ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TS. Chu Thị Thủy1
Tóm tắt: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
đã xác định “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới
căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng
dụng khoa học, công nghệ” là một trong ba khâu đột phá chiến lược để phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam
đến năm 2020. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao độ của
hệ thống kết nối số hóa, vật lý, sinh học với trung tâm và khâu đột phá là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, in-tơ-
nét kết nối vạn vật, rô-bốt, công nghệ na-nô, công nghệ sinh học,… đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất của
thế giới, tạo ra những cơ hội rất lớn nhưng cũng đặt ra thách thức không nhỏ cho mỗi quốc gia. Nó cũng tác động
đến Việt Nam trên mọi lĩnh vực, khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội. Phát triển nhân lực ở Việt Nam là một
trong những lĩnh vực chịu sự tác động mạnh mẽ và trực tiếp nhất từ cuộc cách mạng này.
Từ khóa: Quản lý nhà nước về phát triển nhân lực, phát triển nhân lực trong hội nhập quốc tế, phát triển nhân lực
trong cách mạng công nghiệp 4.0, định hướng phát triển nhân lực, khuôn khổ pháp luật về phát triển nhân lực,
môi trường phát triển nhân lực, điều tiết phát triển nhân lực, kiểm tra, giám sát và thanh tra thực thi chính sách
pháp luật về phát triển nhân lực trong hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Abstract: Strategic economic development - society 2011 - 2020 was approved at the National Party
Congress XI was determined “Rapid Development of human resources, especially human resources of
high quality, focused on innovation basic and comprehensive national education;closely linked with the
development of human resources development and application of science and technology “as one of three
strategic breakthrough for rapid development and sustainability of Vietnam until 2020. Industrial revolution
for the fourth time with the development trend based on integrated platform elevation system Digital
connections, physics, biology center and the breakthrough is the development of artificial intelligence,
printed-silk-definition connected things, robots, of nanotechnology, biotechnology, ... is changing the
fundamental production of the world, creating huge opportunities but also poses challenge for every
country.It also impacts on Vietnam in all fields, various aspects of social life.Human resource development
in Vietnam is one of the areas affected the most powerful and direct from this revolution.
Keywords: State management on human resource development, human resource development in
international integration, human resource development in the industrial revolution 4.0, human resource
development orientation, legal framework for human and developing human resources environment,
regulating human resources development, inspecting, supervising and inspecting the implementation of
legal policies on human development in international integration and the indutrial revoluiton 4.0
1 Email: chuthithuydhtm@gmail.com, Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Thương mại.
451
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
1. ĐẶT VẤN Đ
Để đạt được mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - hội đề ra đến năm 2020, một trong
những yêu cầu cấp bách hiện nay phải đổi mới quản nhà nước về phát triển nhân lực ở Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế cách mạng công nghiệp 4.0. Sau hơn 30 năm đổi mới,
cùng với nhiều nỗ lực của cả Nhà nước hội, nguồn nhân lực Việt Nam đã đạt được những
bước phát triển đáng kể. Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, thể lực của nhân lực Việt
Nam đã từng bước được nâng lên. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng liên tục
từ 0,44 năm 1990 đến 0,57 năm 2005, tiếp theo 0,62 năm 2012 và 0,694 năm 2017 (Theo Chương
trình phát triển Liên hợp quốc - UNDP). Tuy nhiên, so với nhiều nước trong khu vực so với yêu
cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chất lượng nhân lực của Việt Nam vẫn
còn khá thấp. Lực lượng lao động của Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn chưa được đào tạo bài bản
hoặc có trình độ chuyên môn thấp, phần lớn là lao động thủ công. Cơ cấu nhân lực Việt Nam phân
bố không đồng đều chưa thực sự hợp lý. Nhiều chỉ số cấu thành của HDI vẫn còn mức rất
khiêm tốn, trình độ học vấn của một bộ phận lớn nhân lực chưa được cải thiện đáng kể. Có nhiều
nguyên nhân dẫn đến chất lượng nhân lực thấp ở Việt Nam, trong đó có nguyên nhân từ công tác
quản lý nhà nước trong việc định hướng phát triển nhân lực.
Bài viết sẽ tập trung phân tích thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nhân lực ở Việt Nam
trong thời gian qua. Trên sở đó đưa ra những giải pháp cần thiết nhằm đổi mới một cách căn
bản về phát triển nhân lực từ góc nhìn đổi mới vai trò của Nhà nước về phát triển nhân lực ở Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết tiếp cận theo chức năng quản lý nhà nước: Bao gồm chức năng xây dựng chính sách
(chiến lược, quy hoạch, kế hoạch liên quan đến phát triển nguồn nhân lực); chức năng dự báo; chức
năng tổ chức, điều hành nhằm tác động, tổ chức, điều chỉnh quá trình phát triển nguồn nhân lực.
Các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài là phương pháp phân tích tổng hợp, nghiên cứu
so sánh, thảo luận nhóm, nghiên cứu tổng hợp các tài liệu luận khoa học, khảo sát tình hình thực
tiễn có đối chứng, so sánh với lý luận khoa học, thống kê, phương pháp chuyên gia..., để phân tích
thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới, hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển nhân lực Việt
Nam. Bên cạnh đó đề tài sử dụng các số liệu của các cơ quan thống kê, các cuộc khảo sát, điều tra
và một số công trình nghiên cứu đã được công bố cũng như trực tiếp thu thập và xử lý các số liệu,
thông tin có liên quan đến quản lý nhà nước về phát triển nhân lực ở Việt Nam.
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Bài viết này phân tích thực trạng quản nhà nước về phát triển nhân lực Việt Nam trong
thời gian qua dựa trên bốn khía cạnh chính: (1) Định hướng phát triển nhân lực thông qua việc ban
hành các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch chương trình về phát triển nhân lực; (2) Tạo khuôn
khổ pháp luật môi trường cho việc phát triển nhân lực; (3) Can thiệp trực tiếp, điều tiết phát triển
nhân lực thông qua tài trợ ngân sách, trực tiếp cung ứng dịch vụ xã hội cơ bản; (4) Kiểm tra, giám
sát và thanh tra thực thi chính sách pháp luật về phát triển nhân lực ở Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0.
452 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nhân lực ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0
4.1.1. Về vai trò định hướng và điều tiết phát triển nhân lực ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng
công nghiệp 4.0
Nhà nước hiện giữ vai trò định hướng phát triển và điều tiết đối với phát triển nhân lực thông
qua việc ban hành chỉ đạo thực hiện các văn bản chính sách như các chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch và chương trình về phát triển nguồn nhân lực trên bình diện cả nước, từng ngành và địa
phương. Cho đến nay, hàng loạt các Chiến lược, Quy hoạch tầm quốc gia liên quan đến phát triển
nhân lực trong giai đoạn 2011-2020 đã được ban hành như Chiến lược phát triển giáo dục 2011-
2020, Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 Chiến lược phát triển nhân lực Việt
Nam thời kỳ 2011-2020. Với các chiến lược, quy hoạch này, về bản Nhà nước đã hình thành
được các định hướng phát triển nhân lực toàn diện, bao trùm nhằm nâng cao thể lực, trí lực và tâm
lực của người lao động đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hội, phù hợp với thực tiễn trong bối
cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0.
Bên cạnh đó, hầu hết các chiến lược, quy hoạch liên quan đến tăng trưởng và phát triển kinh
tế - xã hội Việt Nam hiện nay đều đề cập đến phát triển nhân lực thị trường lao động, với mục
tiêu chung xây dựng một thị trường lao động hiện đại, hiệu quả, cạnh tranh công bằng phù
hợp với xu thế mới.
Mặc dù vậy, quy hoạch các đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ công còn chưa sát thực tiễn cả
về số lượng cơ sở, quy mô, cơ cấu ngành nghề, phân bố mạng lưới các cơ sở, các tiêu chí về cơ sở
vật chất và nhân lực. Ví dụ, Điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học năm 2013 khẳng
định ưu tiên việc thành lập các cơ sở đào tạo mới, có đủ tiềm lực, hạn chế nâng cấp các cơ sở hiện
có trong khi thực tế diễn ra lại là sự bùng nổ việc nâng cấp các trường trung cấp, cao đẳng lên các
trường đại học trong khi chưa thực sự bảo đảm các điều kiện về sở vật chất, nguồn lực. Hơn
nữa, Quy hoạch phát triển nhân lực đôi khi còn chưa hoàn toàn gắn kết chặt chẽ với các quy hoạch
ngành; Một số chủ trương định hướng về phát triển nhân lực chậm được triển khai trên thực tế, một
số khác lại mang tính áp đặt, cảm tính, dẫn đến việc thực thi mang tính phong trào, chất lượng thấp.
Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng tới 2020, một trong những quan điểm quy
hoạch là phát triển mạng lưới các trường đại học, cao đẳng phải phù hợp với chiến lược phát triển
và điều kiện kinh tế - xã hội, tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước, gắn với từng vùng, từng
địa phương và trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0.
4.1.2. Về vai trò tạo khuôn khổ pháp luật và môi trường cho việc phát triển nhân lực ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0
Hệ thống khuôn khổ pháp về phát triển nhân lực (gồm các bộ Luật, Luật văn bản dưới
Luật) từng bước được chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện. Nhiều văn bản Luật liên quan đến phát
triển nhân lực được xây dựng, sửa đổi và bổ sung như: Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Bộ
luật Lao động, Luật Bảo hiểm hội, Luật Dạy nghề, Luật Công chức, Luật Viên chức… Tiếp
theo, Chính phủ cũng ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện những luật
trên, đồng thời ban hành nhiều chế, chính sách về phát triển nhân lực. Hệ thống văn bản này
453
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
đang tạo ra môi trường pháp thuận lợi và tạo động lực cho đẩy mạnh phát triển đào tạo nhân lực
cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu đối với từng ngành nghề, vùng miền và địa phương.
Về số lượng, tỷ lệ lao động qua đào tạo mới chỉ đạt trên 50% tổng số lực lượng lao động trong
cả nước. Theo thống của Bộ Giáo dục Đào tạo, số sinh viên/1 vạn dân Việt Nam (tính
đến tháng 11-2016) là 200 sinh viên/1 vạn dân, thấp hơn nhiều so với các nước đi trước trong tiến
hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức ở khu vực Đông Á, như Hàn Quốc,
Singapore. Việt Nam đang thiếu hụt các nhà khoa học, chuyên gia trình độ cao, đội ngũ quản lý,
nhà kinh doanh giỏi, công nhân lành nghề trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Về chất lượng, tỷ lệ người lao động qua đào tạo bằng hoặc chứng chỉ còn thấp, gần 80% số
người lao động từ 15 tuổi trở lên chưa được đào tạo nghề có văn bằng, chứng chỉ. Trình độ chuyên
môn chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, năng lực xã hội của người học sau khi ra trường còn hạn chế,
chưa theo kịp xu thế của thời đại. Sự thích ứng của người lao động với công việc chưa cao, khả
năng tiếp nhận, ứng dụng sáng tạo tri thức của người lao động còn thấp. Sự thiếu hụt kỹ năng
lao động và tay nghề trong một số ngành đang là đặc trưng của người lao động Việt Nam hiện nay.
Chẳng hạn, đối với nhân lực ngành công nghệ thông tin, hiện nay 72% số sinh viên ngành công
nghệ thông tin không có kinh nghiệm thực hành, 42% số sinh viên thiếu kỹ năng làm việc nhóm.
Chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo trình độ học vấn từ bậc cao đẳng trở lên nhìn
chung chưa cao. Trên thực tế, trong khi các nhà tuyển dụng “khát” nguồn nhân lực chất lượng cao
thì tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên lại cao nhất. Theo Bộ Lao
động Thương binh hội tính đến quý I/2017, số người thất nghiệp trình độ đại học trở lên
là 138,8 nghìn người, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm này là 2,79%. Nhóm trình độ cao đẳng có 104,2
nghìn người thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp nhóm này là 6%. Nhóm trình độ trung cấp có 83,2 nghìn
người thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp là 3,08%. Mặt khác, theo phản hồi của các đơn vị sử dụng lao
động, phần lớn người học sau khi tốt nghiệp, được tuyển dụng vào làm việc đều phải đào tạo lại.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay đạt
mức 3,39/10 điểm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 73/133 quốc gia được
xếp hạng. vậy, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn năng suất lao động của Singapore
gần 17 lần, thấp hơn năng suất lao động của Nhật Bản 11 lần, thấp hơn năng suất lao động của Hàn
Quốc 10 lần, bằng 1/5 năng suất lao động của Malaysia 2/5 năng suất lao động của Thái Lan.
Năng lực cạnh tranh của Việt Nam còn yếu và nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế nước ta là khá rõ.
Về cơ cấu, tỷ lệ lao động được đào tạo theo trình độ chuyên môn kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay
cũng không hợp lý. Theo thống nghiên cứu của ông Hữu Lập, số tiến sĩ hơn 14 nghìn người,
nhưng tới 70% giữ chức vụ quản lý, chỉ còn 30% làm công tác chuyên môn,... trong số 11,73 triệu
lực lượng lao động qua đào tạo bằng cấp, chứng chỉ từ cấp tương đương trở lên, trình độ đại
học, trên đại học 5,12 triệu người; trình độ cao đẳng 1,80 triệu người; trình độ trung cấp 3,03
triệu người; trình độ sơ cấp 1,78 triệu người. Con số này phản ánh nét sự mất cân đối về cấu
lao động qua đào tạo giữa giáo dục nghề và giáo dục đại học Việt Nam hiện nay.
Mặt khác, công tác quản nhà nước, nhất quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển nhân
lực của các ngành vẫn còn yếu kém, khá manh mún thiếu đồng bộ. Công tác dự báo nhu cầu
nguồn nhân lực dài hạn cho phát triển kinh tế - hội cũng hạn chế, cấu đào tạo theo ngành,
454 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
nghề, trình độ đào tạo không được quy hoạch lâu dài. Các sở đào tạo không đủ thông tin về
cung, cầu lao động nên việc xây dựng ngành, nghề, chỉ tiêu trình độ đào tạo hằng năm không
sát thực tế. Bên cạnh đó, việc sử dụng lao động chưa thực hiện theo nguyên tắc đúng người, đúng
việc, đúng chuyên môn. Việc đãi ngộ lao động, nhất lao động trình độ cao hiện nay cũng chưa
tương xứng với tiềm năng và sức sáng tạo của họ.
Theo dự báo của các chuyên gia, dưới tác động của những đột phá về công nghệ từ cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0, trong tương lai không xa, nhiều lao động trong các ngành, nghề của Việt
Nam thể thất nghiệp. Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), đến 86% số lao
động trong các ngành dệt may và giày dép của Việt Nam có nguy cao mất việc làm. Ngoài ra,
nhiều ngành khác cũng sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp, như nông nghiệp, kế toán, lắp ráp sửa chữa
thiết bị,... Nguy này có thể chuyển thành con số thiệt hại không hề nhỏ khi số lao động này hiện
đang chiếm một tỷ trọng khá lớn trong lực lượng lao động của nước ta hiện nay.
Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về phát triển nhân lực dần dần được tổ chức từng bước
kiện toàn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực
này trên phạm vi cả nước. Các quan quản nhà nước về phát triển nhân lực hiện nay bao gồm:
- Các bộ chức năng, nhiệm vụ thực hiện quản nhà nước về những lĩnh vực chuyên ngành
liên quan tới phát triển nhân lực gồm: Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội, Bộ Nội vụ;
- Các bộ chức năng quản nhà nước trong một số lĩnh vực liên ngành liên quan tới phát
triển nhân lực như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính…
- Tất cả các bộ/ngành, địa phương trên cả nước đều các sở trực thuộc trực tiếp cung ứng
dịch vụ công liên quan tới phát triển nhân lực trong phạm vi quản lý của mình.
Như vậy, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về phát triển nhân lực gồm hầu hết các cơ quan
của Chính phủ cả ở cấp Trung ương và địa phương, thực hiện quản lý nhà nước về phát triển nhân
lực trong phạm vị chức năng và nhiệm vụ được giao.
Gần đây, nhằm tăng cường sự phối hợp với các quan quản đối với phát triển nhân lực,
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1127/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2012 về việc
thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực và đào tạo theo nhu cầu
xã hội giai đoạn 2011-2020. Nhiệm vụ của Hội đồng Quốc gia Ban Chỉ đạo Quốc gia chủ yếu
có trách nhiệm nghiên cứu, tư vấn, tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc chỉ
đạo, điều hành, quyết định các chính sách, biện pháp quan trọng phát triển giáo dục, đào tạo, dạy
nghề và phát triển nhân lực.
Chính phủ ban hành Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2018 quy định chi
tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, việc hỗ trợ phát triển nguồn
nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ vừa được quy định như sau: Hỗ trợ đào tạo khởi sự kinh
doanh quản trị kinh doanh: Ngân sách nhà nước hỗ trợ tối thiểu 50% tổng chi phí của một
khóa đào tạo về khởi sự kinh doanh và quản trị doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ vừa. Học
viên của doanh nghiệp nhỏ vừa thuộc địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, doanh nghiệp
nhỏ vừa do nữ làm chủ được miễn học phí tham gia khóa đào tạo; Hỗ trợ đào tạo nghề: Doanh