DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở ĐẮK NÔNG - THỰC TRẠNG
VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN
Nguyễn Thị Huỳnh Giao1
Tóm tắt: Đắk Nông là một tỉnh nằm phía Nam Tây Nguyên, khu vực này sở hữu cảnh quan thiên
nhiên tuyệt đẹp với nhiều thác nước, rừng nguyên sinh và cao nguyên bazan. Đặc biệt, tỉnh này
đã thu hút du khách quốc tế đến với Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông, một trong
những lợi thế đưa du lịch tỉnh Đắk Nông lên tầm vóc khu vực và quốc tế. Ngoài ra, nơi đây còn là
không gian lưu giữ, giao lưu, tiếp biến văn hóa của 40 dân tộc cùng sinh sống, bao gồm những
bản sử thi, các lễ hội truyền thống, hệ thống các nghi lễ, văn hoá ẩm thực, nhạc cụ dân tộc và nghề
thủ công mỹ nghệ, là những tài nguyên vô giá có thể khai thác để phát triển các sản phẩm du lịch
độc đáo. Thực tế, du lịch cộng đồng tại tỉnh Đắk Nông vẫn gặp nhiều thách thức: hệ thống hạ tầng
giao thông hiện chưa đồng bộ; các dịch vụ du lịch chuyên nghiệp còn thiếu hụt và công tác quảng
bá chưa hiệu quả. Trong khuôn khổ nghiên cứu, tác giả tập trung thảo luận về thực trạng và tiềm
năng cũng như đề xuất các giải pháp khoa học và thực tiễn nhằm mục đích phát triển du lịch cộng
đồng ở Đắk Nông đúng hướng và bền vững.
Từ khoá: Du lịch cộng đồng, Đắk Nông, thực trạng, tiềm năng phát triển
Preamble: Dak Nong is a province located in the South of the Central Highlands, this area
possesses beautiful natural landscapes with many waterfalls, primeval forests and basalt
plateaus. In particular, this province has attracted international tourists to the Dak Nong UNESCO
Global Geopark, one of the advantages that has brought tourism to the province to regional and
international stature. In addition, this place is also a space to preserve, exchange and assimilate
the cultures of 40 ethnic groups living together, including epics, traditional festivals, ritual
systems, culinary culture, ethnic musical instruments and handicrafts, which are invaluable
resources that can be exploited to develop unique tourism products. In fact, community tourism
in Dak Nong province still faces many challenges: the current transport infrastructure system is
not yet synchronized; professional tourism services are still lacking and promotion is not effective.
1
Khoa Truyền thông sáng tạo, Đại học Nguyễn Tất Thành.
ĐÀO TO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ108
Within the framework of the article, the author focuses on discussing the current situation
and development potential as well as proposing scientific and practical solutions to develop
community tourism in Dak Nong in the right direction and sustainably.
Keywords: Community tourism, Dak Nong, reality, development potential.
1. ĐẶT VẤN Đ
Đắk Nông, một tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên Việt Nam, nổi bật với
cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và sự đa dạng về văn hóa dân tộc. Khu
vực này đặc trưng với địa hình đồi núi, hệ sinh thái phong phú và văn
hoá truyền thống đặc sắc của các dân tộc như M’Nông, Ê Đê, Mạ…
Những đặc điểm này tạo ra tiềm năng lớn cho phát triển du lịch cộng
đồng, giúp khai thác hiệu quả vẻ đẹp thiên nhiên giá trị văn hóa
bản địa. Du lịch cộng đồng không chỉ góp phần nâng cao thu nhập
cho người dân địa phương còn công cụ quan trọng trong việc bảo
tồn phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Việc phát triển loại
hình du lịch này giúp tạo ra sự kết nối giữa du khách cộng đồng địa
phương, đồng thời hỗ trợ công tác bảo vệ môi trường duy trì bản
sắc văn hóa. Để khai thác tiềm năng này, cần có những nghiên cứu sâu
hơn về thực trạng du lịch cộng đồng tại Đắk Nông, từ đó đề xuất các
giải pháp chiến lược phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển.
Kích thích sự quan tâm và nhu cầu nghiên cứu là bước đầu quan trọng
trong việc quảng du lịch cộng đồng, đồng thời tạo nền tảng vững
chắc cho sự phát triển bền vững của khu vực trong tương lai.
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu
Trên thế giới, khái niệm “Du lịch cộng đồng” (DLCĐ) đã được xuất
hiện từ những năm 1970 cho đến hiện tại đã phát triển phổ biến
hầu hết các châu lục, đặc biệt khu vực nông thôn, miền núi,
vùng dân tộc thiểu số ở châu Phi, khu vực Mỹ Latinh và châu Á. Theo
Rozemeijer (2001), DLCĐ một hoạt động du lịch được đồng sở hữu
khởi xướng bởi một hoặc nhiều cộng đồng địa phương và các bên tư
nhân nhằm sử dụng tài nguyên thiên nhiên văn hóa một cách bền
vững để thu hút khách du lịch, tăng thu nhập và cải thiện sinh kế [1].
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 109
Ashley. C (2006) cho rằng du lịch cộng đồng chủ yếu một loại hình
du lịch quy mô nhỏ nhằm mục đích phát triển kinh tế và xã hội [2]. Tài
liệu phác thảo những chính phủ thể làm để thúc đẩy sự phát triển
kinh tế của du lịch cộng đồng. Trong Tiêu chuẩn Du lịch Cộng đồng
năm 2016 được các nước Đông Nam Á thống nhất, DLCĐ một loại
hình du lịch do cộng đồng địa phương sở hữu, vận hành, điều phối
quản nhằm mục đích thúc đẩy phát triển bền vững thông qua
các hoạt động sau: hỗ trợ sinh kế bền vững bảo tồn, bảo vệ các giá
trị quý giá, truyền thống văn hóa xã hội và tài nguyên thiên nhiên [3].
Tại Việt Nam cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về hoạt động du
lịch, tuy nhiên liên quan đến DLCĐ, một số công trình nghiên cứu
tiêu biểu như: Trần Hữu Sơn (2015, tr.515), “DLCĐ được y dựng
phát triển ở vùng người Thái bản Lác huyện Mai Châu (Hòa Bình) vào
giữa thập kỷ 90 thế kỷ XX”. Đây thời điểm DLCĐ được biết đến
phát triển nhiều nơi trên thế giới. Theo xu thế đó, những năm đầu
thế kỷ XXI Việt Nam tiếp tục thêm các điểm/bản DLCĐ. Những
công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học về loại hình du lịch này như:
Viện Nghiên cứu phát triển miền núi (2000), “Phát triển du lịch cộng
đồng”; Hội thảo chia sẻ bài học phát triển DLCĐ Việt Nam (IUCN-
ITDR, 2003); Trần Thị Huệ (2004), “Bản Lác, điểm du lịch văn hóa dân
tộc người Thái Mai Châu Hòa Bình”;…
Những năm tiếp theo của thế kỷ XXI, DLCĐ phát triển mạnh mẽ
hơn khắp Việt Nam, làm xuất hiện nhiều công trình nghiên về vấn
đề này, như: Quế (tập 1, 2006), “Du lịch cộng đồng - thuyết
vận dụng”; Đặng Hoàng Giang (2011), “Nghiên cứu y dựng hình
DLCĐ tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình (Lấy dụ bản Giang Mỗ)”;
Bùi Thị Hải Yến (2012), “Du lịch cộng đồng”; Văn Cường (2014)…
Những năm cuối thập kỷ hai, thế kỷ XXI, DLCĐ ở Việt Nam gặp nhiều
vấn đề trong phát triển, đặc biệt là mối quan hệ giữa phát triển DLCĐ
với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và tự nhiên hay phát triển bền
vững DLCĐ; vấn đề đào tạo nguồn nhân lực phát triển DLCĐ,... đã
xuất hiện một số công trình nghiên cứu, luận văn, luận án về các vấn
đề này như: Trần Thị Thủy (2017, tr.606-616), “Phát triển DLCĐ theo
hướng bền vững của người Thái huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An”;
ĐÀO TO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ110
Trần Thị Thủy (2018, tr.50-59), “Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát
triển loại hình DLCĐ huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An”;... Đặc biệt,
năm 2020, Tổng cục Du lịch triển khai nhiệm vụ khoa học “Nghiên
cứu, y dựng chương trình hỗ trợ phát triển DLCĐ” với kỷ yếu Hội
thảo và báo cáo tổng hợp.
Như vậy, vấn đề phát triển du lịch cộng đồng từ lâu đã được quan
tâm nghiên cứu trên thế giới Việt Nam. Cách riêng tỉnh Đắk Nông
cũng đã một số nghiên cứu liên quan đến phát triển du lịch cộng
đồng tại khu vực này.
2.2. Cơ sở lý thuyết
2.2.1 Định nghĩa của du lịch cộng đồng
Du lịch cộng đồng (community-based tourism) loại hình du lịch
mới phát triển Việt Nam. Luật Du lịch của Việt Nam (năm 2017)
khẳng định “Du lịch cộng đồng loại hình du lịch được phát triển
trên sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân quản
lý, tổ chức khai thác hưởng lợi”. Trên cơ sở đó, thể nói, DLCĐ
một hình thức du lịch trong đó các cộng đồng địa phương đóng vai
trò chủ chốt trong việc phát triển, quản hưởng lợi từ hoạt động
du lịch. Mục tiêu của du lịch cộng đồng là tạo ra những trải nghiệm du
lịch lợi cho cả du khách cộng đồng địa phương, đồng thời bảo tồn
văn hóa, môi trường và các giá trị truyền thống của địa phương.
Trong những năm gần đây, DLCĐ Việt Nam đã phát triển mạnh
mẽ, đặc biệt tại các vùng nông thôn và miền núi. Các khu vực như Tây
Bắc, Tây Nguyên Đồng bằng sông Cửu Long đã trở thành những
điểm đến nổi bật của DLCĐ. Tại các tỉnh như Sa Pa, Hà Giang và Mộc
Châu, du khách có cơ hội trải nghiệm lối sống của các dân tộc thiểu số,
tham gia vào các hoạt động như cắm trại, trekking khám phá văn
hóa bản địa. Các vùng này nổi bật với mô hình DLCĐ gắn liền với bảo
tồn văn hóa, với nhiều hình thức lưu trú homestay các hoạt động
truyền thống được tổ chức bởi cộng đồng địa phương. Tại miền Tây
Nam Bộ, du lịch cộng đồng cũng đã phát triển với các hoạt động như
tham quan vườn trái y, tham gia vào các hoạt động sản xuất nông
nghiệp và thưởng thức ẩm thực địa phương.
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 111
2.2.2. Đặc điểm của du lịch cộng đồng
Theo kết quả nghiên cứu của TS. Đoàn Mạnh Cương (2019), DLCĐ
mang một số đặc trưng như sau: Thứ nhất, DLCĐ đảm bảo văn hoá,
thiên nhiên bền vững. Thứ hai, DLCĐ cần sở hữu cộng đồng. Thứ
ba, thu nhập từ du lịch cộng đồng cần giữ lại chia sẻ công bằng cho
cộng đồng. Thứ tư, DLCĐ cần tăng cường quyền lực cho cộng đồng:
cộng đồng dân được trao quyền làm chủ, thực hiện các dịch vụ
quản phát triển du lịch. Thứ năm, DLCĐ góp phần nâng cao nhận
thức cho cộng đồng. Thứ sáu, DLCĐ cần tăng cường hỗ trợ của các tổ
chức phi chính phủ và cơ quan nhà nước.
Theo Quỹ Châu Á, DLCĐ thường diễn ra dưới các hình thức sau:
(1) Du lịch sinh thái; (2) Du lịch văn hóa; (3) Du lịch nông nghiệp; (4)
Du lịch bản địa; (5) Du lịch làng. Đối tượng tìm đến loại hình DLCĐ
thường muốn tự trải nghiệm đời sống văn hóa, nhịp sống thường ngày,
môi trường tự nhiên hoang sơ. lẽ đó, bản sắc văn hóa tộc người
điều kiện cũng như cảnh quan sinh thái địa phương là hai trong nhiều
giá trị quan trọng thể khai thác trong hoạt động DLCĐ. Mỗi cộng
đồng, dân tộc thường bản sắc riêng đây tiền đề, điểm tựa để
phát triển DLCĐ bởi khách du lịch luôn tâm thế muốn trải nghiệm
những điều mới mẻ, khác với trải nghiệm thường ngày của họ.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu và xử thông tin: Thu thập tài liệu
từ những công trình nghiên cứu khoa học, bài báo tài liệu nghiên
cứu liên quan đến DLCĐ. Tìm ra khoảng trống nghiên cứu, đưa ra
giải pháp.
- Phương pháp phân tích tổng hợp thuyết: Tác giả phân tích
các thông tin thu thập được cách chi tiết với những tài liệu sẵn. Từ
đó, tim ra những đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu, lưu lại
những thông tin quan trọng liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu.
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1. Tài nguyên du lịch của tỉnh Đắk Nông
Đắk Nông là tỉnh có tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch văn hóa
đa dạng phong phú, thuận lợi cho việc phát triển loại hình du lịch