
KHAI THÁC BẢN SẮC VĂN HOÁ NGƯỜI DAO TRONG PHÁT TRIỂN DU
LỊCH VĂN HOÁ CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TS. Chử Thị Thu Hà1
Tóm tắt: Khai thác bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc phục vụ phát triển du lịch văn
hoá hiện đang được nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đặc biệt quan tâm. Hà Nội
- Thủ đô nghìn năm văn hiến của đất nước có nhiều lợi thế phát triển du lịch văn hoá bởi sở hữu
một di sản văn hoá đồ sộ với 5.922 di tích, 1.793 di sản văn hoá phi vật thể mang đậm dấu ấn lịch
sử và tinh hoa văn hóa dân tộc. Năm 2008, địa giới của Hà Nội được điều chỉnh mở rộng. Từ đó, tài
nguyên du lịch văn hoá của Thủ đô thêm phong phú bởi bản sắc văn hoá truyền thống của cộng
đồng các dân tộc thiểu số, trong đó có văn hoá của người Dao. Với mục tiêu đẩy mạnh phát triển
du lịch ở khu vực phía Tây thành phố Hà Nội, ngày 26/4/2024, Sở Du lịch Hà Nội phối hợp cùng
UBND huyện Ba Vì công bố Điểm đến du lịch cộng đồng bản Miền với chủ đề “Chữa lành – Tịnh
tâm – Dưỡng tuệ” tại thôn Hợp Sơn, xã Ba Vì thuộc huyện Ba Vì. Đây là một việc làm ý nghĩa,
thiết thực vừa mở ra một tuyến điểm du lịch ven đô hấp dẫn, vừa mang lại nguồn lợi kinh tế cho
người Dao; đồng thời khuyến khích người Dao giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống
của mình. Trên cơ sở phân tích bản sắc văn hoá truyền thống của cộng đồng người Dao ở Ba Vì,
bài viết xin tham góp một số ý kiến nhằm đa dạng hoá sản phẩm du lịch văn hoá cho điểm đến
này để ngày càng thu hút khách du lịch đến với nơi đây.
Từ khoá: Du lịch văn hoá, bản sắc văn hoá người Dao ở Ba Vì, điểm đến du lịch cộng đồng
bản Miền.
Abstract: How to fully exploite the traditional cultural identities of ethnic groups to develop
cultural tourism has been a special attention of many countries, including Vietnam. Hanoi
capital, which has undergone thousand years of civilization, has many advantages in developing
cultural tourism because it possesses a massive cultural heritage with 5,922 monuments and
1,793 intangible cultural heritages bearing historical imprints and quintessence of national
culture. Since Hanoi was expanded in 2008, the capital’s cultural tourism resources have become
1
Giảng viên khoa Văn hoá học, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội.

TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 45
even richer thanks to the new traditional cultural identities of ethnic minority communities in
the expanded areas, including those of the Dao people. With the goal of promoting tourism in
the western area of Hanoi city, on April 26, 2024, Hanoi Department of Tourism and the People’s
Committee of Ba Vi district introduced the Mien Community Tourism Destination in Hop Son
village, Ba Vi commune, Ba Vi district under the theme “Healing - Purifying the mind - Nurturing
wisdom”. This development does not only open up an attractive suburban tourist destination,
but also brings economic benefits to the Dao people. This, at the same time, encourages the
Dao people to preserve and promote their traditional cultural identity. This article, on one hand
analyses the traditional cultural identities of the Dao community in Ba Vi, and on the other hand
provides some perspectives to diversify cultural tourism products for this destination, making it
more attractive to tourists.
Key word: Cultural identity, Dao ethnic people in Ba Vi, Mien cummunity tourism destination.
1. MỞ BÀI
Trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 đã xác
định “Chú trọng phát triển du lịch văn hoá, gắn phát triển du lịch với bảo
tồn, phát huy giá trị di sản và bản sắc văn hoá dân tộc” (Thủ tướng Chính
phủ, 2020). Khai thác bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc phục
vụ phát triển du lịch đang được nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam
đặc biệt quan tâm. Hà Nội có nhiều lợi thế phát triển du lịch văn hoá
bởi sở hữu một di sản văn hoá đồ sộ với 5.922 di tích, 1.793 di sản văn
hoá phi vật thể (UBND Thành phố Hà Nội, Sở Văn hoá và Thể thao,
2021). Năm 2008, địa giới của Hà Nội được điều chỉnh mở rộng. Từ đó,
tài nguyên du lịch văn hoá của Thủ đô càng phong phú bởi bản sắc
văn hoá của cộng đồng các dân tộc thiểu số, trong đó có văn hoá của
người Dao ở xã Ba Vì, huyện Ba Vì. Đây là một nguồn tài nguyên văn
hoá đặc sắc giúp Hà Nội đẩy mạnh phát triển du lịch ở khu vực phía
tây thành phố. Ngày 26/4/2024, điểm đến du lịch cộng đồng bản Miền
được thành lập tại thôn Hợp Sơn, xã Ba Vì. Đây là mô hình du lịch cộng
đồng được phát triển trên cơ sở khai thác bản sắc văn hoá của người
Dao, hứa hẹn một điểm đến du lịch ven đô hấp dẫn, vừa mang lại
nguồn lợi kinh tế cho người Dao, đồng thời khuyến khích người Dao
giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của mình.

ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ46
2. KHÁI QUÁT VỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DAO Ở XÃ BA VÌ
Hiện nay, Ba Vì là xã duy nhất của huyện Ba Vì nói riêng và thành
phố Hà Nội nói chung có người Dao thuộc nhóm Dao Quần Chẹt cư
trú thành cộng đồng, với tổng dân số là 2.266 người, chiếm 98% dân số
toàn xã. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, họ vốn là dân du canh
du cư làm nương rẫy trên núi Ba Vì. Vào những năm 70 của thế kỷ XX,
cộng đồng người Dao xuống núi định cư, được người Mường và người
Kinh đang cư trú ở xã Ba Trại và xã Minh Quang nhường một phần đất
để thành lập xã riêng là Ba Vì. Đến nay, xã Ba Vì có ba thôn: Yên Sơn,
Hợp Sơn, Hợp Nhất với đặc điểm không liền kề mà xen kẽ bởi các thôn
người Mường, người Kinh của hai xã Minh Quang, Ba Trại. Song, nếu
xét về phía núi Ba Vì, địa giới ba thôn vẫn liền nhau: Yên Sơn giáp phía
Bắc dãy núi Ba Vì, Hợp Nhất và Hợp Sơn giáp phía Tây núi này. Do
được cư trú tập trung trong phạm vi một xã nên dù dân số ít hơn so với
hai tộc người Kinh và Mường sinh sống trong phạm vi toàn huyện1,
cộng đồng người Dao vẫn có môi trường riêng để thực hành các sinh
hoạt văn hoá tộc người.
Đến nay, người Dao ở Ba Vì còn bảo lưu nhiều phong tục tập quán
tốt đẹp trong đời sống hàng ngày. Tiếng nói, trang phục, các lễ hội đặc
trưng được thực hành thường xuyên trong cộng đồng. Một số nghề
thủ công truyền thống như may thêu trang phục, làm thuốc nam phát
triển hơn trước, được thị trường trong và ngoài nước biết đến. Bên
cạnh thiết chế xã hội hiện đại, vai trò của trưởng bản, trưởng dòng họ,
thầy cúng vẫn được cộng đồng coi trọng và có ý nghĩa trong việc duy
trì trật tự xã hội trong cộng đồng. Nhiều món ăn đặc sản của người
Dao như thịt lợn bản luộc, gà ri luộc, gà ri nấu măng chua, gà ri nấu
gừng nghệ, canh ốc nấu thính, ếch nấu măng chua, thịt sóc nấu măng
khô, hoa chuối rừng xào lá đu đủ non, xôi màu, cơm lam, rượu hoẵng,
các loại bánh ống, bánh dày, bánh rán, bánh nếp... đặc biệt là mâm cỗ
lá và món nước chấm truyền thống làm từ lõi của cây chuối non thái
mỏng; cùng với đó là cách sắp xếp 7 người trong mâm cỗ rất đặc trưng
và nhiều tập quán tốt đẹp trong ăn uống vẫn được duy trì.
1
Theo số liệu của Phòng Dân tộc thuộc UBND huyện Ba Vì vào năm 2022, dân số của người
Mường và người Dao chiếm 38,3% tổng dân số của toàn huyện, trong đó dân số của người
Dao là 2.266 người và người Mường là 26.235 người.

TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 47
Nhà truyền thống của người Dao khi còn trên núi Ba Vì là kiểu nửa
sàn nửa đất nhưng đến nay không còn nữa, thay vào đó là những
ngôi nhà xây kiểu cấp 4, mái bằng, nhà cao tầng. Tuy nhiên nhiều thói
quen trong bố trí mặt bằng sinh hoạt còn được lưu giữ như: bố trí gian
khách rộng để chứa đông người vào dịp lễ tết; cách bố trí ban thờ tổ
tiên phổ biến đặt ở góc nhà như truyền thống... Điều khá thú vị là cuối
năm 2011, gia đình bà Triệu Thị Hòa ở thôn Yên Sơn đã làm một ngôi
nhà theo kiểu nửa sàn nửa đất bằng vật liệu hiện đại. Bà Hoà cho biết
làm nhà này hết 996 triệu đồng, mục đích để bố trí nơi khám bệnh,
bán thuốc riêng của gia đình và sẵn sàng phục vụ nhu cầu ăn nghỉ nếu
khách có nhu cầu.
Hiện nay, trang phục truyền thống và kỹ thuật may thêu y phục của
người Dao vẫn được bảo tồn. Đặc biệt kỹ thuật thêu và các mẫu thêu
của người Dao nơi đây khá đa dạng, phong phú như: các mô-típ hình
động vật, mô-típ hình thực vật, hoa lá...
Các phong tục tập quán theo nghi lễ chu kỳ đời người được bảo
lưu. Khi người phụ nữ mang thai, gia đình mời thầy cúng về làm lễ
cầu bình an cho mẹ cùng thai nhi. Đến lúc đứa trẻ sinh ra, lễ tạ ơn
được làm ngay để báo đáp tổ tiên. Trẻ tròn tháng tuổi thì làm lễ cúng
mụ để ma mụ chăm nom đến lúc nó lớn khôn. Sau này lớn lên, nếu bé
ốm yếu hoặc nằm ngủ hay giật mình thì được cúng vía. Người Dao ở
Ba Vì coi trọng lễ sinh nhật, trẻ em, người lớn, nhất là người già đều
được tổ chức sinh nhật hàng năm, theo âm lịch. Trước khi lấy vợ, lấy
chồng, trai/gái người Dao phải làm lễ tách ma mụ. Nghi lễ hôn nhân
gồm nhiều nghi thức như: dạm hỏi, đính hôn, lễ cưới, lễ lại mặt. Sau
khi lấy vợ, nam giới người Dao ở Ba Vì phải trải qua lễ cấp sắc diễn ra
hai ngày hai đêm tại nhà tổ với 7 ông thầy cúng làm lễ. Kết thúc cuộc
sống của một con người là đám tang. Chôn được 3 ngày thì làm lễ đón
ma về nhập tổ tiên. Sau 3 năm, con cháu cúng thần đất xin đất mộ cho
người chết. Cuối cùng là đám chay tiễn hồn người chết lên thiên đàng.
Thông qua những nghi lễ này, bản sắc văn hóa tộc người được biểu
hiện rõ nét.
Ngoài các nghi lễ theo chu kỳ đời người, hàng năm, người Dao ở
Ba Vì còn nhiều lễ cúng thờ các vị thần như: thần lúa, thần chăn nuôi,

ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ48
thổ công, thổ địa, thần rừng... Các nghi lễ này được thực hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau, có thể do cả cộng đồng làm hoặc do từng
gia đình thực hiện. Thờ cúng của cộng đồng thường được tiến hành ở
miếu bản. Bên cạnh đó, mỗi gia đình người Dao tổ chức nhiều nghi lễ
riêng trong phạm vi gia đình để cầu mong tổ tiên và các vị thần nông
nghiệp phù hộ cho gia đình làm ăn thuận lợi, mùa màng tốt tươi như:
tết đầu năm mới; tết Thanh minh; tết tháng 5 (âm lịch) nhưng không
có ý nghĩa diệt sâu bọ như người Kinh mà mang ý nghĩa cầu mùa với
lễ vật cúng gồm bánh ống và gà. Tết tháng 7 (Âm lịch), người Dao Ba
Vì chỉ tổ chức từ ngày mồng 1 đến ngày 13 với mục đích cầu mùa. Tiếp
theo là lễ cơm mới. Lễ cơm mới được tổ chức vào tháng 8 (Âm lịch).
Đến cuối năm, họ tổ chức ăn tết hết năm. Lễ này được diễn ra sau lễ hạ
điền. Từ khoảng mồng 5 đến hết ngày 28 hoặc 29 tháng Chạp, người
Dao làm tết tổng kết năm và mời cả bản đến dự.
Ngoài những ngày lễ theo chu kỳ năm ở trên, các gia đình, dòng
họ người Dao ở Ba Vì còn làm đám chay, cấp sắc, tết nhảy, tạ mả... để
cúng tạ ơn thủy tổ Bàn Vương và tổ tiên trong dòng họ. Những dịp lễ
tết trên vừa là dịp đồng bào Dao ở Ba Vì thể hiện lòng biết ơn tổ tiên
vừa là dịp để họ trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống của
tộc người cho con em mình.
Hiện nay, trong các gia đình người Dao ở Ba Vì còn lưu giữ khá
nhiều sách cổ viết bằng chữ Nôm Dao. Đồng thời, trong gia đình các
thầy cúng và nhà tổ của người Dao vẫn lưu giữ nhiều nhạc cụ gắn
liền với nghi lễ cúng bái. Đi liền với nhạc cụ là các điệu múa nghi lễ
(múa chuông, múa cờ, múa rùa, múa kiếm, múa ra binh vào tướng...);
hát páo dung vừa mang màu sắc tôn giáo, vừa phản ánh đời sống lao
động, sinh hoạt văn hóa của người Dao.
Những biểu hiện trên cho thấy đời sống văn hóa phong phú của
người Dao ở Ba Vì, đồng thời cho thấy bản sắc văn hóa của họ còn được
lưu giữ khá đậm nét, làm nên đặc trưng của tộc người và là nguồn tài
nguyên văn hóa quý báu để phát triển loại hình du lịch văn hóa cho
khu vực phía tây của thành phố Hà Nội.

