
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
443
ĐƠN TRỊ LIỆU VỚI GILTERITINIB CHO NGƯỜI BỆNH BẠCH CẦU CẤP
DÒNG TỦY TÁI PHÁT CÓ ĐỘT BIẾN FLT3: BÁO CÁO CA
Bùi Nguyễn Thùy Trang1, Ngô Ngọc Ngân Linh1
TÓM TẮT54
Mục tiêu: Báo cáo một trường hợp người
bệnh bạch cầu cấp dòng tủy tái phát có đột biến
FLT3 đơn trị liệu với gilteritinib. Phương pháp
nghiên cứu: báo cáo ca bệnh. Kết quả: Người
bệnh nam, 24 tuổi, chẩn đoán bạch cầu cấp dòng
tủy nhóm nguy cơ cao theo ELN 2022 [1] và có
đột biến FLT3- TKD từ 2021, điều trị phác đồ
hóa trị tiêu chuẩn 7 + 3, đạt lui bệnh hoàn toàn,
tiếp tục theo dõi đến tháng 8/2024 phát hiện bệnh
tái phát với tình trạng giảm bạch cầu hạt mức độ
nặng. Người bệnh được làm lại bilan đánh giá
đột biến gen, ghi nhận có đột biến FLT3- TKD
D389A. Người bệnh quyết định điều trị với phác
đồ gilteritinib đơn trị liệu. Sau 5 chu kì điều trị
với gilteritinib, người bệnh đạt đáp ứng một phần
với blast trong tủy giảm từ 65% tại thời điểm tái
phát xuống còn 10%, ba dòng tế bào máu hồi
phục bình thường với bạch cầu hạt duy trì trên
1,5 k/uL, người bệnh dung nạp tốt với thuốc
gilteritinib, không ghi nhận biến cố bất lợi
nghiêm trọng nào trong quá trình điều trị. Kết
luận: Tiên lượng bạch cầu cấp dòng tủy (AML)
tái phát thường rất xấu do hạn chế điều trị và tình
trạng suy kiệt sau hóa trị trước đó. Trong ca lâm
sàng này, gilteritinib - dù giúp bệnh nhân đạt đáp
ứng một phần với xu hướng đáp ứng chậm qua 5
1Bệnh viện Truyền máu Huyết học
Chịu trách nhiệm chính: Bùi Nguyễn Thùy Trang
SĐT: 0362686797
Email: trangbui1896@gmail.com
Ngày nhận bài: 30/04/2025
Ngày phản biện khoa học: 15/06/2025
Ngày duyệt bài: 30/07/2025
chu kỳ - vẫn cho thấy giá trị trên nhóm không đủ
điều kiện hóa trị mạnh. Tốc độ đáp ứng chậm này
phản ánh thách thức trong kiểm soát AML tái
phát, dù ưu điểm lớn của thuốc là tính an toàn và
dung nạp tốt.
Từ khóa: bạch cầu cấp dòng tủy tái phát,
gilteritinib.
SUMMARY
GILTERITINIB MONOTHERAPY FOR
RELAPSE ACUTE MYELOID
LEUKEMIA WITH A FLT3
MUTATION: A CASE REPORT
Aims: A case report of a patient with
relapsed acute myeloid leukemia with FLT3
mutation receiving monotherapy with gilteritinib.
Methods: A case report. Results: Male patient,
24 years old, diagnosed with high-risk acute
myeloid leukemia according to ELN 2022 [1]
and FLT3-TKD mutation since 2021, treated
with standard chemotherapy regimen 7 + 3,
achieved complete remission, continued
monitoring until August 2024, detected disease
recurrence with severe granulocytopenia. The
patient was re-evaluated for gene mutation and
recorded the FLT3-TKD D389A mutation. The
patient decided to be treated with gilteritinib
monotherapy. After 5 cycles of treatment with
gilteritinib, achieved partial response with blasts
in the marrow reduced from 65% at the time of
relapse to 10%, and three blood cell lines
recovered to normal with granulocytes
maintained above 1.5 k/uL; the patient tolerated
gilteritinib well; no serious adverse events were
recorded during treatment. Conclusions: The

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
444
prognosis of relapsed acute myeloid leukemia
(AML) is often poor due to limited treatment
options and cachexia following prior
chemotherapy. In this case, gilteritinib, despite
achieving a partial response with a slow response
trend over 5 cycles, demonstrated value in a
population that was not eligible for intensive
chemotherapy. This slow response rate reflects
the challenge of managing relapsed AML,
despite the drug's strong safety and tolerability
profile.
Keywords: relapse acute myeloid leukemia,
gilteritinib.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bạch cầu cấp dòng tủy (Acute myeloid
leukemia – AML) là môt ung thư huyết học
gây ra bởi sự tăng sinh không kiểm soát của
các tế bào đầu dòng tạo máu ác tính trong tủy
xương. Mặc dù đã có nhiều cải tiến trong
chẩn đoán và điều trị bệnh, đây vẫn là bệnh
lý có kết cục xấu; theo thống kê của Hiệp
Hội Ung Thư Hoa Kì vào năm 2021, thời
gian sống còn toàn bộ 5 năm ước tính của
người bệnh AML chỉ khoảng 33% [2]. Trong
đó, khoàng 50% người bệnh sẽ tái phát bệnh,
với thời gian sống còn toàn bộ 3 năm ước
tính chỉ đạt chưa tới 10% (số liệu thống kê
vào năm 2018 của Hiệp Hội Nghiên cứu Ung
Thư ECOG-ACRIN) [3]. Từ thực tế này, đòi
hỏi cần có những phương án điều trị mới,
những nhóm thuốc mới để cải thiện tiên
lượng sống còn ở ngưởi bệnh bạch cầu cấp
dòng tủy. Một trong những hướng tiếp cận
với hiệu quả đầy hứa hẹn là các nhóm thuốc
nhắm trúng đích vào các đột biến gen của tế
bào ác tính. Nổi bật lên là nhóm thuốc ức chế
FLT3, với cơ chế điều trị ức chế tyrosine
kinase (TKI). Đột biến gen Fms-like tyrosine
kinase 3 (FLT3) – một thành viên của họ thụ
thể tyrosine kinase loại III, là đột biến gen
thường gặp nhất ở người bệnh bạch cầu cấp
dòng tủy, với xấp xỉ khoảng 30% các trường
hợp AML mới chẩn đoán [4]. Đột biến FLT3
có thể chia làm hai loại chính là FLT3
internal tandem duplication (FLT3-ITD) xuất
hiện ở khoảng 25% người bệnh và FLT3
tyrosine kinase domain (FLT3-TKD) xuất
hiện ở khoảng 5% người bệnh AML [4]. Cả
đột biến FLT3-ITD và FLT3-TKD đều làm
hoạt hóa liên tục thụ thể FLT3 mà không cần
gắn kết với phối tử, dẫn đến sự tăng sinh tế
bào không kiểm soát. Gilteritinib một thuốc
ức chế FLT3 thế hệ mới, đã chứng minh
được hiệu quả qua thử nghiệm lâm sàng
ADMIRAL [5]. Chúng tôi báo cáo trường
hợp AML tái phát có đột biến FLT3 đầu tiên
tiến hành đơn trị liệu với gilteritinib tại bệnh
viện của chúng tôi.
II. BÁO CÁO CA BỆNH
Người bệnh nam, 24 tuổi, du học sinh tại
Úc được chẩn đoán AML M0 nhóm nguy cơ
cao theo ELN 2022 tại bệnh viện Nepean -
Úc. Đặc điểm bệnh tại thời điểm mới chẩn
đoán: tế bào blast chiếm 90% trên tủy đồ,
nhiễm sắc thể phức tạp khi trong các bộ NST
khảo sát có 14 bộ NST là
46,XY,t(4;5)(q25;q31)/7 NST là
46,XY,del(5)(q31q34)/2 nhiễm sắc thể là
92,XXYY; không biểu hiện 4 tổ hợp gen
MLL/AF9, PML/RARA, AML1/ETO,
CBFB/MYH11; phát hiện đột biến FLT3-
TKD D839A (kỹ thuật Sanger); đột biến
khác: biến thể với tỷ lệ 5% được phân lớp
gây bệnh trên gen NRAS và 1 biến thể với tỷ
lệ 5% được phân lớp gây bệnh trên gen WT1
(Kỹ thuật xét nghiệm giải trình tự gen thế hệ
mới - NGS). Người bệnh điều trị với phác đồ
tấn công 7:3 (idarubicin và aracytin) phối
hợp midostaurin (từ ngày 8 của hóa trị liệu),
bị biến chứng suy hô hấp, viêm phổi nặng,

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
445
sốc nhiễm trùng cần điều trị tại khoa hồi sức
tích cực của bệnh viện Nepean. Người bệnh
đạt đáp ứng hoàn toàn - Complete Respone
(CR) theo tiêu chuẩn của International
Working Group (IWG) [6] sau điều trị tấn
công. Người bệnh tiếp tục hóa trị liệu củng
cố với 3 đợt cytarabine liều cao kết hợp
midostaurin (từ ngày 8 của hóa trị liệu).
Người bệnh kết thúc điều trị, trở về Việt
Nam, theo dõi tại Bệnh Viện Truyền Máu
Huyết Học và tiếp tục duy trì lui bệnh được 3
năm (tính từ thời điểm đạt được lui bệnh).
Tại thời điểm bệnh tái phát, người bệnh có
giảm bạch cầu hạt (neu) mức độ nặng - độ 3,
trong khi Hb > 12g/dl, số lượng tiểu cẩu
(PLT) > 100 k/uL. Người bệnh được kiểm tra
lại tủy và xác nhận tình trạng bệnh AML tái
phát tủy với blast chiếm 65% tế bào tủy,
nhiễm sắc thể phức tạp khi khảo sát 20 bộ
NST thì 16 bộ NST là
46,XY,der(4)t(4;5)(q25;q31)del(5)(q31;q34),
der(5)t(4;5)(q25;q31)/4 bộ NST là 46,XY.
RT-PCR: không biểu hiện 4 tổ hợp gen AML
(MLL/AF9, PML/RARA, AML1/ETO,
CBFB/MYH1); đột biến gen có FLT3-TKD:
D839A (dạng dị hợp tử trên exon 20 – kĩ
thuật Sanger); đột biến ETV6 (38,6%) trên kĩ
thuật NGS. Vì lo ngại biến chứng nặng nề có
thể đe dọa tính mạng khi hóa trị cường độ
mạnh, người bệnh quyết định đơn trị liệu với
gilteritinib, mục tiêu dẫn nhập vào dị ghép tế
bào gốc một khi đạt được lui bệnh.
Diễn tiến điều trị với gilteritinib: người
bệnh khởi đầu với 120mg gilteritinib/ngày
trong 28 ngày, sau 1 chu kì, tỷ lệ blast trên
tủy đồ giảm từ 65% trước điều trị xuống còn
30%. Sau chu kì 2, tỷ lệ blast trên tủy không
giảm thêm, vẫn ở mức 30%. Vì vậy từ chu kì
3 trở đi, người bệnh được tăng liều
gilteritinib lên 200mg/ngày x 28 ngày. Đánh
giá về tỷ lệ blast trên tủy đồ nhận thấy sự lui
giảm dần của blast trong tủy xuống 22% sau
chu kì 3, xuống 14% sau chu kì 4 và còn
10% sau chu kì 5. Về huyết học, sau 5 chu kì
đơn trị liệu với gilteritinib, hb từ 13- 14g/dl;
PLT > 150k/uL và số lượng bạch cầu hạt duy
trì ổn định ≥ 1,5 k/uL. Người bệnh đạt đáp
ứng một phần – Partial response (PR) [6],
với tỷ lệ blast trên tủy đồ giảm từ 65% tại
thời điểm bệnh tái phát xuống còn 10% sau 5
chu kì đơn trị liệu với gilteritinib. Trong quá
trình điều trị, người bệnh được theo dõi
ngoại trú, nhận thấy sự dung nạp tốt với
thuốc gilteritinib, và không ghi nhận biến cố
bất lợi nghiêm trọng nào.
III. BÀN LUẬN
Bạch cầu cấp dòng tủy cho tới hiện nay
vẫn là một bệnh lý có kết cục xấu, với thời
gian sống còn toàn bộ 5 năm ước tính chỉ đạt
khoảng 33% [2]. Bệnh có cơ chế bệnh sinh
phức tạp với quá trình tích lũy hàng loạt đột
biến gen, làm cho tế bào gốc tạo máu tăng
sinh không kiểm soát, thoát khỏi chu trình
chết tế bào. Đột biến gen FLT3 là đột biến
gen được quan sát thấy phổ biến nhất ở
người bệnh AML với gần 1/3 các trường hợp
mới chẩn đoán [4]. FLT – ITD đã được
chứng minh là yếu tố tiên lượng xấu độc lập
ở người bệnh AML, làm giảm tỷ lệ đạt lui
bệnh, rút ngắn thời gian bệnh không tiến
triển [4]. Từ thực tế này, các nhóm thuốc
nhắm trúng đích ức chế FLT3 lần lượt được
nghiên cứu và đưa vào thực hành lâm sàng
khi đã chứng minh được hiệu quả trong cải
thiện các kết cục lâu dài ở người bệnh. Chất
ức chế FLT3 là chất ức chế tyrosine kinase
(TKI) được phân loại thành thế hệ đầu tiên
và thế hệ tiếp theo dựa trên hiệu lực và tính
đặc hiệu của chúng đối với FLT3 [7]. Các
chất ức chế thuộc thế hệ đầu tiên, bao gồm
sunitinib, sorafenib và midostaurin, tương

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
446
đối không đặc hiệu đối với FLT3, chúng có
tác động mở rộng liên quan đến cả các mục
tiêu kinase khác như KIT, PDGFR, VEGFR,
RAS/RAF và JAK2 [7]. Các tác động ngoài
mục tiêu đích có thể góp phần làm tăng nguy
cơ độc tính và giảm hiệu quả ức chế đột biến
FLT3 [7]. Các chất ức chế thế hệ tiếp theo,
bao gồm quizartinib, crenolanib và
gilteritinib, có tính đặc hiệu hơn với khả
năng ức chế trúng mục tiêu hiệu quả hơn, từ
đó gây ra ít tác dụng phụ hơn.
Mặc dù đã có nhiều cải tiến trong chẩn
đoán và điều trị bệnh, người bệnh AML luôn
phải đối mặt với nguy cơ bệnh tái phát ngay
cả khi đạt được lui bệnh với điều trị trước đó.
Kết cục của bệnh bạch cầu cấp dòng tủy tái
phát vẫn đặc biệt xấu, với thời gian sống còn
toàn bộ 3 năm ước tính chỉ đạt 10% (số liệu
2018) [3]. Điều này có thể là do phương án
điều trị cho bệnh AML tái phát hạn chế,
thường chỉ bao gồm các điều trị cứu vớt, kèm
với đó là thể trạng, tinh thần của người bệnh
đã bị suy giảm từ những đợt hóa trị cường độ
mạnh trước đó. Như trong trường hợp ca
bệnh của chúng tôi, người bệnh nam ở độ
tuổi trẻ, tổng trạng khi bệnh tái phát là tốt với
ECOG 1 điểm, tuy nhiên người bệnh không
đồng ý điều trị với hóa trị cường độ mạnh vì
lo ngại các biến chứng nặng nề, điều mà
người bệnh đã gặp phải trong đợt tấn công
đầu tiên. Tại thời điểm mới phát hiện bệnh,
tổng trạng của người bệnh là tốt, không bệnh
lý nội ngoại khoa gì trước đó, tuy nhiên
người bệnh vẫn bị nhiễm trùng nặng, phải
điều trị tại khoa Hồi sức tích cực. Vì vậy,
nguy cơ xảy ra biến chứng nặng, nguy cơ tử
vong luôn thường trực trong các đợt điều trị
hóa trị cường độ cao với khoảng thời gian
suy tủy kéo dài.
Thuốc nhắm trúng đích giúp giảm nguy
cơ suy tủy kéo dài do hóa trị, khi hướng tác
động đến các đối tượng mục tiêu, ít gây tác
động lên các tế bào bình thường.
Midostaurin, một chất ức chế FLT3 thế hệ
đầu tiên, ức chế đa mục tiêu, được FDA chấp
thuận kết hợp với hóa trị liệu tiêu chuẩn cho
những bệnh nhân mới được chẩn đoán mắc
AML đột biến FLT3 [8]. Tuy nhiên, đối với
nhóm AML tái phát hoặc kháng trị,
midostaurin không mang lại lợi ích lâm sàng
lâu dài khi dùng đơn trị liệu [9]. Gilteritinib,
một chất ức chế FLT3 thế hệ thứ hai, có tính
chọn lọc cao, đã chứng minh được hiệu quả
điều trị ở người bệnh AML tái phát/kháng trị
trong nghiên cứu ADMIRAL [5]. Nghiên
cứu ở 371 người bệnh AML tái phát/kháng
trị, trong đó có 247 người bệnh đơn trị liệu
với gilteritinib và 124 người bệnh điều trị
một trong các phác đồ hóa trị cứu với gồm:
FLAG- IDA (fludarabine, cytarabine, GCSF,
và idarubicin); hoặc MEC (mitoxantrone,
etoposide, và cytarabine) hoặc cytarabine
liều thấp hoặc azacitidine [5]. Thời gian sống
còn toàn bộ trung vị ở nhóm đơn trị liệu với
gilteritinib dài hơn đáng kể so với nhóm điều
trị hóa trị liệu cứu vớt (9,3 tháng so với 5,6
tháng; p <0,001) [5]. Tỷ lệ người bệnh đặt
CR/CRi là 34% ở nhóm đơn trị liệu với
gilteritinib so với chỉ 15,3% ở nhóm hóa trị
liệu cứu vớt (risk difference: 18,6; khoảng tin
cậy 95%: 9,8 – 27,4) [5]. Đánh giá về tính an
toàn, các tác dụng phụ từ mức độ 3 trở lên ít
xảy ra hơn ở nhóm dùng gilteritinib so với
nhóm hóa trị liệu cứu vớt; các tác dụng phụ
phổ biến nhất từ mức độ 3 trở lên ở nhóm
dùng gilteritinib là giảm bạch cầu trung tính
do sốt (45,9%), thiếu máu (40,7%) và giảm
tiểu cầu (22,8%) [5].
Trường hợp người bệnh của chúng tôi,
một người nam trẻ tổng trạng khá, AML
nhóm nguy cơ cao với bộ nhiễm sắc thể phức
tạp theo ELN 2022 [1], có đột biến FLT3-

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
447
TKD D839A, đã được điều trị với hóa trị liệu
tiêu chuẩn kết hợp midostaurin lúc mới chẩn
đoán. Tại thời điểm tái phát bệnh, người
bệnh có Hb: 12g/dl; PLT: 233 k/uL; neu:
0,72 k/uL và tỷ lệ blast trong tủy xương là
65%, thuộc nhóm nguy cơ cao theo ELN
2022 [1] với bộ nhiễm sắc thể phức tạp và
đột biến FLT3 -TKD D839A, cùng loại đột
biến FLT3 tại lúc mới chẩn đoán. Vì lo ngại
về các biến chứng nặng nề của hóa trị liệu
cứu vớt, và từ những dữ kiện lâm sàng về
gilteritinib, người bệnh của chúng tôi quyết
định lựa chọn phương án đơn trị liệu với
gilteritinib, uống thuốc mỗi ngày và tiếp tục
theo dõi ngoại trú, như là phương án bắc cầu
vào dị ghép tế bào gốc một khi đạt được lui
bệnh. Người bệnh khởi đầu với 120mg
gilteritinib/ngày trong 28 ngày, sau 1 chu kì,
tỷ lệ blast trên tủy đồ giảm từ 65% trước điều
trị xuống còn 30%. Sau chu kì 2, tỷ lệ blast
trên tủy không giảm thêm, vẫn ở mức 30%.
Vì vậy từ chu kì 3 trở đi, người bệnh được
tăng liều gilteritinib lên 200mg/ngày x 28
ngày. Đánh giá đáp ứng trong tủy nhận thấy
sự giảm dần của tế bào blast, xuống 22% sau
chu kì 3, xuống 14% sau chu kì 4 và còn
10% sau chu kì 5. Đánh giá về huyết đồ, sau
5 chu kì đơn trị liệu với gilteritinib, hb đạt
13- 14g/dl; PLT > 150k/uL và số lượng bạch
cầu hạt duy trì ≥ 1,5 k/uL. Người bệnh đạt
được đáp ứng một phần – PR, với tỷ lệ blast
trên tủy đồ giảm từ 65% tại thời điểm bệnh
tái phát xuống còn 10% sau 5 chu kì đơn trị
liệu với gilteritinib. Trong quá trình điều trị,
người bệnh dung nạp tốt với thuốc
gilteritinib, và không ghi nhận biến cố bất lợi
nghiêm trọng nào, số lượng tiểu cầu luôn duy
trì ≥ 100 k/uL và số lượng bạch cầu hạt luôn
giữ ≥ 0,5 k/uL, Hb duy trì > 10g/dl; không
cần truyền chế phẩm máu trong quá trình
điều trị.
Chúng tôi nhận thấy, tiến trình đạt đáp
ứng của người bệnh diễn ra chậm qua mỗi
chu kì đơn trị liệu với gilteritinib, người bệnh
đang tiếp tục điều trị chu kì 6 với gilteritinib.
Cũng theo nghiên cứu ADMIRAL thời gian
sống còn trung vị của nhóm đơn trị liệu với
gilteritinib cũng chỉ đạt 9,3 tháng. Vì vậy,
đây vẫn chỉ nên xem là phương pháp điều trị
bắc cầu giúp đạt đươc lui bệnh trước khi dị
ghép tế bào gốc. Mặc dù vậy, gilteritinib vẫn
là một lựa chọn khả thi, nhiều tiềm năng ở
người bệnh bạch cầu cấp dòng tủy tái
phát/kháng trị có đột biến gen FLT3, ngay cả
khi người bệnh đã điều trị với midostaurin
trước đó.
IV. KẾT LUẬN
Gilteritinib đơn trị liệu cho thấy hiệu quả
kiểm soát bệnh trên bệnh nhân AML tái phát
có đột biến FLT3, tuy nhiên chúng tôi nhận
thấy trên ca bệnh này, đáp ứng điều trị diễn
ra chậm qua nhiều chu kì. Mặc dù giúp người
bệnh đạt đáp ứng một phần (PR) và ổn định
huyết học mà không gặp biến chứng nghiêm
trọng, tốc độ đáp ứng chậm này phản ánh
gilteritinib nên được xem là phương pháp
dẫn nhập vào dị ghép tế bào gốc – bước điều
trị có khả năng cải thiện tiên lượng dài hạn
của người bệnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Döhner H, Wei AH, Appelbaum FR, et al.
Diagnosis and management of AML in
adults: 2022 recommendations from an
international expert panel on behalf of the
ELN. Blood. Sep 22 2022;140(12):1345-
1377. doi:10.1182/blood.2022016867
2. Kantarjian HM, Kadia TM, DiNardo CD,
et al. Acute myeloid leukemia: Treatment
and research outlook for 2021 and the MD
Anderson approach. Cancer. 2021 Apr

