nhƣ:

93

+ Giống cà chua chịu nhiệt VR2, SB2, SBB cho năng suất cao, ổn định ở các vùng

sinh thái khác nhau. Giống có khả năng chịu nhiệt nên có khả năng trồng quanh năm và cung

cấp sản phẩm tƣơi quanh năm cho thị trƣờng. Đặc biệt các giống cà chua này có khả năng

sinh trƣởng nhanh và chịu bệnh tật.

+ Giống dƣa chuột F1TK, dƣa chuột lai sao xanh 1 cho năng suất cao trung bình từ

35-45 tấn/ha, sinh trƣởng và phát triển khỏe, chống chịu sâu bệnh tốt, thích hợp cho cả vụ

xuân hè và thu đông.

+ Hành tây Grano và Gradex là giống nhập từ Pháp và Nhật Bản, là giống có dáng

đẹp, chất lƣợng ngon nên dễ xuất khẩu đƣợc ngƣời tiêu dùng trong nƣớc và nƣớc ngoài ƣa

thích.

+ Một số giống thuốc lá: giống thuốc lá C176, RG8, K339, K326 có chất lƣợng tốt,

năng suất từ 15-20 tạ / ha.

+ Một số giống mía: VN84-4137, VĐ79-117, VĐ63-237, ROC16, v.v... là những

giống mà có tỷ lệ nảy mầm cao, sức đẻ nhánh tốt, tỷ lệ bị sâu hại trung bình thấp, tỷ lệ trổ cờ

thấp, năng suất cao 65-100 tấn / ha, thâm canh tốt có thể đạt 110 tấn/ h a .

94

CHƢƠNG 3: ĐỊNH HƢỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ TRONG VÀ CHẾ

BIẾN CÂY THỰC PHẨM, CÂY CÔNG NGHIỆP NGẮN NGÀY Ở CÁC

QUẬN, HUYỆN NGOẠI THÀNH TPHCM

3.1. Cơ sở định hƣớng

3.1.1. Định hưởng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội TPHCM đến năm 2010

3.1.1.1. Những quan điểm phát triển kinh tế - xã hội TP. Hồ Chí Minh

♦ TPHCM phải phát triển với tốc độ nhanh trên cơ sở đảm bảo phát triển ổn định và

bền vững. Sự phát triển của TPHCM đặt trong chiến lƣợc phát triển của quốc gia và trong

mối quan hệ với chiến lƣợc phát triển của khu vực. Xuất phát từ vị trí và vai trò của vùng đối

với các vùng khác trong cả nƣớc, TPHCM phải phát triển để thoát khỏi tình trạng lạc hậu và

tụt hậu xa so với các nƣớc khác. Trong quá trình phát triển, cần phải sử dụng hợp lý nguồn tài

nguyên thiên nhiên, không gây tác hại lâu dài đến môi trƣờng. Phát triển vùng vừa có hiệu

quả kinh tế, vừa có hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trƣờng.

♦ TPHCM cần được phát triển toàn diện, nhưng có trọng tâm, cân đối, nhịp nhàng

trong tiến trình phát triển. Chú trọng phát triển trọng điểm song song với phát triển hài hòa

các khu vực còn lại. Phát triển nhanh công nghiệp và dịch vụ để đẩy nhanh quá trình công

nghiệp hóa và hiện đại hóa đi đôi với phát triển nông nghiệp, xây dựng cơ sở ổn định và bền

vững cho toàn bộ nền kinh tế. Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội, quốc

phòng. Lựa chọn bƣớc đi thích hợp chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mỗi chặng đƣờng

để tạo sự nhịp nhàng trong phát triển.

95

Đẩy mạnh nền sản xuất hàng hóa, trước mắt thực hiện chiến lược cơ động, phản ứng

nhanh với biến đổi của thị trường. Có các giải pháp về phát triển thị trƣờng đi đôi với phát

triển sản xuất. Tạo ra các yếu tố cần thiết cho việc xây dựng chiến lƣợc phát triển thị trƣờng

cho các giai đoạn tiếp theo.

Tạo dựng nền kinh tế có độ mở lớn, tăng nhanh tỉ trọng hàng hóa xuất khẩu. Nhanh

chóng thay đổi mặt hàng theo yêu cầu của thị trƣờng. Tạo những mặt hàng chủ lực cho vùng,

chuẩn bị các sản phẩm mũi nhọn cho thế kỷ XI. Chuẩn bị mọi điều kiện, cơ sở hạ tầng, cán

bộ khoa học công nghệ để chiếm lĩnh và mở rộng thị trƣờng ngay từ những năm đầu của thế

kỷ XI.

3.1.1.2. Mục tiêu phát triển kỉnh t ế - xã hội TP. Hồ Chí Minh đến năm 2010

* Các chỉ tiêu về kinh tế:

♦ Tốc độ tăng trƣởng của thành phố cao hơn tốc độ tăng trƣởng bình quân chung của

cả nƣớc và phát triển một cách toàn diện, cân đối và bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội.

Tốc độ tăng trƣởng GDP Thành phố Hồ Chí Minh bình quân thời kỳ 2000 - 2010 phấn đấu

đạt 12%/năm. Riêng giai đoạn 2001 - 2005 đạt bình quân 11,0%/năm và giai đoạn 2005 -

2010 đạt bình quân 13,0%/năm. Tƣơng ứng với 2 giai đoạn trên, tăng trƣởng của khu vực I là

2,0% và 1,7%; khu vực II: 10,0% và 12,7%/năm; khu vực III: 9,6% và 13,5%/năm. GDP bình

quân đầu ngƣời tăng từ 1.350 USD năm 2000 lên 1.980 USD năm 2005 và 3.100 USD năm

2010.

♦ Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng gia tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ,

phát triển kinh tế hƣớng mạnh xuất khẩu. Từ tỷ trọng 51,7% trong cơ cấu, khu vực dịch vụ

TPHCM phấn đấu đạt tỷ trọng 50,5% năm 2005 và 50% năm 2010. Khu vực công nghiệp -

xây dựng thay đổi từ 46,6% năm 2002 đạt 48,1% năm 2005 và 49,0% năm 2010. Khu vực

96

nông lâm - ngƣ nghiệp dự kiến sẽ giảm liên tục từ 1,7% (2002) xuống còn 1,4% năm 2005 và

0,8% năm 2010.

Hiện đại hóa các ngành dịch vụ, đặc biệt là các loại hình dịch vụ phục vụ sự chuyển

dịch cơ cấu kinh tế và công nghiệp hóa ngang tầm với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của

Bảng 3.1. Dự báo cơ cấu khu vực kinh tế TPHCM thời kỳ 2005 – 2010

Đơn vị tính: %

khu vực kinh tế trọng điểm Việt Nam và cả nƣớc:

Khu vực kinh tế 2005 2010

Dịch vụ 50,5 50,2

Công nghiệp - xây dựng 48,1 49

Nông - lâm - ngƣ nghiệp 1,4 0,8

Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh

Hình thành một cơ cấu các thành phần kinh tế hợp lý, liên kết hỗ trợ lẫn nhau,

bao gồm kinh tế Nhà nƣớc, kinh tế hợp tác, kinh tế tƣ nhân, kinh tế tƣ bản Nhà nƣớc

và khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, trong đó kinh tế Nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo.

Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng khá cao, nhƣng không thay đổi

nhiều trong cơ cấu. Khu vực đầu tƣ nƣớc ngoài sẽ tăng về giá trị tuyệt đối cũng nhƣ

cơ cấu suốt cả thời kỳ 2001 - 2010.

Bảng 3.2: Dự báo cơ cấu thành phần kinh tế TPHCM thời kỳ 2005 – 2010

Đơn vị tính: %

Nhà nƣớc 2010 2005

Ngoài Nhà nƣớc 40,7 37,1

Có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 27,1 25,6

Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh

97

♦ Phấn đấu duy trì tốc độ tăng trƣởng tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân năm giai

đoạn 2000 - 2005 là 22%/năm và giai đoạn 2006 -2010 là 20%/năm, tốc độ tăng tổng kim

ngạch nhập khẩu bình quân năm giai đoạn 2000 - 2005 là 17%/năm và giai đoạn 2006 - 2010

là 15%/năm.

* Đối với ngành công nghiệp :

- Tốc độ tăng trƣởng công nghiệp thời kỳ 2001 - 2005 có thể đạt mức 13%/năm và

giai đoạn 2006 - 2010 sẽ khoảng 12,7%/năm do các khu công nghiệp đã đƣợc lấp đầy, nhiều

xí nghiệp mới đầu tƣ trong những năm trƣớc đã đi vào hoạt động ổn định, nhƣng quy mô giá

trị tuyệt đối khá lớn, nên mức tăng trƣởng thấp hơn đôi chút so với 5 năm đầu. Trong thời kỳ

này hy vọng mọi khó khăn sẽ đƣợc tháo gỡ, thị trƣờng Mỹ sẽ đƣợc mở và các doanh nghiệp

đã tích lũy đƣợc nhiều.

- Điều chỉnh cơ cấu giá trị sản xuất theo hƣớng quốc doanh giảm (còn khoảng 35%

vào năm 2005 và 30% vào năm 2010), tăng phần liên doanh và đầu tƣ nƣớc ngoài (37% vào

năm 2005 và 42% vào năm 2010), ngoài quốc doanh có thể lở mức 28 - 30%.

- Đƣa sản phẩm công nghiệp của thành phố hội nhập vào thị trƣờng khu vực và Quốc

tế. Phấn đấu trong 10 năm tới giá trị hàng công nghiệp xuất khẩu đạt ổn định ở mức 70% -

75% tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn thành phố (trong đó hàng công nghiệp khu vực

kinh tế trong nƣớc khoảng 30 - 35%, khu vực có vốn nƣớc ngoài 40% - 45%).

- Tập trung đầu tƣ phát triển các ngành có sản phẩm chất lƣợng cao và có thị trƣờng

xuất khẩu. Trong những năm tới, các nhóm sản phẩm sau đây có rất nhiều triển vọng, bao

gồm: sản phẩm may mặc và giày - dép; thực phẩm chế biến (thủy hải sản, sản phẩm chế biến

từ gạo và bột mì, dầu thực vật, các loại gia vị, đồ uống...); nhựa và cao su (vỏ ruột xe các loại,

cao su kỹ thuật..) các loại; sản phẩm cơ khí (gia công hoặc sản phẩm chế tạo...): quạt điện, xe

đạp, các loại máy chế biến gạo, máy gia công kim loại, đặc

98

biệt là cơ khí chế tạo phục vụ cho các ngành kinh tế khác; hóa - mỹ phẩm (bột giặt, kem đánh

răng, dầu thơm và các loại mỹ phẩm...); sản phẩm điện tử (gia công hoặc sản phẩm chế

tạo...), thiết bị viễn thông, truyền thông.

- Tăng năng suất lao động đồng thời sử dụng có hiệu quả tài sản thiết bị, mặt bằng

hiện có để tạo thêm chỗ làm việc cho ngƣời lao động. Năng suất lao động sẽ góp phần hạ giá

thành sản phẩm và nhƣ vậy sẽ tăng tính cạnh tranh của hàng hóa. Kinh nghiệm làm ăn của

các doanh nghiệp thành đạt cho thấy chất lƣợng sản phẩm là một trong những yếu tố quyết

định thành bại. Công nghiệp thành phố phấn đấu thực hiện mục tiêu dù là sản phẩm dùng

trong nƣớc hay xuất khẩu đều phải có chất lƣợng cao nhƣ nhau.

* Đối với ngành nông nghiệp

- Về giá trị sản xuất: Đƣa tốc độ phát triển nông - lâm - ngƣ nghiệp từ nay đến năm

2005 bình quân 5,5%/năm; trong đó nông nghiệp tăng bình quân 5,56%; chăn nuôi sẽ phát

triển nhanh với tốc độ 7,5%; thủy sản tăng 4,9%; lâm nghiệp 6,3%. Sang thời kỳ 2005 - 2010,

ngành sẽ tăng trƣởng với tốc độ 4,85%/năm, trong đó nông nghiệp tăng khoảng 4,87%, thủy

sản tăng 5,8%, lâm nghiệp tăng 0,46%.

- Đẩy nhanh về phát triển nông nghiệp theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

nhằm tăng năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tạo ra nhiều nông sản hàng hóa có

chất lƣợng cao. Việc hiện đại hóa nông nghiệp trƣớc tiên là khâu giống. Với thế mạnh về

khoa học và công nghệ tiên tiến, tiếp cận nhanh chóng với kỹ thuật nông nghiệp hiện đại, đặc

biệt là công nghệ sinh học, tiến hành lai tạo ra các giống cây, con có năng suất chất lƣợng

cao, hình thành các trung tâm nghiên cứu giống cây trồng, vật nuôi và kỹ thuật nông nghiệp

tầm cỡ quốc gia, tiến tới tự tạo ra các bộ giống và ngân hàng giống có giá trị trao đổi quốc tế.

99

- Hiện đại hóa nông nghiệp còn đƣợc thể hiện qua việc gắn sản xuất với bảo vệ và cải

thiện cảnh quan môi trƣờng sinh thái trong lành để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh và

an toàn thực phẩm phục vụ tốt cuộc sống của hàng triệu dân đô thị.

- Từng bƣớc cơ giới hóa các khâu canh tác với các thiết bị thích hợp.

* Đối với việc phát triển kết cấu hạ tầng và ngành dịch vụ .

- Cải thiện đồng bộ và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thành phố nhằm nhanh

chóng khắc phục tình trạng quá tải hiện nay, đồng thời chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho

nhu cầu phát triển theo các mục tiêu đề ra. Tập trung đầu tƣ phát triển giao thông công cộng,

nâng cấp sân bay, bến cảng.., phát triển đội tàu biển và các cơ sở dịch vụ vận tải biển. Phối

hợp với các tỉnh lận cận nâng cấp quốc lộ 1A, 22, 13, 50, 51 và mở các trục đƣờng giao thông

mới nối liền thành phố với các vùng đô thị phát triển, các khu công nghiệp tập trung đang và

sẽ hình thành theo qui hoạch. Nâng cấp và bổ sung hệ thống giao thông đối ngoại của thành

phố cả về tuyến công trình đầu mối và phƣơng tiện vận tải thủy bộ, đảm bảo giao thông thuận

lợi giữa thành phố và khu vực phía nam, với cả nƣớc và giao thông xuyên Á.

- Giao thông vận tải: Trong giai đoạn sắp tới, TPHCM tập trung vào việc phát triển

mạng lƣới giao thông, theo đề án chỉnh qui hoạch chung đến năm 2010 đƣợc Chính phủ phê

duyệt nhằm giải quyết vấn đề nóng bỏng hiện nay là tắc nghẽn giao thông đô thị. Giao thông

đƣờng bộ, phấn đấu từ nay đến năm 2010 mật độ đƣờng đạt 1 km/1000 dân đối với khu vực

trung tân thành phố và 0,5km/1000 dân đối với khu vực còn lại. Về vận tải đƣờng sắt, đầu tƣ

xây dựng tuyến đƣờng sắt trên cao từ ga Hòa Hƣng đến thành phố Biên Hòa. Về vận tải

đƣờng sông, đầu tƣ nâng cấp các cảng sông phấn đấu đến năm 2010 đạt khối lƣợng hàng hóa

từ 3,2 triệu tấn đến 3,9 triệu tấn. Về vận tải đƣờng biển, phấn đấu từ nay cho đến năm 2010

hệ

100

thống cảng biển trên địa bàn TPHCM sẽ có tổng công suất từ 49 triệu tấn đến 55 triệu tấn.

- Điện năng: Theo dự báo nhu cầu, nhận điện từ lƣới quốc gia ƣớc tính khoảng 12,3 tỷ

Kwh vào năm 2005 và 20, 6 tỷ kwh vào năm 2010.

- Bƣu chính viễn thông: Từ nay đến năm 2010 xây dựng hoàn chỉnh mạng lƣới bƣu

chính 3 cấp, phát triển các dịch vụ bƣu chính viễn thông. Phấn đấu đến năm 2005 đạt bình

quân 28,4 máy/100 dân, năm 2010 đạt 35,9 máy/100 dân. Bên cạnh đó phát triển dịch vụ

internet, ƣớc tính đến năm 2005 sẽ có khoảng 160 nghìn số thuê bao và năm 2010 sẽ có 300

nghìn số thuê bao.

- Cấp nƣớc: Nhu cầu sản xuất nƣớc tính khoảng 2,3 triệu m3 /ngày vào năm 2010.

Đến năm 2005 đảm bảo 90% dân số nội thành cũ, 70% dân số nội thành mới và 50% dân số

ngoại thành đƣợc cấp nƣớc với chỉ tiêu 150 1/ngƣời/ngày đêm đối với khu vực nội thành cũ,

120 1/ngày đối với khu vực nội thành mới và 70 1/ngày đối với khu vực ngoại thành. Đến

năm 2010 đảm bảo 95% dân số nội thành cũ và 90% dân số nội thành với và 60% dân số

đƣợc cấp nƣớc với chỉ tiêu 180 1/ngƣời/ ngày đêm đối với khu vực nội thành cũ, 120

1/ngƣời/ngày đối với khu vực nội thành mới và 80 1/ngƣời ngày với khu vực ngoại thành.

- Thoát nƣớc: Đảm bảo đến năm 2010, TPHCM có khả năng giải quyết tổng lƣợng

nƣớc thải vào khoảng 2,3 triệu m3/ngày đêm, phấn đấu giải quyết cơ bản ngập úng đô thị toàn

thành phố với 2 hệ thống thoát nƣớc (nƣớc mƣa và nƣớc sinh hoạt), riêng nƣớc sinh hoạt

thông qua xử lý trƣớc khi thải ra sông rạch.

* Các chỉ tiêu về xã hội:

- Phấn đấu không còn hộ đói, giảm nghèo dƣới 8% tổng số hộ, giảm khoảng cách về

mức sống giữa hộ dân cƣ giàu nhất và hộ nghèo nhất từ trên 10 lần hiện nay xuống còn 5 - 6

lần vào năm 2010, xây dựng môi

101

trƣờng văn hóa, xã hội lành mạnh, tiên tiến, mang đậm bản sắc và truyền thống dân tộc, cải

thiện môi trƣờng rộng thoáng, sạch và xanh. Việc cung cấp nhà ở với giá phù hợp với các

tầng lớp dân cƣ khác nhau trong khu vực nội thành nhằm cải thiện cuộc sống của những

ngƣời nghèo, đƣợc đặt ra hàng đầu.

- Chiến lƣợc kinh tế - xã hội của thành phố đặt ra yêu cầu rất cao đối với việc phát

triển nguồn lao động, tăng nhanh lực lƣợng lao động qua đào tạo. Dự báo nhu cầu lao động -

việc làm khâu quan trọng trong việc hoạch định các chính sách đào tạo nghề để đáp ứng nhu

cầu nguồn lao động của thành phố về số lƣợng và chất lƣợng, đảm bảo đƣợc mục tiêu phát

triển của kinh tế - xã hội.

3.1.2. Định hướng sử dụng đất đến năm 2010

3.1.2.1 Quan điểm sử dụng đất

TPHCM đƣợc xác định là trung tâm nhiều chức năng của khu vực phía Nam. Đứng về

mặt kinh tế TPHCM là trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nƣớc, là trung tâm khoa học kỹ

thuật, trung tâm giao dịch thƣơng mại, tài chính và du lịch, là đầu mối giao lƣu trong nƣớc và

quốc tế. Với vị trí quan trọng nhƣ vậy, việc quy hoạch sử dụng đất nói riêng và tổ chức lãnh

thổ nói chung phải với tầm nhìn tổng thể đặt trong mối quan hệ với khu vực, với cả nƣớc và

quốc tế.

Diện tích của thành phố lại quá hạn hẹp trong khi yêu cầu phát triển lại quá lớn, đất

đai trở thành tài nguyên quý giá do đó sử dụng đất sao cho hiệu quả là mục tiêu đƣợc đặt ra.

Do vậy, việc quy hoạch sử dụng đất phải kết hợp cải tạo với xây dựng và mở rộng mới, đồng

thời bảo đảm tốt điều kiện môi sinh, môi trƣờng của nội và ngoại thành thành phố dựa trên

quan điểm thâm dụng, tiết kiệm, hợp lý và bồi bổ đất.

Thâm dụng phải đƣợc thể hiện qua việc cải tạo và xây dựng, triệt để khai thác tiềm

năng sẵn có về mặt kiến trúc, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng

102

xã hội mà quá trình hình thành và phát triển của thành phố đã tạo nên. Trong nông nghiệp, do

diện tích sẽ bị giảm để chuyển sang mục đích khác phải cố gắng áp dụng các thành tựu khoa

học kỹ thuật để thâm canh, thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, bảo đảm giữ nguyên hoặc

tăng hơn giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp hiện tại. Thâm dụng phải kết hợp với tiết

kiệm do diện tích quá hạn hẹp của thành phố, việc sử dụng đất phải hết sức hợp lý, không

đƣợc để thừa, để hoang hóa hoặc lãng phí đất đai. Việc sử dụng đất đai phải bảo đảm chất

lƣợng của đất, tránh tình trạng các hoạt động sử dụng đất làm giảm độ màu mỡ hay làm thoái

hóa. Do vậy sử dụng đất vào mục đích gì với hiệu quả ra sao là điều vô cùng quan trọng trong

việc quy hoạch sử dụng đất. Ngoài ra, việc quy hoạch sử dụng đất thành phố phải phản ánh

đƣợc quan điểm khai thác cảnh quan thiên nhiên với cây xanh, mặt nƣớc, hƣớng gió biển để

tạo nên môi trƣờng sống tốt nhất cho con ngƣời. Trong việc bố trí các công trình phải chú ý

đến việc cải thiện môi trƣờng sống và tổ chức tốt môi trƣờng sinh thái đô thị. Các khu công

nghiệp tập trung đƣợc bố trí tại các vùng ven và ngoài thành, với công nghệ không hoặc ít ô

nhiễm. Tất cả những quan điểm nói trên cần phải đƣợc thể hiện trong phƣơng hƣớng sử dụng

đất cho các mục đích sau đây:

* Đất nông nghiệp :

Trong vào năm gần đây quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh đang thu hẹp dần đất nông

nghiệp đã diễn ra nhiều nơi trên địa bàn thành phố. Trong tƣơng lai việc phát triển các khu

công nghiệp và khu dân cƣ mới chắc chắn sẽ đòi hỏi việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang

đất xây dựng. Phải tận dụng triệt để đất phi nông nghiệp và đất nông nghiệp có năng suất

thấp, phải tính cân nhắc toàn diện lựa chọn bƣớc đi hợp lý khi chuyển đổi đất nông nghiệp

sang các mục đích khác, bảo đảm tính tiết kiệm và hiệu quả trong sử dụng đất.

103

Đối với khu vực đƣợc quy hoạch cho sản xuất nông nghiệp, phải đƣa vào ứng dụng

các thành tựu khoa học kỹ thuật, áp dụng các giống mới cải tạo đất, xây dựng hệ thống thủy

lợi nhằm tăng năng suất và sản lƣợng cây trồng, bù đắp cho phần diện tích nông nghiệp bị

chuyển đổi sang mục đích khác. Quyền sử dụng đất phải đƣợc bảo đảm, nhờ đó nông dân sẽ

yên tâm và ổn định đầu tƣ vào sản xuất và cải tạo đất. Cần có chính sách khuyến khích các

thành phần kinh tế đầu tƣ phát triển vùng chuyên canh, các cơ sở chế biến. Xem xét lại việc

tổ chức sản xuất kinh doanh của các nông trƣờng quốc doanh để có hƣớng chuyển đổi kịp

thời, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

Đối với khu vực đất nông nghiệp đƣợc quy hoạch cho các dự án xây dựng, việc sử

dụng đất đai, đồng thời duy trì việc sản xuất nông nghiệp tạm thời tại các khu vực này trong

khi chờ đợi việc xây dựng. Quá trình thực hiện việc giao đất, thuê đất phải đƣợc theo dõi,

quản lý chặt chẽ để phát hiện ra những trƣờng hợp sử dụng đất không đúng mục đích, để

hoang hóa... sau đó thu hồi và chuyển sang sử dụng vào mục đích khác.

* Đất công nghiệp:

Về lâu dài, công nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển thành phố trong

những năm trƣớc mắt (thể hiện qua tỷ lệ phần trăm đóng góp cho GDP khá cao). Từ kinh

nghệm bố trí các khu công nghiệp hiện hữu đã gây ra ô nhiễm đáng kể cho khu dân cƣ lân

cận, việc quy hoạch phân bố các khu công nghiệp mới phải đƣa ra khỏi nội thành hiện hữu,

nhất là phải xa khỏi khu dân cƣ tập trung quá đông đúc. Tùy theo tính chất ngành công

nghiệp, việc bố trí khu dân cƣ phải đƣợc xem xét kỹ lƣỡng để tránh tình trạng khắc phục các

hậu quả của phát triển công nghiệp sau này, phải đƣa các khái niệm về phát triển bền vững

vào đề án quy hoạch. Số lƣợng khu công nghiệp phát triển chỉ nên ở mức độ vừa và cần tính

toán dựa trên mối tƣơng quan về phát triển công nghiệp trong vùng. Ƣu tiên phát triển các

104

ngành mũi nhọn, công nghiệp hiện đại và tiên tiến có qui mô phù hợp với thành phố.

Nguyên tắc bố trí công nghiệp nhƣ sau :

+ Loại công nghiệp sạch, công nghiệp ô nhiễm ở mức thấp có thể xử lý đƣợc, không

chiếm nhiều đất, lƣợng vận chuyển nguyên liệu và sản lƣợng hàng hóa không lớn, vẫn cho

tiếp tục tồn tại và phát triển có mức độ trong khu vực nội thành, chủ yếu là 4 quận ven. Loại

TTCN hiện hữu không gây ô nhiễm nên giữ lại ở nội thành nhằm tận dụng tay tay nghề và

giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động.

+ Loại công nghiệp, kể cả TTCN gây ô nhiễm môi trƣờng về hơi độc, khói bụi, nƣớc

thải, tiếng ồn đƣợc quy hoạch từng bƣớc chuyển ra ngoài vào các vùng ven và ngoại ô thành

phố, cách ly khu dân cƣ theo đúng quy phạm. Các biện pháp xử lý ô nhiễm phải dựa vào chỉ

tiêu bắt buộc khi cấp đất và cấp giấy phép xây dựng.

* Đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng:

Các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng trong tƣơng lai phải đƣợc phát triển dựa trên

quan điểm cải tạo, nâng cấp, tận dụng cơ sở đã có, mở rộng và xây dựng mới, hiện đại theo

tiêu chuẩn quốc tế, có tầm nhìn lâu dài và đặc biệt gắn kết chặt chẽ với yêu cầu an ninh quốc

phòng. Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng này phải bảo đảm không gây ảnh hƣởng đến sự phát

triển của thành phố. Trong thời gian tới, thành phố sẽ phát triển mở rộng ra khu vực xung

quanh nội thành, chủ yếu theo hƣớng Thủ Đức, Hóc Môn, Nhà Bè và Bình Chánh. Do đó,

phải chú ý để dành đất cho phát triển hệ thống giao thông đƣờng bộ và đƣờng sắt, bao gồm

tàu điện ngầm tàu điện ngầm hoặc treo nhằm bảo đảm lƣu thông thuận tiện và nhanh giữa

khu vực nội thành hiện hữu và khu vực nội thành phát triển, ngoại thành mới.

Trƣớc mắt, việc quy hoạch mở rộng phạm vi sử dụng đất cho cải tạo, nâng cấp và xây

mới hệ thống cơ sở hạ tầng nhu cầu, đƣờng, mạng lƣới cấp

105

điện, nƣớc, thoát nƣớc... Giai đoạn tiếp theo là chuẩn bị đất đai xây dựng mới các công trình

sản xuất và dân dụng trên cơ sở bảo đảm phân bố vị trí đúng và hợp lý.

* Đất cho thảm xanh

Việc quy hoạch thảm xanh phải quán triệt tính xuyên suốt yêu cầu cải thiện và bảo vệ

môi trƣờng sinh thái - cảnh quan đô thị, phát triển theo hƣớng bền vững. Trong việc quy

hoạch các khu công nghiệp tập trung phải chú ý bố trí đủ diện tích thảm xanh cách ly, tức

thảm xanh phòng hộ môi trƣờng trực tiếp tại chỗ và phải có quy hoạch bố trí thảm xanh ngay

từ đầu.

Cần coi trọng đƣa vào quy hoạch thành hệ thống cây trồng phân tán ở ngoại thành

mới, nhất là ven các lộ giới và dọc sông ngòi, kênh mƣơng. Đặc biệt, khu nội thành phát triển

nhất là phần tiếp giáp với khu vực nội thành hiện hữu cần bố trí các loại hình thảm xanh đủ

lớn để kết hợp phòng hộ môi trƣờng, ngăn ngừa ô nhiễm do các khu, cụm công nghiệp gây ra.

3.1.2.2. Dự báo cơ cấu sử dụng đất

Biến động về ranh giới hành chính - lãnh thổ : Do quy mô dân số nói chung và dân số

đô thị nói riêng tăng nhanh, do yêu cầu phân bố lại hợp lý dân cƣ, từ nay đến năm 2010, sẽ có

các biến động về ranh giới hành chính. Trƣớc tiên là sự thay đổi về ranh giới hành chính giữa

các quận, huyện. Đáng lƣu ý nhất là việc mở rộng khu vực nội thành từ nay đến năm 2010

bằng cách thành lập 7 quận mới với tổng diện tích dự kiến vào năm 2010 là 346,7km2.

Dựa vào điều kiện địa hình và xu hƣớng phát triển hiện nay, mỗi quận dự kiến sẽ chia

trung bình thành 8 phƣờng. Việc thành lập các quận mới này sẽ đòi hỏi việc chuyển đổi đất

nông nghiệp và các loại đất chƣa sử dụng sang các mục đích khác, chủ yếu là cho xây dựng

các khu dân cƣ, cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp và công viên.

106

* Đối với khu vực nội thành :

Theo tính toán dựa vào dự báo dân số, nhu cầu đất đai cho đô thị của TPHCM sẽ tăng

lên đáng kể. Từ nay đến năm 2010, cơ cấu sử dụng đất của Thành phố có những thay đổi

chính nhƣ sau :

- Đất dân cư: theo dự báo dân số do Viện kinh tế thực hiện, thì dân SỐ TP.HCM đến

năm 2010 khoảng 7,2 triệu, trong đó khu vực nội thành cũ khoảng gần 5 triệu dân, phần còn

lại sẽ đƣợc điều chuyển ra khu vực nội thành phát triển và các đô thị ngoại vi. Do diện tích

hạn hẹp của Thành phố nên các khu vực phát triển dân cƣ sẽ tận dụng các loại đất còn để

trống trong khu vực nội thành hiện tại nhƣ đất quân sự, cùng với việc chuyển đổi đất nông

nghiệp và một ít đất nghĩa địa sang dân dụng.

- Đất giao thông: đến năm 2010, theo hƣớng phát triển của thành phố, nhiều tuyến

đƣờng hiện hữu sẽ đƣợc mở rộng. Ngoài ra, một số tuyến đƣờng mới cũng sẽ đƣợc xây dựng

bằng cách mở song hành với các tuyến có sẵn, các cầu nối các khu trung tâm cũ với các khu

trung tâm mới ở Nhà Bè, Thủ Đức, xây dựng các vòng xoay tại các điểm giao cắt các tuyến

trục ra vào thành phố và các điểm giao với các đƣờng trục chính. Dự kiến diện tích đất giao

thông vào khoảng 2.912 ha (bao gồm luôn cả diện tích sân bay Tân Sơn Nhất).

- Đất công viên : do diện tích hạn hẹp của thành phố, diện tích cây xanh trong khu vực

nội thành hiện hữu sẽ chỉ tăng lên một ít để thỏa mãn chỉ tiêu 4 m2/đầu ngƣời. Do đó, diện

tích cần thêm cho phát triển công viên cây xanh sẽ vào khoảng 962 ha.

- Đất công nghiệp : diện tích đất công nghiệp trong 8 quận trung tâm của nội thành cũ

sẽ bị giảm đi khoảng 60 ha do việc di dời các xí nghiệp ô nhiễm ra bên ngoài, chỉ còn lại các

xí nghiệp TTCN không gây ô nhiễm; tuy nhiên diện tích lại tăng lên ở quận ven nhƣ quận 8

hay Gò vấp. Nhìn

107

chung, diện tích đất công nghiệp có tăng lên một ít, dự kiến tổng diện tích khoảng 1.229 ha.

- Đất quân sự: sẽ giảm đi nhiều do việc chuyển đổi sang thành khu dân cƣ mới, đặc

biệt ở quận Tân Bình, Phú Nhuận, Quận 10. Dự kiến diện tích đất quân sự giảm đi còn 1.428

ha.

- Đất nông nghiệp: một đặc điểm quan trọng là đến năm 2010, nội thành sẽ gần nhƣ

không còn đất nông nghiệp nữa (trừ một ít diện tích ở quận Gò Vấp dành cho trồng hoa) và sẽ

chuyển sang thành khu dân cƣ mới và phát triển thảm xanh. Dự kiến diện tích mất đi khoảng

1.630 ha.

* Đối với khu vực nội thành phát triển :

Với diện tích dự kiến gần 35.000 ha dành cho việc hình thành 7 quận mới, việc bố trí

sử dụng đất đặc biệt chủ yếu dành cho phát triển các khu dân cƣ đô thị mới và khu công

nghiệp mới với các trung tâm tài chính, ngân hàng, thƣơng mại, giao dịch: mạng lƣới giao

thông, đặc biệt những tuyến quan trọng có lộ giới rộng và có nhiều làn xe; công viên cây

xanh, các khu nghỉ mát, du lịch và thể thao. Trong số diện tích khoảng 3.000 - 3.200 ha dành

cho phát triển các khu công nghiệp tập trung, dự kiến đầu tƣ xây dựng và đƣa vào hoạt động

khoảng 1.800 - 2.000 ha trƣớc năm 2000, phần diện tích còn lại sẽ đƣợc tiếp tục đầu tƣ và

đƣa vào hoạt động trƣớc năm 2010.

Từ kinh nghiệm của khu vực nội thành hiện hữu, khu vực nội thành phát triển sẽ đƣợc

nghiên cứu và quy hoạch khá chặt chẽ, tránh đƣợc các sai lầm đã và đang diễn ra trong nội

thành.

Hiện nay, ở đây chủ yếu là đất nông nghiệp nên đến năm định hình, diện tích đất nông

nghiệp sẽ giảm đi rất nhiều, khoảng 85 - 90%.

* Đối với khu vực ngoại thành mới:

Đây là phần đất ngoại thành còn lại sau khi phát triển khu nội thành phát triển, diện

tích khoảng 160.400 ha. Nhìn chung, nơi đây sẽ hiện diện

108

các lõm đô thị phát triển trên cơ sở các thị trấn hiện hữu, một số đƣợc xây dựng mới. Tổng

diện tích các khu đô thị ngoại vi vào khoảng 19.000 -20.000 ha, trong đó diện tích đất dân

dụng khoảng 10.000 - 12.000 ha. Phần còn lại là đất vùng nông thôn, khoảng 140.000 -

142.000 ha.

3.2. Định hƣớng cụ thể đối với các quận, huyện ngoại thành TP.HCM

3.2.1. Quan điểm phát triển sản xuất nông nghiệp ở TPHCM

♦ Thứ nhất

- Để tƣơng xứng với vị trí trung tâm khu vực, cần đẩy nhanh việc phát triển nông

nghiệp, theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm tăng năng suất lao động và hiệu quả

của sản xuất nông nghiệp, tạo ra nhiều nông sản hàng hóa có chất lƣợng cao để đáp ứng nhu

cầu tiêu dùng tại thành phố và xuất khẩu, nâng cao mức sống vật chất và tinh thần, giảm dần

khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.

- Việc hiện đại hóa nông nghiệp ở ngoại thành trƣớc tiên là khâu giống: với thế mạnh

về khoa học và công nghệ tiên tiến, tiếp cận nhanh chóng với kỹ thuật nông nghiệp hiện đại,

đặc biệt là công nghệ sinh học, tiến hành lai tạo ra các giống cây, con có năng suất chất lƣợng

cao, hình thành các trung tâm nghiên cứu giống cây trồng, vật nuôi và kỹ thuật nông nghiệp

tầm cỡ quốc gia, tiến tới tự tạo ra các bộ giống và ngân hàng có giá trị trao đổi quốc tế.

- Hiện đại hóa nông nghiệp còn đƣợc thể hiện qua việc gắn sản xuất với bảo vệ và cải

thiện cảnh quan môi trƣờng sinh thái trong lành để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh và

an toàn thực phẩm phục vụ tốt cuộc sống của hàng triệu dân đô thị.

- Từng bƣớc cơ giới hóa các khâu canh tác với các thiết bị thích hợp.

109

- Trong 10 - 15 năm tới, sản xuất nông nghiệp của thành phố sẽ thu hẹp dần nhƣng

nông nghiệp vẫn là một nguồn sống của một bộ phận không nhỏ dân cƣ. Vì vậy, việc nâng

cao đời sống cho số dân này là nhiệm vụ của toàn xã hội. Việc nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu

kinh tế nông thôn và cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hƣớng có hiệu quả kinh tế cao nhất,

nghiên cứu vận dụng và phát triển các mô hình sản xuất không đất hoặc cần ít đất.

- Việc khôi phục và phát triển cơ sở hạ tầng đang là một trong những yêu cầu cấp

bách, vừa phục vụ cho sản xuất và đời sống ở ngoại thành vừa tạo tiền đề đô thị hóa mở rộng.

Vì vậy, cần tranh thủ mọi nguồn vốn để đầu tƣ nâng cao hiệu quả phục vụ của hệ thống giao

thông, phát triển các phƣơng tiện giao thông công cộng hiện đại, an toàn, rút ngắn thời gian

vận chuyển. Hiện đại hóa mạng lƣới thông tin đến tận xã và các khu dân cƣ tập trung, điện

khí hóa nông nghiệp nông thôn, đáp ứng nhu cầu điện, nƣớc, trƣớc hết cho các khu công

nghiệp, vùng sản xuất tập trung, khu dân cƣ.

♦ Thứ hai

Phải nhanh chóng và triệt để chuyển sang cơ chế mới trong sản xuất nông nghiệp trên

cơ sở giao quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài cho nông dân, theo Luật đất đai. Có chính sách

khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tƣ phát triển các vùng chuyên canh, các cơ sở chế

biến và các hoạt động dịch vụ phong phú đa dạng, xem nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, trong

đó chú trọng vai trò của trung nông (có vốn, biết tổ chức quản lý, thiết tha với sản xuất nông

nghiệp). Từ đó hình thành các tổ chức sản xuất từ thấp đến cao nhƣ kinh tế trang trại, xí

nghiệp nông - công nghiệp, bao gồm các xí nghiệp tƣ bản tƣ doanh nông - công nghiệp, hoặc

các xí nghiệp liên doanh với nƣớc ngoài. Giải quyết vấn đề nông dân nghèo (chiếm trên dƣới

20% số hộ) thông qua phát triển ngành nghề và các chính sách xã hội. Ngành nông nghiệp

nên tập trung vào các hoạt động KHKT, các dịch vụ "đầu vào", "đầu ra" của sản xuất nông

nghiệp. Sớm xem xét lại hƣớng

110

quản lý sử dụng đất cũng nhƣ tổ chức sản xuất kinh doanh của các nông trƣờng quốc doanh,

cho đấu thầu từng phần hoặc giao lại cho nông dân đối với các đơn vị làm ăn không có hiệu

quả.

♦ Thứ ba

Cần đầu tƣ thích đáng và có chính sách khuyến khuyến đƣa nhanh tiến bộ KHKT vào

sản xuất và đời sống ở ngoại thành. Ngân sách nhà nƣớc (TP và các huyện) cần dành phần

thỏa đáng cho các lĩnh vực sau đây:

- Điều tra nghiên cứu tổng hợp bổ sung về tự nhiên, tài nguyên kinh tế - xã hội phục

vụ cho quy hoạch phát triển và làm cơ sở luận chứng cho các đề án, các công trình xây dựng

qui mô lớn ở ngoại thành.

- Xây dựng các cở sở KHKT (trạm trại, thực nghiệm, giống, bảo vệ thực vật, thú y, kỹ

thuật canh tác...) và chuyển giao công nghệ đối với những lĩnh vực then chốt, mũi nhọn,

trƣớc hết là giống cây trồng, vật nuôi theo hƣớng hiện đại hóa.

- Điều tra nghiên cứu về xã hội làm cơ sở cho phát triển sự nghiệp y tế - giáo dục,

phúc lợi xã hội và xây dựng nông thôn mới.

- Đào tạo và huấn luyện cán bộ, đặc biệt là cán bộ quản lý, phù hợp với cơ chế mới.

3.2.2. Định hướng sử dụng tài nguyên - nhân lực

3.2.2.1. Định hướng sử dụng tài nguyên

Khai thác, sử dụng tài nguyên trên cơ sở phân chia các vùng :

- Vùng 1 : Phân bố ở vùng gò cao Đông Bắc Củ Chi (5.500 ha) và Bắc Thủ Đức,

Quận 9 (340 ha), chủ yếu là đất xám, đất vàng đỏ, khó khăn về nguồn nƣớc tƣới.

Ở Quận 9, hƣớng chủ yếu bố trí các công trình công viên văn hóa, giải trí, khu di tích

văn hóa lịch sử.

111

Ở Củ Chi hƣớng phát triển cây trồng chủ yếu là cao su, cây ăn trái (tƣới tiêu chủ động

và tiết kiệm nƣớc), cây lâm nghiệp (tràm bông vàng, bạch đàn). Đây cũng là địa bàn tập trung

các trại chăn nuôi di dời từ vùng đô thị và vùng đô thị hóa. Phát triển thêm các loại hình du

lịch sinh thái, nhà vƣờn, cây ăn trái để làm phong phú, hấp dẫn tuyến du lịch địa đạo di tích

lịch sử Bến Dƣợc, Bến Đình.

- Vùng 2: Vùng gò trung bình, triền, diện tích 20.230 ha, chiếm toàn bộ đất xám còn

lại các huyện Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn, nguồn nƣớc tƣới thuận lợi (nƣớc ngầm phong

phú, hệ thống kinh Đông).

Đây là vùng thuận lợi và có điều kiện thâm canh, sẽ phát triển 2 vụ lúa cây ngắn ngày,

chủ yếu là rau, đậu phộng mùa khô và một số diện tích chuyên rau, màu, cây ăn trái xung

quanh thổ cƣ.

- Vùng 3: Vùng phèn Tây Nam thành phố thuộc các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình

Chánh diện tích gần 9.000 ha. Nguồn nƣớc đang đƣợc ngọt hóa và cung cấp từ kinh Đông.

Hƣớng phát triển chủ yếu là mía và dứa, một số loại cây ăn trái thích hợp (kể cả dứa),

trồng cây lâm nghiệp và xây dựng các khu du lịch sinh thái.

- Vùng 4 : Vùng ven sông Sài Gòn, diện tích 10.400 ha. Phân bố ở các xã ven sông

Sài Gòn thuộc huyện Củ Chi (6800 ha), Hóc Môn (3100ha) và Quận Thủ Đức (500 ha) chủ

yếu là đất phù sa và đất phù sa trên nền phèn.

Hƣớng phát triển chủ yếu là cây ăn trái và kinh tế vƣờn, trồng lúa kết hợp với nuôi

thủy sản.

- Vùng 5: Vùng ven sông Đồng Nai thuộc Quận 2, Quận 9 chủ yếu là đất phù sa trên

nền phèn, diện tích khoảng 5000 ha.

112

Hƣớng phát triển chủ yếu là cây ăn trái, lúa kết hợp nuôi thủy sản, kinh tế vƣờn,

VAC.

- Vùng 6: Vùng cánh đồng giữa và Nam Bình Chánh diện tích khoảng 10.000 ha, đất

phù sa, phù sa nhiễm mặn theo mùa. Nguồn nƣớc sông rạch nhiễm mặn trung bình vào các

tháng mùa khô.

Hƣớng phát triển chủ yếu là lúa 2 vụ năng suất cao, đặc sản và lúa kết hợp nuôi thủy

sản, VAC, trồng cây ăn trái, rau, hoa (trên đất lên mô).

- Vùng 7: Vùng nhiễm mặn Nhà Bè, Cần Giờ, diện tích khoảng 7.000 ha. Đất phèn

tiềm tàng, đất phù sa trên nền phèn. Nhiễm mặn trên 6 tháng hàng năm. Chuyển đổi cơ cấu

cây trồng vật nuôi theo hƣớng giảm diện tích trồng lúa 1 vụ, phát triển các nghề nuôi tôm sú

(mô hình chuyên canh và tôm - lúa), phát triển kinh tế VAC, VACR (nuôi thủy sản dƣới tán

rừng).

- Vùng 8: Vùng rừng ngập mặn Cần Giờ.

Phân bố trên toàn bộ diện tích còn lại của huyện Cần Giờ chủ yếu là đất phèn tiềm

năng, nhiễm mặn nặng.

Hƣớng phát triển chính là rừng phòng hộ nuôi nhuyễn thể, sản xuất muối và khai thác

đánh bắt xa bờ, dịch vụ nghề cá và một số loại cây ăn trái trên vùng đất giồng ven biển Long

Hòa, Cần Thạnh. Chuyển hóa rừng phòng hộ thành khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn

Cần Giờ, xây dựng khu sinh quyển của thành phố phát triển du lịch sinh thái.

3.2.2.2. Định hướng sử dụng nhân lực

Thời kỳ 1975 - 1985 dân số ngoại thành có khoảng một triệu ngƣời, chiếm tỷ lệ

khoảng dƣới 28% dân số toàn thành phố. Kết quả điều tra dân số 1999 cho thấy dân số ở các

huyện và quận ven có tốc độ tăng (tốc độ tăng tự nhiên và tăng cơ học đều cao). Với lực

lƣợng lao động, tƣơng đối

113

lớn thành phố có kế hoạch bồi dƣỡng nâng cao trình độ, sử dụng hợp lý nguồn lao động này.

Trình độ văn hóa của nông dân ở nông thôn còn thấp, so với nội thành đa số là cấp 1,

và 2.

Trình độ chuyên môn của lao động các huyện ngoại thành còn thấp so với yêu cầu.

Trung bình cứ 1.000 lao động chỉ có 170 ngƣời có trình độ chuyên môn: trong đó 47 ngƣời

có trình độ công nhân kỹ thuật - nghiệp vụ, 35 ngƣời có trình độ cao đẳng, đại học.

Sự mất cân đối trong trình độ chuyên môn của ngƣời lao động gây khó khăn trong

thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Vì vậy, thành phố đã coi việc bồi dƣỡng nâng cao

trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ cho ngƣời lao động là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng

trong kế hoạch phát triển tổng hợp nên kinh tế thành phố nói chung và ngoại thành nói riêng.

3.2.3. Định hướng theo nghành

* Trồng trọt : Cây lúa, tuy hiệu quả không cao và giá trị hàng hóa không thể cạnh

tranh với các vùng lân cận nhƣng do điều kiện tự nhiên (đất đai, nguồn nƣớc) và tập quán của

nông dân nên sẽ thu hẹp dần, bố trí sản xuất hai vụ lúa trong năm, chuyển các vùng trũng

thấp chịu ảnh hƣởng triều mặn sang nuôi thủy sản nhất là nuôi tôm, phát triển các giống lúa

năng suất cao nhất là vùng kênh Đông, các giống lúa đặc sản ở vùng trũng thấp, vùng 1 vụ,

xây dựng vùng sản xuất giống cùng với các biện pháp đẩy mạnh thâm canh với giống mới, cơ

giới hóa... phấn đấu tăng năng suất lúa bình quân đạt 3,4 tấn/ha/vụ. Tiếp tục phát triển trồng

bắp lai và một số cây lƣơng thực khác.

- Cây rau - đậu thực phẩm: Diện tích cây trồng tập trung giảm nhanh ở các quận mới

vùng đô thị hóa nhƣng vẫn còn tồn tại và phát triển nhanh, đáng kể là khu qui hoạch nhà

vƣờn và các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Cần Giờ, Bình Chánh. Phát triển trồng rau không cần

đất (hoặc ít đất) cùng với

114

sự phát triển của học sinh. Dự kiến diện tích trồng rau đậu các loại đến năm 2010 có khoảng

9.000 ha chủ yếu là rau sạch, sản lƣợng 200 - 220.000/tấn.

- Cây công nghiệp ngắn ngày :

+ Cây mía : Sẽ thu hẹp từ 4.400 ha (năm 2000) còn khoảng 4.000 ha (205) và 3.000

(20010) dọc kinh Thầy Lai - An Hạ (vùng III) và xây dựng kinh tế nhà vƣờn dọc sông Sài

Gòn (vùng IV, Hóc Môn - Củ Chi). Tiếp tục thay đổi giống mía có năng suất và độ đƣờng

cao. Thực hiện chƣơng trình hợp tác đầu tƣ, tiêu thụ sản phẩm với các nhà máy đƣờng.

+ Cây đậu phộng : Có điều kiện mở rộng diện tích gieo trồng và tăng năng suất ở

vùng kênh Đông Củ Chi, Hóc Môn, Bắc Bình Chánh, duy trì 3.000 - 4.000 ha đậu phông phát

triển giống mới và cơ giới hóa quá trình sản xuất.

- Cây lâu năm : Cây ăn trái: tập trung phát triển dọc sông Sài Gòn (vùng IV), sông

Đồng Nai (vùng V), ven kinh Thầy Lai - An Hạ (vùng III), vùng Long Hòa, cần Thạnh - Cần

Giờ (vùng VIII), gắn với kinh tế nhà vƣờn và các khu nghỉ ngơi, du lịch sinh thái. Tiếp tục

thực hiện chƣơng trình cải tạo và trồng giống mới các giống cây có giá trị, dự kiến diện tích

cây ăn trái đến năm 2005 là 10.000 ha, đến năm 2010 là 12.000 ha vào năm 2010 (hiện nay

đã có 3.100 ha).

- Hoa cây kiểng : Có nhu cầu và điều kiện phát triển thuận lợi. Dự kiến mở rộng diện

tích lên trên 1.000 ha sau năm 2005, tập trung chủ yếu ở Gò Vấp, Hóc Môn, Quận 12, Quận 9

và Bình Chánh.

* Chăn nuôi : Nâng cao tỷ trọng ngành chăn nuôi và chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu

kinh tế nông nghiệp ngoại thành. Đẩy mạnh sản xuất các loại con giống tốt phục vụ cho chăn

nuôi heo, gà, bò, sữa ở thành phô và các tỉnh, thành trong cả nƣớc.

115

Phát triển chăn nuôi theo hƣớng hiện đại hóa ở tất cả các khâu sản xuất giống, thức

ăn, chuồng trại, chăm sóc, xử lý chất thải và chế biến sản phẩm chăn nuôi. Bảo đảm sản

phẩm chăn nuôi đủ tiêu chuẩn về chất lƣợng thịt và vệ sinh thực phẩm, có khả năng cạnh

tranh trên thị trƣờng trong nƣớc và xuất khẩu.

Tập trung các đối tƣợng nuôi chính : heo, gà công nghiệp, bò sữa và một số vật nuôi

có giá trị kinh tế.

Tập trung phát triển nâng cao chất lƣợng, giá trị đàn giống gốc gia súc, gia cầm, tích

cực cải tạo nâng cao chất lƣợng giống thƣơng phẩm, đảm bảo sản phẩm chăn nuôi đạt tiêu

chuẩn chất lƣợng, an toàn cho tiêu dùng và xuất khẩu kết hợp với các biện pháp hạ giá thành

sản phẩm, đảm bảo hiệu quả và tăng tính cạnh tranh các sản phẩm chăn nuôi (cả về con

giống, thịt, trứng, sữa...). Phát triển các mô hình chăn nuôi bán công nghiệp ở các vùng khó

khăn, điều kiện tự nhiên không thuận lợi nhƣ Cần Giờ, Nhà Bè, các phí chăn nuôi công

nghiệp kỹ thuật và trình độ thâm canh cao ở vùng qui hoạch nông nghiệp lâu dài (Củ Chi).

* Thủy sản

+ Về đánh bắt xa bờ: Đẩy mạnh chƣơng trình kinh tế biển của thành phố, trọng tâm là

đầu tƣ khai thác đội tàu đánh bắt xa bờ, công suất trên 250 cv/chiếc. Phấn đấu đến năm 2005

đội tàu khai thác xa bờ thành phố có 140 - 150 chiếc và đến năm 2010 có trên 200 chiếc (hiện

nay có 130 trên 90 cv).

+ Về nuôi trồng /Diện tích nuôi trồng có điều kiện mở rộng ở vùng nƣớc ngọt, trong

các hệ thống thủy lợi (kênh Đông, N 31A, Củ Chi, Bắc Bình Chánh, Hóc Môn). Kinh tế vƣờn

ven sông Sài Gòn, Đồng Nai...với các mô hình VAC, nông ngƣ kết hợp và phát triển nuôi

dƣới tán rừng ngập mặn Cần Giờ. Dự kiến diện tích nuôi thủy sản đến năm 2010: Vùng nƣớc

ngọt 1.200 - 1.500 ha (năm 2000 : 1.200 ha), vùng nƣớc lợ mặn 10.000 -

116

12.000 ha (năm 2000 : 24800 ha) trong đó nuôi nghêu, sò vùng bãi bồi ven biển 2.500 ham

nuôi tôm công nghiệp - bán công nghiệp 4.000 - 4.500 ha, nuôi tôm quảng canh 1.000 ha,

nuôi tôm - lúa 3.500 - 4.000 ha. Huyện Cần Giờ nuôi tôm công nghiệp 4.000 ha, bán công

nghiệp (Bình Khánh 400 ha, Tam Thôn Hiệp 700 ha, An Thới Đông 1.200 ha, Lý Nhơn 1.700

ha) nuôi luân canh ruộng lúa 2.600 - 3.000 ha; huyện Nhà Bè nuôi công nghiệp, bán công

nghiệp 500 ha ở xã Hiệp Phƣớc, nuôi tôm luân canh ruộng lúa 1.000 ha (Hiệp Phƣớc, Nhơn

Đức, Phƣớc Lộc, Phƣớc Kiểng). Nuôi tôm càng xanh (vùng nƣớc ngọt) Củ Chi: 50 ha, quận

9: 50 ha.

Phát triển các giống thủy sản, khuyến khích các thành phần kinh tế khác nhau cùng

tham gia sản xuất giống thủy sản và thức ăn chế biến cho ngành nuôi thủy sản. Phấn đấu đến

năm 2010 sản xuất 800 - 1.000 triệu giống tôm, cá/năm.

* Lâm nghiệp: Cây xanh và rừng phòng hộ đã và đang sẽ có tác động tích cực trong

vai trò cải thiện môi sinh, cảnh quan và môi trƣờng thành phố. Trên cơ sở vốn rừng hiện có sẽ

tiếp tục đầu tƣ trồng mới, chăm sóc, bảo vệ, hình thành các khu du lịch sinh thái, làm công

viên văn hóa, lịch sử và khai thác tổng sử và khai thác tổng hợp mà hƣớng chủ đạo là phòng

hộ môi trƣờng. Phấn đấu tăng tốc che phủ cây xanh toàn thành phố từ 28,7% hiện nay lên

35% vào năm 2010.

3.2.4. Định hướng theo lãnh thổ

- Đẩy mạnh đầu tƣ phát triển các vùng : kết hợp công nghệ hiện đại và công nghệ

truyền thống để tạo giống mới, chất lƣợng tốt cung cấp cho nhu cầu sản xuất và chuyển đổi.

Ở các vùng (Vùng 1) khó khăn nguồn nƣớc tƣới nên hƣớng về các loại cây tƣới tiêu chủ động

và tiết kiệm nƣớc, ở các vùng 2, 3, 4 nên có mô hình sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao

nhƣ kinh tế vƣờn kết hợp du lịch sinh thái, trồng lúa và nuôi trồng thủy sản; Vùng 5

117

giảm đất trồng lúa, phát triển nuôi và dịch vụ thủy sản (tôm, cá, sản xuất giống thủy sản...).

- Trang bị cơ sở vật chất cho các khâu trong toàn bộ qui trình sản xuất: tập trung cơ

giới hóa, các khâu làm đất, tƣới tiêu nƣớc, thu hoạch, vận chuyển, sơ chế, bảo quản, chế biến

nông sản nhất là các sản phẩm thu hoạch theo mùa mƣa. Phấn đấu năm 2005, cơ giới hóa

trong làm đất gieo trồng đạt 80% diện tích, trên 50% cơ sở chăn nuôi thủy sản sử dụng cơ

điện thay thủ công trong các công việc nặng.

- Mỗi vùng trở thành một đơn vị sản xuất hàng hóa chất lƣợng cao: phát triển các

vùng chuyên canh cây ăn trái cây rau, cây công nghiệp tạo thuận lợi đầu tƣ cơ sở hạ tầng

phục vụ sản xuất và áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật mới. Thay dần diện tích cây

điều và các cây phân tán ở vùng đồi cao hiệu quả thấp bằng cây cao su và đồng cỏ chăn nuôi,

xác định giống và cơ giới hóa là yếu tố quan trọng để hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp ở

ngoại thành nhằm nâng cao năng suất lao động, năng suất cây trồng và nhất là tăng cao hệ số

sử dụng ruộng.

3.3. Các giải pháp cụ thể

3.3.1. Giải pháp về thị trường tiêu thụ

Vị trí địa lý của TPHCM là một trong những điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất

và mở rộng thị trƣờng trong nƣớc và ngoài nƣớc.

TPHCM nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có nhu cầu rất lớn về các sản

phẩm chế biến lƣơng thực và thực phẩm, trong đó có cả những sản phẩm chế biến từ rau, quả

và cây CN ngắn ngày. Thị trƣờng nƣớc ngoài nhƣ Nhật Bản, EU, Singapore... là những khách

hàng thƣờng xuyên về những mặt hàng này. Đây chính là cơ sở và động lực thúc đẩy

TPHCM phát huy thế mạnh và tiềm năng của ngành trồng và chế biến cây thực phẩm và cây

CN ngắn ngày.

118

Đối với các quận và huyện ngoại thành cần phát triển các HTX, các hình thức kinh tế

hợp tác làm dịch vụ, kinh doanh, thu mua bảo quản và chế biến cây thực phẩm và cây CN

ngắn ngày; đồng thời khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp nhà nƣớc

đầu tƣ, hợp tác gắn bó với vùng nguyên liệu tổ chức tốt quyết định số 80/TT về tiêu thụ nông

sản phẩm thông qua hợp đồng.

Xây dựng và triển khai thực hiện chƣơng trình xúc tiến thƣơng mại, mở rộng thị

trƣờng xuất khẩu, tiêu thụ sản phẩm của nông dân, tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc;

kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành pháp luật, các quy định về xuất nhập khẩu, cạnh tranh

không lành mạnh.

3.3.2. Giải pháp về vốn và tín dụng đầu tư

* Về tín dụng

- Vốn tín dụng ƣu đãi của Nhà nƣớc cần tập trung và tăng cƣờng cho phát triển cơ

giới hóa, đổi mới công nghệ và thiết bị chế biến nông sản, kiên cố hóa kênh mƣơng thủy lợi.

- Tăng cƣờng vốn tín dụng trung và dài hạn cho nông dân và các hộ sản xuất với các

thủ tục và điều kiện vay thuận lợi hơn trong các lĩnh vực : ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và giống

mới, đầu tƣ cho các thiết bị cơ giới kỹ thuật phục vụ sản xuất v.v...

* Về vốn

- Thực hiện phƣơng châm nhà nƣớc và nhân dân cùng làm và xã hội hóa trong đầu tƣ

xây dựng, khai thác các công trình hạ tầng nhất là thủy lợi, giao thông, điện, nƣớc.

- Tăng tỉ trọng vốn ngân sách đầu tƣ cho cơ sở vật chất kỹ thuật nông nghiệp trong

tổng vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản của thành phố.

- Đối với vốn ngân sách nhà nƣớc:

119

+ Cần đầu tƣ xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ các công trình thủy lợi đang thi công dở

dang, chƣơng trình kiên cố hóa kênh mƣơng, các dự án đƣờng kết hợp để ngăn lũ, phục hồi

và nâng cấp các công trình thủy lợi và phòng chống lụt bão.

+ Đầu tƣ xây dựng mới là từng bƣớc hiện đại hóa các cơ sở sản xuất giống, các trạm

trại, phục vụ trực tiếp cho sản xuất của nông dân nhƣ: xây dựng trạm khuyến nông, BVTV;

tăng cƣờng vốn ngân sách cho các họat động khuyến nông; xây dựng các cơ sở sản xuất

giống cây và tiếp tục đầu tƣ nhập những giống mới cho năng suất cao, chất lƣợng tốt.

3.3.3. Giải pháp về xây dựng hệ thống tổ chức liên kết sản xuất

Quá trình phát triển của ngành sản xuất và chế biến cây thực phẩm, cây CN ngắn ngày

tạo ra đƣợc sản phẩm hàng hóa nhƣng sự kết hợp vẫn manh mún và mang tính tự phát là

chính. Việc giải quyết "đầu ra" cho nông dân chủ yếu thông qua tƣ thƣơng nên giá thu mua

nguyên liệu không cao. Từ đó dẫn đến khó khăn trong việc hình thành các vùng nguyên liệu

ổn định và tập trung. Do đó cần thiết lập những tổ chức của những nông dân trồng cây thực

phẩm và CN ngắn ngày tại vùng nông thôn (cụ thể: tổ hợp tác trông rau đậu; tổ hợp tác trồng

thuốc lá, tổ hợp tác trồng mía, tổ hợp tác trồng lạc). Nhiệm vụ của các tổ hợp tác này là giúp

đỡ các hộ nông dân thành viên trong sản xuất từ đầu cho đến cuối nhƣ: cung ứng vật tƣ kỹ

thuật, cơ giới làm đất, chăm sóc thu hoạch, hoạt động tín dụng, vận chuyển và tiêu thụ nông

sản v.v... Ngoài ra các tổ hợp tác này sẽ trực tiếp quan hệ mua bán nguyên liệu ký hợp đồng

với các doanh nghiệp chế biến, cung cấp thông tin thị trƣờng, phổ biến và áp dụng những kỹ

thuật canh tác mới, giống mới cho các nông hộ trong vùng. Nhƣ vậy sẽ hạ chi phí trong quá

trình sản xuất.

120

3.3.4. Giải pháp về thủy lợi

Đẩy nhanh tiến độ đầu tƣ, xây dựng các công trình thủy lợi Hóc Môn - Bắc Bình

Chánh (kể cả khu vực điều chỉnh mở rộng ở Nhị Xuân, Tam Tân - Thái Mỹ); An Phú - Phú

Mỹ Hƣng (Huyện Củ Chi); Bình Lợi (Huyện Bình Chánh); chƣơng trình kiên cố hóa kênh

Đông, thủy lợi nội đồng các quận huyện.

Triển khai xây dựng các dự án đắp đê bao ven sông Sài Gòn (Quận 12, Hóc Môn, và

Bắc Rạch Trà); nạo vét rạch Tham Lƣơng - Bến Cát, dự án tiêu thoát nƣớc Nam Sài Gòn.

Tổ chức khảo sát, nghiên cứu điều chỉnh qui hoạch thủy lợi thành phố đến năm 2010,

2020; chú ý vấn đề sử dụng tiết kiệm, các hiệu quả các nguồn nƣớc mặt, nƣớc ngầm, nƣớc

mƣa và nguồn nƣớc điều tiết, xã lũ của các công trình thủy lợi, thủy điện thƣợng nguồn để

phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và

cung cấp nƣớc sinh hoạt nông thôn; vấn đề ngọt hóa ở các vùng bị nhiễm mặn và tạo nguồn

hòa loãng, giảm nồng độ ô nhiễm các kênh rạch vùng ven và vùng nội thành.

Nghiên cứu lập dự án đầu tƣ đƣờng kết hợp đê bao ngăn lũ ven sông Sài Gòn (khu

vực quận Thủ Đức), ven sông Đồng Nai (Quận 2, 9); các dự án kiểm soát lũ, chống xói lỡ và

bảo vệ các bờ sông rạch lớn; các dự án ngọt hóa phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở vùng

bị nhiễm mặn; các dự án thủy lợi kết hợp phát triển hạ tầng các vùng rau an toàn, cây ăn trái,

mía, đậu phông trồng tập trung, các vùng nuôi thủy hải sản, nuôi tôm ở Cần Giờ, Nhà Bè.

Thực hiện phƣơng châm "Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm" trong đầu tƣ xây dựng

thủy lợi. Nhà nƣớc đầu tƣ xây dựng các công trình đầu mối, cống điều tiết chính, kênh cấp 1,

2; cống đầu kênh cấp 3. Các huyện vận động nhân dân đầu tƣ kênh cấp 3, mƣơng rãnh nội

đồng, bảo đảm công

121

trình đƣợc thi công đồng bộ (cả đầu mối và nội đồng) phát huy hiệu quả. Xây dựng thủy lợi

kết hợp với giao thông nông thôn và tạo nguồn nƣớc sạch cung cấp cho sinh hoạt vùng nông

thôn, thực hiện chế độ duy tu, bảo dƣỡng định kỳ, ngăn chặn sự xuống cấp các công trình

thủy lợi.

Nâng cao hiệu quả công tác khai thác sử dụng, quản lý bảo vệ công trình. Ổn định

phƣơng thức hoạt động, nâng dần hiệu quả và phát triển thêm các tổ đƣờng nƣớc, tổ thủy lợi,

tổ thủy nông ở các vùng sản xuất nông nghiệp. Nghiên cứu xây dựng một số hợp tác xã làm

dịch vụ thủy lợi và cung cấp nƣớc sạch cho nông thôn.

3.3.5. Giải pháp về khoa học - công nghệ

Tăng cƣờng đầu tƣ, chỉ đạo công tác nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa

học - công nghệ và khuyến nông.

Tiếp thu, ứng dụng chọn lọc các thành quả nghiên cứu về công nghệ sinh học, nghiên

cứu cơ bản của các trƣờng đại học, Viện nghiên cứu trong và ngoài nƣớc, của các tỉnh và

kinh nghiệm nông dân sản xuất giỏi. Tổ chức tốt công tác thông tin, tuyên truyền, tập huấn

khuyến nông rộng rãi cho nông dân và các hộ sản xuất.

Tổ chức mở rộng các loại hình dịch vụ, tƣ vấn khoa học kỹ thuật kinh tế qui trình, về

qui trình, công nghệ sản xuất, giống, bảo vệ thực vật, ... tiêu thụ, chế biến, kinh doanh nông

sản.

Củng cố, nâng cấp các cơ sở nghiên cứu, trang bị phƣơng tiện phân tích xét nghiệm

chuyên ngành, đảm bảo độ chính xác và sự tin cậy trong các hoạt động kiểm tra sản phẩm

tƣơi sống và chế biến, nhất là các độc chất hóa học, thuốc trừ sâu còn tồn đọng trong rau, quả

Phát huy vai trò động lực của khoa học - công nghệ: Gắn kết giữa nghiên cứu - ứng

dụng; giữa các cơ quan nghiên cứu, cơ quan quản lý nhà nƣớc với các hộ sản xuất, hộ nông

dân nhằm đƣa nhanh và có hiệu quả kết

122

quả nghiên cứu vào công tác quản lý, vào sản xuất - kinh doanh trên địa bàn nông thôn và

nông nghiệp ngoại thành.

3.3.6. Giải pháp về đất đai

Phối hợp với Sở Nhà đất - Địa chính, UBND quận, huyện các sở, ngành liên quan để

khảo sát, thống kê lại tình hình quản lý, sử dụng đất đai với đối tƣợng chƣa đƣợc cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất, có kế hoạch hoàn thành dứt điểm sớm về giao đất và cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất cho số hộ nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp.

Bổ sung và hoàn chỉnh lại qui hoạch sử dụng đất nông nghiệp cho phù hợp chƣơng

trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi; pháp lý hóa qui hoạch chi tiết cho các quận,

huyện có sản xuất nông nghiệp, thực hiện qui chế dân chủ trong công tác qui hoạch, kế hoạch

sử dụng đất.

Nghiên cứu, triển khai các biện pháp cải tạo, bồi dƣỡng đất sản xuất; hạn chế xâm

nhập mặn, sự cố tràn dầu; chống xói mòn, lở ....

Nghiên cứu đề xuất để điều chỉnh một số chính xác về giá đất, thu hồi đất, đền bù giải

tỏa phù hợp với thực tế nhằm khai thác tốt hơn quỹ đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất

nông nghiệp, di dời, giải phóng mặt bằng trong đầu tƣ xây dựng ...

3.3.7. Giải pháp phát triển cơ giới hóa

Chú trọng phát triển cơ giới hóa các khâu làm đất, tƣới tiêu nƣớc, thu hoạch, vận

chuyển, sơ chế, bảo quản, chế biến nông sản nhất là các sản phẩm thu hoạch trong mùa mƣa.

Tổ chức cung cấp cho nông dân các loại thiết bị với chất lƣợng và giá cả thích hợp,

phù hợp với điều kiện về đất đai và giao thông nông thôn. Phấn đấu đến năm 2005 cơ giới

hóa trong làm đất gieo trồng đạt 80% diện tích; trên 50% cơ sở chăn nuôi, thủy sản sử dụng

cơ - điện thay thế thủ công trong các công việc năng nhọc.

123

Tập trung cơ giới hóa quá trình sản xuất một số cây trồng hàng năm chính (lúa, rau,

đậu phộng, mía ...)

Hoàn thành chƣơng trình kiên cố hóa kênh Đông Củ Chi; từng bƣớc tự động hóa các

thao tác điều tiết nƣớc tƣới tiêu, tăng diện tích ngọt hóa và chủ động tƣới tiêu lên 70%.

3.3.8. Giải pháp về giống cây chất lượng cao

Đảm bảo có đủ cây chất lƣợng tốt cung cấp cho nhu cầu sản xuất và chuyển đồi cơ

cấu sản xuất cho ngoại thành, từng bƣớc hình thành trung tâm giống cây cho các tỉnh trong

khu vực xuất khẩu giống. Kết hợp công nghệ hiện đại và công nghệ truyền thống theo hƣớng

sử dụng ƣu thế lai, áp dụng công nghệ sinh học trong lai tạo giống. Xây dựng hệ thống sản

xuất và dịch vụ giống cây trồng phù hợp với cơ chế thị trƣờng. Khuyến khích các thành phẩm

kinh tế trong và ngoài nƣớc tham gia vào việc nghiên cứu, lai tạo, sản xuất và cung cấp các

loại giống tốt cho ngƣời sản xuất.

Xây dựng và thực hiện các dự án đầu tƣ, tăng cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao năng

lực cán bộ trong lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và quản lý nhà nƣớc về giống cây giống con.

Trƣớc mắt cần triển khai đầu tƣ trại giống cây trồng Đồng Tiến (Quận 12, Củ Chi) công suất :

một triệu giống cây ăn quả, 6.000 kg hạt giống rau; 300.000 cây kiểng mỗi năm vào năm

2005.

Xây dựng một số cơ sở sản xuất dịch vụ giống qui mô kinh tế hộ gia đình ở ngoại

thành, dự án đầu tƣ và tổ chức hoạt động trung tâm kiểm dịch giống cây trồng thành phố.

Từng bƣớc đầu tƣ xây dựng khu nông nghiệp công nghiệp cao ở củ Chi.

3.3.9. Định hình các vùng sản xuất tập trung

Để đầu tƣ cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và có điều kiện thuận lợi ứng dụng thành

tựu khoa học, công nghệ mới. Tiếp tục thực hiện chƣơng

124

trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện giảm diện tích đất nông

nghiệp hàng năm và đặc điểm của vùng nông thôn ven đô thị lớn. Giảm dần diện tích trồng

lúa năng suất thấp, chuyển sang nuôi trồng thủy sản và các loại cây con có giá trị kinh tế cao.

Chú trọng phát triển cây ăn trái, cây kiểng, hoa tƣơi, rau sạch, cỏ chăn nuôi và cây công

nghiệp (đậu phông, mía, cao su). Từ nay đến năm 2005 : giảm diện tích đất lúa 4 - 5000 ha;

ổn diện tích trồng các loại rau, đậu thực phẩm, đậu phông, mía; tăng diện tích cây ăn trái lên

10.000 ha (tăng thêm trên 1.500 ha); tăng diện tích trồng hoa, cây kiểng ... sử dụng giống mới

và các biện pháp thâm canh, chăm sóc, bảo vệ thực vật để tăng năng suất, sản lƣợng cây

trồng.

125

KẾT LUẬN

Tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày là một

thực tế khách quan trong quá trình phát triển của lực lƣợng sản xuất, một bộ phận không thể

tách rời của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp. Tổ chức lãnh thổ nông - công nghiệp trồng và chế

biến cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày là tạo ra mối quan hệ chặt chẽ và hợp lý giữa

sản xuất và chế biến nhằm khai thác tiềm năng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội để

tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất.

TPHCM có tiềm năng rất lớn về tự nhiên, kinh tế - xã hội. Đó là những điều kiện rất

thuận lợi cho cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày phát triển. Các loại cây thực

phẩm và công nghiệp ngắn ngày có ý nghĩa rất to lớn trong việc cung cấp thực phẩm cho con

ngƣời, cho chăn nuôi cũng nhƣ trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Tuy nhiên các quận,

huyện ngọai thành TPHCM chƣa khai thác hết tiềm năng của cây thực phẩm, cây công

nghiệp ngắn ngày, mối quan hệ giữa trồng và chế biến còn mang tính tự phát, chƣa có sự phối

hợp chặt chẽ đôi bên cùng có lợi.

Do đó việc thực hiện đề tài: "Tổ chức lãnh thổ nông - công nghiệp trồng và chế

biến cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày ở các quận huyện TPHCM" nhằm giải

quyết một phần những vấn đề đó.

Những kết quả nghiên cứu của đề tài:

1. Tổng quan có chọn lọc những vấn đề cơ bản về tổ chức lãnh thổ sản xuất nông -

công nghiệp của nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc. Đề tài cũng tìm hiểu, nghiên cứu các mô

hình tổ chức lãnh thổ giữa trồng và chế biến liên kết nông - công nghiệp một số nông sản của

Việt Nam.

2. Đề tài đánh giá các nguồn lực tự nhiên và kinh tế xã hội của TPHCM đối với hiện

trạng sản xuất và chế biến cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm của TPHCM từ năm

1995 đến nay.

126

3. Từ hiện trạng sản xuất và chế biến cây công nghiệp ngắn ngày cây thực phẩm ở các

huyện ngoại thành TPHCM cho thấy: diện tích trồng các loại cây trên, giảm liên tục do ảnh

hƣởng của quá trình đô thị hóa, từ đó dẫn đến sản lƣợng cũng giảm theo mặt dù năng suất

tăng khá cao do áp dụng tốt các biện pháp trong kỹ thuật canh tác, thủy lợi, giống, phân bón...

4. Trên cơ sở xem xét, phân tích các môi quan hệ giữa trồng và chế biến cây công

nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm cho thấy liên kết nông công nghiệp còn chƣa vững chắc,

mang tính tự phát mặc dù nguồn nguyên liệu không đáp ứng kịp năng lực sản xuất của các

doanh nghiệp chế biến.

5. Trên cơ sở định hƣớng tổ chức lãnh thổ cho ngành sản xuất và chế biến cây thực

phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, đề tài đã đƣa ra một số giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy

cũng nhƣ mối liên kết nông công nghiệp giữa trồng và chế biến cây công nghiệp ngắn ngày,

cây thực phẩm đạt hiệu quả kinh tế cao hơn.

127

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU TRONG NƢỚC

1. Ban chỉ đạo điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh, (2000), Dân số Thành

phố Hồ Chí Minh kết quả tổng điều tra ngày 1/4/1999, Tháng 6.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (1996), Triển vọng kinh tế Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX

và đầu thế kỷ XXI, Hà Nội.

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2000), Chiến lược và quỵ hoạch đất nước bước vào thế kỷ XXI,

Hội thảo khoa học Hà Nội tháng 9.

4. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trƣờng (1993), Việt Nam - con đƣờng phát triển đến

năm 2020, Hà Nội.

5. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trƣờng (1996), Cơ sở khoa học của tổ chức lãnh thổ

Việt Nam, Đề tài độc lập và trọng điểm cấp Nhà nƣớc.

6. Cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh

1979, 1981, 1983, 1985, 1987, 1993, 1995, 1997, 1999, 2000, 2001, 2002.

7. Cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh (2001), Ngành công nghiệp thực phẩm và đồ

uống ở thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11.

8. Cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh (2004), Nông thôn nông nghiệp TPHCM,

TPHCM

9. Nguyễn Đình Cử (1998), Giáo trình dân số và phát triển, Hà Nội.

10. Mai Ngọc Cƣờng (chủ biên) (1996), Lịch sử các học thuyết kỉnh tế, NXB Thống kê, Hà

Nội.

128

11. Mai Ngọc Cƣờng (chủ biên) (1996), Lịch sử các học thuyết kinh tể, NXB Thống kê, Hà

Nội.

12. Lê Doãn Diên (1994), Công nghệ sau thu hoạch trong nông nghiệp Việt Nam - thực

trạng và triển vọng, NXB nông nghiệp, Hà Nội.

13. Lê Doãn Diên (1995), Sử dụng các kỹ thuật công nghệ sinh học để bảo quản và chế biến

nông sản sau thu hoạch, NXB nông nghiệp, Hà Nội.

14. Z.E. Dzemis (1984), Phương pháp luận và phướng pháp nghiên cứu địa lý kinh tế- xã

hội, NXB Giáo dục.

15. Nguyễn Thị Đông (2002), Tám chỉ tiêu đánh giá tình hình kinh tế, Thông tin khoa học

thống kê, số 3.

16. Đỗ Thị Minh Đức (1996), Dân số - Tài Nguyên - Môi trƣờng, NXB Giáo dục.

17. Nguyễn Tĩnh Gia (Chủ biên) (1998), Xu hướng biến động của nền kinh tế nhiều thành

phần ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

18. Ngô Đình Giao (1996), Phát triển môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh

nghiệp công nghiệp và chế biến thực phẩm hoạt động có hiệu quả, NXB Khoa học

học kỹ thuật.

19. Châu Ngọc Hà (2004), Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn vùng ngoại

thành TPHCM. Hiện trạng và những định hướng, Luận văn thạc sĩ, Trƣờng ĐHSP

TPHCM.

20. Trần Văn Hà (chủ biên) (2001), Tiếp cận nền kinh tế tri thức thế kỷ XXI, NXB nông

nghiệp, Hà Nội.

129

21. Phạm Xuân Hậu (1993), Nghiên cứu việc kết hợp giữa trồng và chế biến mía ở các tỉnh

đồng bằng sông Cửu Long, Luận án tiến sĩ Trƣờng ĐHSP Hà Nội

22. Phạm Xuân Hậu - Nguyễn Kim Hồng - Đặng Văn Phan (1995), Địa lý kinh tế - xã hội

Việt Nam, tập 1, Trƣờng Đại học Sƣ phạm TPHCM.

23. Trần Hoàng Kim (1996), Kinh tế Việt Nam chặng đường 1945-1995 và triển vọng đến

năm 2020, NXB Thống kê, Hà Nội.

24. NXB Giáo dục (2005), Thành phố Hồ Chí Minh 30 năm xây dựng và phát triển, TPHCM

25. NXB Thống kê (1998), số liệu kinh tế - xã hội các đô thị lớn của Việt Nam và thế giới,

Hà Nội.

26. Nguyễn Thế Nhã (chủ biên) (2004), Giáo trình kinh tế nông nghiệp, NXB Thống kê, Hà

Nội.

27. Nguyễn Từ (2004), Nông nghiệp Việt Nam trong phát triển bền vững, NXB Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

28. Nguyễn Văn Lê (1995), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Trẻ.

29. Trần Du Lịch (chủ biên) (1996), Kinh tế Việt Nam giai đoạn chuyển đổi", NXB Thành

phố Hồ Chí Minh.

30. Đặng Văn Phan - Trần Văn Thông (1993), Một số vấn đề lý luận về tổ chức không gian

kinh tế, Tạp chí phát triển kinh tế, Trƣờng đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh,

tháng 10.

130

31. Đặng Văn Phan - Nguyễn Kim Hồng (2002), Tổ chức lãnh thổ, Trƣờng Đại học Sƣ

Phạm TPHCM.

32. Nguyễn Văn Phúc (2004), Công nghiệp nông thôn Việt Nam - Thực trạng giải pháp và

phát triển, NXB Chính Trị Quốc Gia.

33. Nguyễn Quán (2003), 213 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới, NXB thống kê.

34. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo kết quả

sản xuất Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 1997, 1998, 1999, 2000, 2001,

2001.

35. Đặng Kim Sơn, Đặng Thu Hòa (2002), Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp và

nông thôn, NXB Thống kê, Hà Nội.

36. Trịnh Thanh Sơn (2004), Tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến sắn ở các tỉnh Đông Nam

Bộ, Luận án tiến sĩ Địa lý Kinh tế và Chính trị, trƣờng Đại học Sƣ phạm, Hà Nội

37. Lê Quốc Sử (2001), Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển của kinh tế nông nghiệp

Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa từ thế kỷ XX đến thế kỷ X X I

trong thời đại kinh tể tri thức, NXB Thống kê, Hà Nội.

38. Nguyễn Tài (1997), Vấn đề đa canh hóa trong sản xuất nông nghiệp, NXB Chính Trị

Quốc Gia.

39. Trần Minh Tâm (2000), Bảo quản và chế biến nông sản sau thu hoạch, NXB Nông

nghiệp.

40. Lê Đình Thắng (1998), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thô, NXB Nông nghiệp.

131

41. Ông Thị Đan Thanh( 1986),- Tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến cao su ở Đông Nam

Bộ, Luận án Tiến sĩ , Trƣờng ĐHSP Hà Nội.

42. Trần Văn Thọ, Nguyễn Ngọc Đức, Nguyễn Văn Chỉnh, Nguyễn Quán (2000), Kinh tế

Việt Nam 1955 - 2000, NXB Thống kê Hà Nội.

43. Lê Bá Thảo (1998), Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lý, NXB Thế Giới, Hà Nội.

44. Lê Thông (1986), Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trên thế giới, NXB Giáo dục, Hà Nội.

45. Lê Thông - Nguyễn Minh Tuệ (1996), Địa lý dân cư, NXB Giáo dục, Hà Nội.

46. Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (2000), Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam, NXB

Giáo dục .

47. Lê Thông (chủ biên) (2000), Địa lý kinh tế- xã hội Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.

48. Tổng cục Thống kê (2001), Niên giám thống kê 2000, NXB Thống kê, Hà Nội.

49. Tổng cục Thống kê (2004), Niên giám Thống kê 2003, NXB Thống kê, Hà Nội.

50. Viện Chiến lƣợc phát triển (1996), Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của

cả nước. Khả năng phát triển và phương án lựa chọn, Báo cáo chuyên đề.

51. Viện Chiến lƣợc phát triển (1996), Quan điểm và mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội

Việt Nam đến năm 2010, Báo cáo chuyên đề

132

52. Ngô Doãn Vịnh (1983), Một số vấn đề quan hệ liên vùng và ảnh hưởng của nó đến việc

phát triển vùng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.

53. Ngô Doãn Vịnh, Nguyễn Văn Phú (1997), Xác định cơ cấu kinh tế lãnh thổ Việt Nam

theo hướng phát triển có trọng điểm, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

54. Ngô Doãn Vịnh (2003), Nghiên cứu chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở

Việt Nam - học hỏi và sáng tạo, NXB Chính trị quốc gia.

55. Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (1994), Định hướng phát triển Kinh tế xã hộ

thành phố Hồ Chí Minh 1996 - 2000.

56. Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (1994), Tổ chức lãnh thổ địa bàn Kinh tế trọng

điểm phía nam.

57. Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Hướng chuyển dịch cơ cấu Kinh tế thành phố

Hồ Chí Minh, NXB Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh.

58. Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (2000), Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh - 25

năm xây dựng và phát triển, Sở Văn hóa thông tin Thành phố Hồ Chí Minh.

TÀI LIỆU NƢỚC NGOÀI

59. National Georaphic Society (1999)., Atlas of the World, 7th edition Washington, D.c.

60. Microsoft Encarta Encyclopedia (2001, 2002).

61. The World Bank (2001). World Development Indicators 2000, Washington D.c.

133

62. United Nations (2001), Population, Environment and Development, Wallchart

New York; Population Division, Department of Economic and Social Affrairs,

United Nation.

134