Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Đề tài: Tìm hiểu phương pháp kiểm tra hàn the (borat) trong chế biến một số sản phẩm giò chả theo Tiêu chuẩn Quốc gia: TCVN 8895:2012

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:16

12
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài "Tìm hiểu phương pháp kiểm tra hàn the (borat) trong chế biến một số sản phẩm giò chả theo Tiêu chuẩn Quốc gia: TCVN 8895:2012" nhằm ngăn chặn bán ra thị trường những thực phẩm chứa chất phụ gia hàm lượng vượt mức cho phép hay các chất bị cấm không được cho vào thực phẩm nằm trong danh mục của bộ y tế hoặc sản phẩm không đảm bảo chất lượng nhằm bảo vệ, giữ gìn sức khỏe cho người tiêu dùng. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Tìm hiểu phương pháp kiểm tra hàn the (borat) trong chế biến một số sản phẩm giò chả theo Tiêu chuẩn Quốc gia: TCVN 8895:2012

  1. PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ Giò, chả là món ăn được nhiều người yêu thích. Nó luôn được bày biện đẹp  mắt trên mâm cơm của người Việt đặc biệt là không thể  thiếu trong các dịp lễ  ­  Tết.  Tuy nhiên, nếu không lựa chọn giò, chả  cẩn thận, người tiêu dùng phải đối  mặt với nguy cơ  ngộ  độc hàn the. Đây là hóa chất thường được cho vào giò, chả  mục đích tạo độ giòn, dai, bảo quản được lâu. Hàn the có thể gây ngộ độc. Liều từ  5 gam trở  lên đã gây ngộ  độc cấp tính, có thể  dẫn đến tử  vong. Dùng với liều   lượng thấp có thể  gây ngộ  độc mạn tính,  ảnh hưởng đến gan, thận, gây biếng ăn  và suy nhược cơ thể. Khi vào cơ  thể, hàn the khó bị đào thải mà tích tụ  trong gan,  đến khi lượng tích tụ đủ lớn sẽ gây tác hại mạn tính. Hàn the gây độc hại cho phụ  nữ mang thai, trẻ em sử dụng thực phẩm với hàn the sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng  tới sự phát triển trí não. Trên thực tế hiện nay, nhiều cơ sở sản xuất thực phẩm vẫn sử dụng hàn the   để chế biến thức ăn với mục đích lợi nhuận, thu hút khách hàng, đặc biệt  là trong  nhóm sản phẩm giò chả, đây là một trong những nguy cơ  tiềm  ẩn  ảnh hưởng tới  sức khỏe của con người. Theo Chi cục an toàn vệ sinh thực phẩm Đồng Nai, ngày 30/07/2013 cơ quan  chức năng đã lấy 32 mẫu giò, chả của 12 điểm bán lẻ tại chợ Tân Hiệp có 22 mẫu  chứa chất cấm hàn the ở mức đậm đặc, trong đó lượng hàn the cao nhất ở gi ò lụa  và giò chay. Điều đáng chú ý ở đây là những mặt hàng vi phạm này đều có nguồn  gốc xuất xứ không rõ ràng và khi cơ quan chức năng làm việc với các tiểu thương   về nguồn gốc thì các tiểu thương khai báo chung chung. Đoàn kiểm tra đã lập biên   bản tịch thu và tiêu hủy gần 10 kg giò chả  các loại.   Qua kiểm tra việc chế  biến  thực phẩm trên địa bàn tỉnh phát hiện tình trạng thực hành về  giữ gìn bàn tay người  chế biến, các dụng cụ chứa đựng thực phẩm chưa đảm bảo vệ sinh, dễ nhiễm các  loại vi sinh; nhiều cơ  sở  còn sử  dụng các chất bảo quản không được phép sử  dụng… (https://suckhoecong.vn/dong­nai­phat­hien­gio­cha­dam­dac­han­the­ d4317.html)
  2. Nhằm ngăn chặn bán ra thị trường những thực phẩm chứa chất phụ gia hàm  lượng vượt mức cho phép hay các chất bị  cấm không được cho vào thực phẩm   nằm trong danh mục của bộ y tế hoặc sản phẩm không đảm bảo chất lượng nhằm  bảo vệ, giữ gìn sức khỏe cho người tiêu dùng cũng như  cung cấp nguồn chất dinh   dưỡng tốt giúp cơ  thể  phát triển bình thường, khỏe mạnh thì việc kiểm nghiệm  chất lượng thực phẩm trước và sau sản xuất là vô cùng quan trọng và cần thiết vì  đây là một hình thức kiểm soát chất lượng thực phẩm, nguồn nguyên liệu trước khi   chế biến hoặc bán ra thị trường. Đối với các cơ  sở  kinh doanh, buôn bán: Việc phân phối và bày bán các sản   phẩm giò chả nói chung đã được kiểm nghiệm chất lượng theo đúng yêu cầu ở các  cở  sở  uy tín và được cơ  quan  y tế  kiểm tra  an toàn vệ  sinh thực phẩm  có thầm  quyền cấp phép sẽ giúp nâng cao uy tín, tạo dựng lòng tin cho khách hàng. Từ những vấn đề nói trên, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “Tìm hiểu phương  pháp kiểm tra hàn the (borat) trong chế biến một số sản phẩm giò chả  theo   Tiêu chuẩn Quốc gia: TCVN 8895:2012”
  3. PHẦN 2: NỘI DUNG 2.1 Tìm hiểu chung về hàn the 2.1.1 Hàn the là gì? Hàn the hay còn được biết đến với tên gọi là Borax. Đây là một hợp chất hóa  học bao gồm các khoáng chất có quan hệ gần với nhau. Cấu tạo của hàn the là một   hợp chất kết tinh có màu trắng, mềm, có nhiều cạnh. Và đặc biệt, nó rất dễ bị hòa   tan trong nước.  2.1.2 Công thức hóa học của hàn the  Hàn the là một loại muối của axit boric. Hợp chất này có công thức hóa học là  Na2O4B7.10H2O. Đây là một hợp chất natri borat ngậm 10 phân tử  nước, là một   hợp chất hóa học quan trọng của bo. Nó là một chất rắn kết tinh màu trắng, mềm,   nhiều cạnh dễ dàng hòa tan trong nước. Khi để  ra ngoài không khí khô, nó bị  mất   nước dần và trở  thành khoáng chất tincalconit màu trắng như  phấn (Na2B4O7.5  H2O). Borac thương phẩm được bán ra thông thường bị  mất nước một phần.Vậy   natri borat là gì? Thực chất, đây chính là hàn the. 2.1.3 Ứng dụng của hàn the trong sản xuất Hình: Natri borat 
  4. Borac được sử dụng rộng rãi trong các loại chất tẩy rửa, chất làm mềm nước,   xà phòng, chất khử trùng và thuốc trừ sâu. Một trong các ứng dụng được quảng cáo   nhiều nhất là sử dụng làm nước rửa tay cho công nhân trong công nghiệp. Nó cũng   được sử dụng làm men thủy tinh men gốm, thủy tinh và làm cứng đồ  gốm sứ. Nó   cũng rất dễ dàng chuyển thành axít boric hay các borat khác, và chúng có nhiều ứng  dụng. Một lượng lớn borac pentahiđrat được sử dụng trong sản xuất sợi thủy tinh   và xelulôza cách nhiệt như là chất làm chậm cháy và hợp chất chống nấm. Một lượng lớn sử  dụng trong sản xuất peborat natri mônôhiđrat để  sử  dụng  trong bột giặt. Hỗn hợp của borac và clorua amôni(NH4Cl) được sử  dụng như  là  chất trợ chảy khi hàn các hợp kim chứa sắt như thép. Nó hạ thấp điểm nóng chảy   của các ôxít sắt không mong muốn, cho phép nó chảy ra. Borac cũng được trộn với  nước làm chất trợ  chảy khi hàn các kim loại quý như  vàng hay bạc. Nó cho phép  que hàn nóng chảy chảy tràn lên các mối nối cần thiết. Khi sử dụng trong hỗn hợp,   borac cũng có thể dùng để trừ kiến đục gỗ và bọ chét. 2.1.4 Tác hại của hàn the Borac cũng là một phụ gia thực phẩm tại một số quốc gia (nó bị cấm sử dụng   tại Hoa Kỳ, Việt Nam và nhiều nước khác). Hàn the có tính sát khuẩn nhẹ, lại làm   cho sản phẩm tinh bột, cá, thịt…, trở nên dai nên hay được các nhà sản xuất ở Việt   Nam cho vào thực phẩm để  sản phẩm chế  biến ra dai và kéo dài thời gian bảo   quản và sử dụng. Tuy nhiên hàn the có thể gây ngộ độc.  Đây là một chất có độc và có thể   ảnh hưởng tới sức khỏe người sử  dụng.   Hợp chất này được sử dụng rất nhiều trong công nghiệp, tuy nhiên khi sử dụng sai   liều lượng, chúng có thể gây ảnh hưởng to lớn tới sức khỏe người dùng. Theo Nghị  định 115/2018/NĐ­CP quy định xử  phạt vi phạm hành chính về  an   toàn thực phẩm: Nếu cơ sở sản xuất sử dụng hàn the mức xử  phạt là 40­50 triệu   đồng; nếu cơ  sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, sử  dụng thực phẩm có hàn the mức   xử phạt 7­10 triệu đồng. 2.2 Cách nhận biết giò chả chứa hàn the:
  5. ­ Dựa vào mùi vị: Giò lụa ngon có mùi vị đặc trưng, sau khi nuốt xong, vị còn   đọng lại nơi cuống họng. Khi nhai, giò chả  sạch có vị  thơm ngọt, mềm, không bị  bã, không có cảm giác khô rắn. Nếu ăn giò thấy có mùi thơm nồng, thơm sực thì  cần cẩn trọng vì rất có thể đó là giò lụa được tẩm ướp chất phụ gia. ­ Sử  dụng cảm quan bên ngoài: Giò chả  nguyên chất không có hàn the cũng  như chất phụ gia khi cắt miếng giò ra sẽ thấy có những lỗ rỗng. Còn nếu như cắt   miếng giò ra mà bên trong mịn đẹp thì chứng tỏ rằng chúng đã được ướp chất phụ  gia. Giò chả  chuẩn không hàn the khi sờ  vào bề  mặt có cảm giác hơi  ướt, màu  trắng ngà hơi ngả hồng. Còn giò có chứa hàn the sờ vào có vẻ hơi sần sùi.                          ­ Sử dụng giấy thử ngâm nước nghệ tươi rồi phơi khô, ấn vào bề mặt của giò  lụa. Sau 1 phút, nếu thấy giấy chuyển đổi màu sắc từ vàng sang đỏ  thì có nghĩa là   giò chả đó có chứa hàn the. Dung dịch nghệ hoặc giấy tẩm nghệ trong môi trường  kiềm (pH >7) sẽ chuyển từ màu vàng sang đỏ cam. Hàn the có tính kiềm nên khi tác  dụng với giấy nghệ thì làm giấy nghệ chuyển từ màu vàng sang đỏ.
  6. Hình: Dùng giấy tẩm nghệ phát hiện hàn the ­ Sử dụng que Kit test nhanh Hình: Que Kit test nhanh thử hàn the trong thực phẩm ­ Kiểm tra hàn the trong thực phẩm theo một số hướng dẫn: Tiêu chuẩn Quốc  gia:   TCVN   8895:2012;   Quyết   định   số:   3390/2000/QĐ­BYT   ban   hành   ngày  28/09/2000 2.3 Phương pháp kiểm tra hàn the (borat) trong chế  biến một số  sản phẩm   giò chả theo Tiêu chuẩn Quốc gia: TCVN 8895:2012 Phạm vi áp dụng: Tiêu chuẩn này quy định phương pháp định tính và bán định  lượng để xác định natri borat và axit boric trong thực phẩm. 2.3.1 Phương pháp định tính axit boric và natri borat  Nguyên tắc                             
  7. 2.3.1.1  Thuốc thử và vật liệu thử ­ Chỉ  sử  dụng thuốc thử  loại tinh khiết phân tích và chỉ  sử  dụng nước cất  không chứa borat hoặc nước có độ  tinh khiết tương đương, trừ  khi có quy định  khác. + Axit clohydric (HCl), nồng độ 36%. + Dung dịch amoniac, nồng độ 25%. + Nước vôi trong hoặc dung dịch canxi hydroxit. + Giấy nghệ ­ Cân từ 1,5 g đến 2,0 g bột nghệ, cho vào bình nón dung tích 250 ml, thêm 100   ml cồn 800. Lắc mạnh trong 5 min rồi lọc qua giấy lọc vào đĩa thủy tinh đáy phẳng  (ví dụ: đĩa Petri). Nhúng giấy lọc vào dịch lọc cho thấm đều. Lấy giấy lọc ra, để  khô  ở  nhiệt độ  phòng, sau khoảng 1 h cắt giấy lọc thành những dải giấy có kích  thước 1 cm x 6 cm. ­ Có thể chuẩn bị giấy nghệ từ nghệ tươi. ­ Bảo quản giấy nghệ  trong lọ  kín, tránh ánh sáng,  ẩm và CO2, SO2, NH3,  NO… Sử dụng giấy nghệ trong vòng 10 ngày sau khi chuẩn bị. ­ Sợi len lông cừu 2.3.1.2 Thiết bị, dụng cụ Sử dụng các thiết bị, dụng cụ của phòng thử nghiệm thông thường và cụ thể  các thiết bị, dụng cụ sau: (1a) Cân phân tích, có thể cân chính xác đến 0,1 mg  (2a) Cối và chày sứ  (3a) Nồi cách thủy  (4a) Lò nung  (5a) Cốc có mỏ  (6a) Đũa thủy tinh  (7a) Pipet  2.3.1.3 Lấy mẫu
  8. Mẫu gửi đến phòng thử nghiệm phải đúng là mẫu đại diện. Mẫu không bị hư  hỏng hoặc thay đổi trong suốt quá trình vận chuyển hoặc bảo quản. 2.3.1.4 Cách tiến hành  Chuẩn bị mẫu thử Nghiền nhỏ  mẫu thử  trong cối sứ (2a), nếu cần. Chuyển mẫu th ử đã nghiền vào   cốc có mỏ  (5a) có dung tích thích hợp. Đun nhẹ  mẫu thử  trên nồi cách thủy (3a)  cùng với lượng nước vừa đủ  để  mẫu thử  rắn hoặc bán rắn chuyển sang dạng   lỏng. Axit hóa mẫu bằng axit clohydric, sử  dụng 7 ml dung dịch HCl cho 100 ml   mẫu thử dạng lỏng. Chú thích 1: Nếu mẫu có chứa chất béo thì làm lạnh dịch lỏng bằng nước đá   hoặc để trong tủ lạnh rồi gạn bỏ lớp chất béo đã đông lại. Chú thích 2:  Nếu mẫu có màu thì cho sợi len lông cừu vào dịch lọc để  khử   màu.  Phép thử sơ bộ ­ Nhúng dải giấy nghệ vào mẫu thử dạng lỏng đã axit hóa cho thấm đều. Lấy  giấy ra và để khô tự nhiên. ­ Nếu màu của giấy nghệ  chuyển từ  vàng sang đỏ  cam thì tiếp tục hơ  giấy   nghệ  trên miệng lọ  dung dịch amoniac sau  đó hơ  trên miệng lọ  dung dịch axit  clohydric  ­ Tiến hành đồng thời một mẫu trắng, thay 25 g mẫu thực phẩm bằng 25 ml   nước và thực hiện như trên.  Phép thử khẳng định Cân 25 g mẫu thử  đã nghiền nhỏ, kiềm hóa bằng nước vôi trong hoặc dung   dịch canxi hydroxit sau đó cho bay hơi đến khô trên nồi cách thủy (3a). Nung mẫu  thử  đã làm khô trong lò nung (4a) cho đến khi các chất hữu cơ  hóa tro. Để  nguội,  thêm 15 ml nước, dùng đũa thủy tinh (6a) khuấy đều rồi thêm từng giọt dung dịch  axit clohydric cho đến khi hỗn hợp có tính axit rõ rệt. Nhúng mảnh giấy nghệ vào  trong hỗn hợp nói trên và hong khô. 2.3.1.5 Đọc kết quả
  9. Mẫu thử có chứa axit boric hoặc natri borat nếu màu của giấy nghệ chuyển từ  vàng sang đỏ  cam, khi tiếp tục hơ  giấy nghệ  trên hơi amoniac thì màu đỏ  cam  chuyển thành màu xanh đậm và chuyển lại màu đỏ hồng khi hơ giấy nghệ trên hơi   axit clohydric.  Sau khi phân tích định tính thì tiến hành phân tích bán định lượng đối với   những mẫu có kết quả  dương tính với hàn the. Gi ới hạn phát hiện của phương   pháp này là 10ppm 2.3.2 Phương pháp bán định lượng axit boric và natri borat  Nguyên tắc ­ Nếu màu của giấy thử  tương đương với màu của giấy chuẩn thì nồng độ  hàn the trong dung dịch phân tích sẽ  tương đương với đồng độ  hàn the của  ống   chuẩn đã nhúng giấy chuẩn đó. ­ Nếu màu nằm giữa 2 giấy chuẩn thì giá trị được ước là trung bình của 2  nồng độ  ­ Nếu màu vượt quá màu của dãy chuẩn thì ta chỉ hút 5ml mẫu sau đó pha  loãng với nước cất thành 10ml thêm một giọt HCl đặc. Rồi lại so màu như trên  nhưng kết quả đọc được lại nhân đôi.
  10. Hình: Màu của dãy giấy curcumin sau khi nhúng và để khô sau 1 giờ  2.3.2.1  Thuốc thử và vật liệu thử ­ Chỉ  sử  dụng thuốc thử  loại tinh khiết phân tích và chỉ  sử  dụng nước cất   không chứa borat hoặc nước có độ  tinh khiết tương đương, trừ  khi có quy định  khác. ­ Dung dịch axit boric chuẩn, nồng độ 1% (phần khối lượng/thể tích) ­ Cân 1 g axit boric, chính xác đến 0,1 mg, cho vào bình định mức dung tích 100  ml, thêm nước đến vạch. Lắc cho axit boric tan hết (có thể đun nóng nhẹ trên nồi   cách thủy cho tan hoàn toàn). + Axit clohydric (HCl), nồng độ 36%. + Giấy nghệ 2.3.2.2  Thiết bị, dụng cụ Sử dụng các thiết bị, dụng cụ của phòng thử nghiệm thông thường và cụ thể  các thiết bị, dụng cụ sau: (1b) Cân phân tích, có thể cân chính xác đến 0,1 mg.  (2b) Cối và chày sứ.  (3b) Bình nón, dung tích 125 ml.  (4b) Đũa thủy tinh.  (5b) Bếp điện.  (6b) Bể làm lạnh hoặc tủ lạnh. 
  11. (7b) Màng lọc, làm bằng sợi thủy tinh.  (8b) Pipet.  (9b)  Ống nghiệm, có nút đậy, dung tích 15 ml, ví dụ   ống Pyrex hoặc loại   tương đương.  2.3.2.3 Lấy mẫu Mẫu gửi đến phòng thử nghiệm phải đúng là mẫu đại diện. Mẫu không bị hư  hỏng hoặc thay đổi trong suốt quá trình vận chuyển hoặc bảo quản.  2.3.2.4 Cách tiến hành  Chuẩn bị mẫu thử Nghiền nhỏ mẫu thử trong cối sứ (2b), nếu cần. Dùng cân (1b), cân 25 g mẫu  đã nghiền, chính xác đến 0,1 mg, cho vào bình nón dung tích 125 ml (3b) chứa 50 ml   nước. Dùng đũa thủy tinh (4b) để  khuấy trộn mẫu. Đậy bình nón bằng mặt kính  đồng hồ hoặc phễu loại nhỏ. Đun mẫu thử đến sôi trên bếp điện (5b) trong khi vẫn khuấy. Không được để  quá nhiệt. Làm nguội mẫu thử bằng cách đặt bình nón chứa mẫu trong bể làm lạnh   (6b) hoặc đặt trong cốc có mỏ dung tích thích hợp và để trong tủ lạnh, cho đến khi  chất béo có trong mẫu đông đặc lại (khoản 30 min). Vớt bỏ lớp chất béo đông đặc  và lọc mẫu thử qua màng lọc bằng sợi thủy tinh (7b).  Chuẩn bị dung dịch màu chuẩn Dùng pipet (8b) lấy lần lượt 0,00; 0,10; 0,20; 0,50; 0,75; 1,00; 2,50 và 5,00 ml   dung dịch axit boric chuẩn, cho vào  ống nghiệm dung tích 15 ml (9b). Pha loãng   dung dịch bằng nước đến 10 ml và thêm 0,7 ml dung dịch axit clohydric. Đậy nút   ống nghiệm để tránh bay hơi. Dung dịch màu chuẩn đã pha sử  dụng được trong 6 tháng khi bảo quản kín   trong ống nghiệm (9b).  Xác định ­ Dùng pipet (8b) lấy 10 ml dịch lọc, cho vào ống nghiệm dung tích 15 ml (9b).  Thêm 0,7 ml dung dịch axit clohydric. Đậy nút ống nghiệm và trộn đều.
  12. ­ Dùng kẹp giấy để  nhúng một đầu giấy nghệ  vào dung dịch thử  đã axit hóa  ngập đến ½ chiều dài của giấy. Hong khô nhanh dải giấy trong không khí rồi đặt  lên tờ giấy lọc màu trắng. ­ Thực hiện tương tự với các dải giấy nghệ  trong các dung dịch màu chuẩn.   Đặt các dải giấy nghệ đã nhúng vào dung dịch màu chuẩn và đã hong khô cạnh dải  giấy đã xử lý với dung dịch thử và để khô 1h đến 2h ở nhiệt độ phòng. ­ So sánh màu của các dải giấy bằng cách đặt dải giấy đã xử lý với dung dịch  thử vào giữa từng cặp giấy chuẩn, tốt nhất là trong ánh sáng tự nhiên. ­ Sử dụng các dải giấy chuẩn mới cho mỗi dãy phần mẫu thử. ­ Nếu màu của giấy thử nằm ngoài dải màu của dãy giấy chuẩn thì pha loãng  dịch lọc, ví dụ  dùng 5 ml dịch lọc, 5 ml nước, 0,7 ml dung dịch axit clohydric và  nhân kết quả cuối cùng với 2. 2.3.2.5 Biểu thị kết quả ­ Với thể  tích dịch lọc 10 ml (tương  ứng với 5 g mẫu thử) thì các dung dịch   màu chuẩn đã pha tương  ứng với hàm lượng axit boric trong mẫu thử lần lượt là  0,00; 0,02; 0,04; 0,10; 0,15; 0,20; 0,50 và 1,00 % khối lượng. ­ Dựa vào nồng độ  của dung dịch xử lý giấy chuẩn đã biết để  xác định hàm  lượng axit boric trong mẫu thử tương  ứng bằng cách so sánh màu của giấy chuẩn   và giấy thử. ­ Nếu màu của giấy thử nằm trong dải của hai giấy chuẩn thì  ước tính hàm   lượng trong dải hai giá trị đó. 2.3.3 Báo cáo thử nghiệm Báo cáo thử nghiệm phải ghi rõ: ­ Mọi thông tin cần thiết để nhận biết đầy đủ về mẫu thử; ­ Ngày và phương pháp lấy mẫu, nếu biết; ­ Ngày nhận mẫu; ­ Ngày thử nghiệm; ­ Phương pháp thử đã dùng, viện dẫn tiêu chuẩn này; ­ Kết quả thử và đơn vị biểu thị kết quả trong trường hợp bán định lượng;
  13. ­ Các chi tiết đặc biệt quan sát được trong quá trình thử nghiệm; ­ Tất cả các chi tiết thao tác không qui định trong tiêu chuẩn này, hoặc tùy ý  lựa chọn, có thể ảnh hưởng tới kết quả. PHẦN 3: KẾT LUẬN Kiểm nghiệm thực phẩm đúng chuẩn an toàn vệ sinh là một yêu cầu cấp  bách vì: ­ Thực phẩm bẩn là tác nhân làm gia tăng một số  bệnh đặc biệt là tỷ  lệ  mắc   bệnh ung thư trong cộng đồng hiện nay ngày càng cao. ­ Thực phẩm không an toàn gây  ảnh hưởng đến uy tín kinh doanh, thương   hiệu du lịch quốc gia.  Một số biện pháp giúp tăng cường vệ sinh an toàn thực phẩm: ­ Người tiêu dùng nên chọn các sản phẩm có thành phần ghi rõ trên nhãn mác   ở các hệ thống kinh doanh uy tín, có thương hiệu chất lượng cao. ­ Tích cực tuyên truyền, giáo dục về vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường  học, cộng đồng. ­ Các cơ quan chức năng thường xuyên kiểm tra và có hình thức xử lý nghiêm  khắc đối với các hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm bẩn vì lợi nhuận. ­ Các viện nghiên cứu,  kiểm nghiệm thực phẩm  cần trang bị  hệ  thống máy  móc, phương tiện hiện đại, đảm bảo đưa ra kết quả chính xác về độ  an toàn đảm  bảo vệ sinh của thực phẩm.  Phương pháp khác: Phân tích định lượng bằng máy đo mật độ quang 
  14. Hình: Máy đo mật độ quang  Sản phẩm phụ gia thay thế hàn the được cấp phép bởi BYT.  Hình: VMC­Nonphos­Chất tạo dai giòn từ thiên nhiên thay thế hàn the, phosphat Công dụng: ­  Giúp tạo cấu trúc, độ giòn dai cho sản phẩm, thay thế hàn the, và các sản  phẩm có gốc phosphate
  15. ­  Hoạt chất thiên nhiên được chế biến từ rong biển, lúa mì, tinh bột sắn hoàn  toàn không ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng ­  Tạo liên kết tốt giữ thịt cá, mỡ và nước. PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO https://visitech.vn/sp/kit­kiem­tra­nhanh­han­the/ https://m.thanhnien.vn/lai­phat­hien­gio­cha­chua­han­the­post20053.amp https://socongthuong.thaibinh.gov.vn/tin­tuc/ky­thuat­an­toan­moi­truong/su­dung­ han­the­che­bien­bao­quan­thuc­pham­loi­nguoi­san­xu.html https://thuvienphapluat.vn/van­ban/Vi­pham­hanh­chinh/Nghi­dinh­115­2018­ND­CP­ quy­dinh­xu­phat­vi­pham­hanh­chinh­ve­an­toan­thuc­pham­360333.aspx
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2