DỊ TẬT BẨM SINH HÀM MT
I. Đặc điểm dịch tễ học
- Những dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt, chủ yếu là những khe hở vùng mặt,
gây biến dạng mặt làm tổn thương đến m lý, thẩm mỹ và chức năng, chiếm tỷ lệ
cao nhất trong các loại dị tật chung của cơ thể (khoảng 10%).
- Đức, từ 1925-1958, thống kê toàn thtrẻ sinh thì dị tật chung (ở chân,
tay, thần kinh, tim, mạch máu lớn và m mặt) chiếm 0,6 - 2%, trong đó 1/10
khe hở bẩm sinh hàm mặt.
- Tiệp Khắc, cứ 200 trẻ sinh, 1 trẻ dị tật bẩm sinh chung (theo
Burian).
Nói chung, trên thế giới cứ 1000 cháu mới sinh, thì 1 cháu dtật bẩm
sinh vùng m mặt (tlệ 10/00). Tỷ lệ này khác nhau mỗi ớc và các thời
đim khác nhau:
- Đức : Trước thế chiến thứ II : 1/1000
Sau thế chiến thứ II : 1/450
- Tiệp khắc : Đầu thế kỷ 20 : 1/1000
Năm 1962 : 1/750 (theo Burian)
- Pháp : 1/ 942 (1927 theo Veau
và Peron)
- Mỹ : 1/ 700
- Nhật : 1/ 378 (Theo tài liệu thông báo của ngành Răng Hàm Mặt Mỹ
9/1969).
- Việt Nam, theo Bác Nguyễn Huy Cận, Viện bảo vệ bà mtrẻ em, tỷ lệ
cũng xấp xỉ 1/1000 (1996), BS Phạm Gia Đức: tỷ lệ 1/640 (1970). theo Mai Đình
Hưng, Viện RHM Hà Nội, tỷ lệ 1/1211 (1980, theo Nguyễn Thị Thanh -Viện
phụ sản thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/480 (1984).
Tóm lại, khe hở dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt là một bệnh khá phbiến.
Nếu dân số nước ta hiện nay là 80 triệu dân, tỷ lệ sinh đẻ là 3%, tlệ dị tật bẩm
sinh hàm mặt là 1/1000, t ng năm khoảng 2400 cháu nh ra đời dị tật bẩm
sinh m mặt.
II. Cơ chế và nguyên nhân bnh sinh
1. Nhắc lại khái niệm bào thai học
Trứng thụ tinh sẽ phân chia ngay và tiến triển qua các giai đoạn : Phôi dâu,
phôi kết, bán phôi hai (khi xuất hiện túi ối và noãn hoàng), sau đó giai đoạn
bán phôi 3 (khi trung bì phôi xuất hiện giữa 2 nội và ngoại bì). Trong quá
trình phát triển, bán phôi ngày càng n rộng, lồi vào trong khoang màng ối và rãnh
màng ối ngày càng bhạ thấp xuống phía bụng. Kết quả là khúc đầu và khúc sau
của bán phôi ngày càng được phân biệt rõ, đó giai đoạn khép mình phôi. Cùng
với sự phát triển mạnh của não,tim, thành trước lồng ngực, cung mang. Mồm
nguyên thủy cũng xuất hiện ở phần trên của cung mang I.
2. Cơ chế bệnh sinh
Để giải thích chế bệnh sinh, người ta dùng thuyết nụ mầm của
Rhatke(1832), Dursy (1869) His (1888), vào m 1930 Victor Veau bxung
thêm bằng thuyết tường chìm (Mur plongeant).
Theo thuyết nụ mầm, vào tuần lễ thứ 3 của bào thai, lúc thai khỏang
10mm, cung mang I vì túi não I tim phát triển nhanh, giữa 2 khối não tim
hiện ra 1 chỗ lõm gọi là mm nguyên thủy, bờ chung quanh của mồm nguyên
thủy chồi ra 5 nụ, được gọi chung là nmặt. Nụ trán xuất hiện bờ trên của mồm
nguyên thủy, hai nụ hàm trên hai bên hai nm dưới phần dưới của mồm
nguyên thủy. Từ nụ trán xuất hiện những nụ mũi phải (MP) và mũi trái (MT),
được ngăn ch bởi khe giữa, mỗi nụ mũi phải và trái li tách m đôi, thành n
mũi trong và nmũi ngoài, hai nnày được ngăn cách bởiì rãnh khứu. Giữa nụ
hàm trên và nụ mũi có xuất hiện khe ổ mắt mũi (khe OMM).
- Những nụ hàm trên cùng với nụ mũi trong phát triển và gắn dính với nhau,
làm khép rãnh khứu, tạo thành lỗ mũi và môi bên hàm trên.
- Những nụ hàm trên nmũi ngoài (MN) cùng phát triển và gắn dính với
nhau lấp khe ổ mắt mũi, để lại rãnh gọi là rãnh mũi lệ, về sau cũng biến mất.
- Những nụ mũi trong phát triển và gắn dính với nhau đường giữa, tạo
thành môi giữa hàm trên (nhân trung)
- Những nụ hàm trên nm dưới cũng gắn nh với nhau tạo thành s
liên tục của má
Như vậy lỗ miệng là một khe 2 môi: môi trên được cấu tạo bởi những
nmũi trong và nhàm trên. Môi dưới được cấu tạo bởi hai nụ hàm dưới. Người
ta gọi giai đoạn y giai đọan hình thành vòm miệng sơ phát gồm phần môi và
xương ổ răng, từ lỗ khẩu cái trước (lỗ răng cửa) trở về trước.