
PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH DU LỊCH CÔNG NGHIỆP VỚI DU LỊCH VĂN HÓA
Ở ĐÔNG NAM BỘ
TS. Lê Vy Hảo1
TS. Lê Tuấn Anh2
Tóm tắt: Đông Nam Bộ là vùng đất có một nền văn hóa đa dạng, độc đáo. Đồng thời, đây cũng là
một trong những thủ phủ công nghiệp của cả nước, chứa đựng nhiều cơ hội để thúc đẩy phát triển
loại hình du lịch công nghiệp. Việc thử nghiệm mô hình du lịch công nghiệp kết hợp với du lịch
văn hóa đã được tiến hành tại nhiều địa phương ở Đông Nam Bộ như Bình Dương, Đồng Nai,…
Tuy nhiên, hiệu quả mang lại vẫn còn hạn chế do đây là loại hình khá mới mẻ và chưa thực sự hấp
dẫn đối với du khách. Vì vậy, cần có một mô hình kết hợp hiệu quả để phát huy tối đa tiềm năng
loại hình du lịch văn hóa - lịch sử truyền thống và du lịch công nghiệp hiện đại. Bài viết sử dụng
phương pháp nghiên cứu phân tích số liệu nhằm trình bày tiềm năng cũng như một số giải pháp
kết hợp giữa du lịch công nghiệp với du lịch văn hóa ở Đông Nam Bộ để góp phần gia tăng giá trị
của ngành du lịch của vùng.
Từ khóa: Du lịch, công nghiệp, Đông Nam Bộ, văn hóa.
Abstract: The Southeast is a region with a diverse and unique culture. This region is one of the
industrial capitals of the country, containing many opportunities to promote the development of
industrial tourism. Testing of the industrial tourism model combined with cultural tourism has
been conducted in many localities in the Southeast such as Binh Duong, Dong Nai, etc. However,
the effectiveness is still limited due to this. This type is quite new and not really attractive to
tourists. Therefore, it is necessary to have an effective combination model to maximize the
potential of traditional cultural and historical tourism and modern industrial tourism. The
article uses data analysis research methods to present the potential as well as some solutions for
1
Trường Đại học Thủ Dầu Một
2
Trường Đại học Thủ Dầu Một

ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ24
combining industrial tourism with cultural tourism in the Southeast to contribute to increasing
the value of the region’s tourism.
Keywords: Tourism, industry, Southeast, culture.
1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Sự phát triển như vũ bão của ngành công nghiệp dẫn đến nhu cầu
tất yếu nảy sinh du lịch công nghiệp - một loại hình du lịch mới mẻ và
độc đáo. Đây là loại hình loại hình du lịch sử dụng, khai thác ngành
công nghiệp truyền thống, di sản công nghiệp như nhà máy, công
xưởng sản xuất, phòng trưng bày sản phẩm của doanh nghiệp… Ở
nhiều quốc gia trên thế giới, du lịch công nghiệp đang trở thành xu
hướng mới, thu hút khách du lịch và mang đến hiệu quả kinh tế cao.
Thậm chí, nhiều công ty du lịch ở nước ngoài mở hẳn chuyên đề “du
lịch khám phá kinh tế” để đáp ứng nhu cầu này. Việc nghiên cứu về
tiềm năng du lịch công nghiệp cũng như khả năng kết hợp du lịch
công nghiệp với các loại hình du lịch khác cũng bắt đầu phổ biến ở Việt
Nam từ đầu thập niên 2010.
Đề tài “Nghiên cứu tiềm năng phát triển loại hình du lịch công nghiệp ở
Thái Nguyên” (2014) do Phạm Thị Phương Thái chủ nhiệm là một trong
những công trình đầu tiên liên quan đến chủ đề “du lịch công nghiệp”
tại Việt Nam. Đề tài đã góp phần hệ thống các cơ sở lý luận và thực tiễn
về phát triển du lịch công nghiệp; nghiên cứu tiềm năng du lịch công
nghiệp tại Thái Nguyên; phân tích, đánh giá lợi ích của việc phát triển
loại hình du lịch trên địa bàn Thái Nguyên; nghiên cứu thực trạng phát
triển du lịch công nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên và những nhân tố ảnh
hưởng tới loại hình du lịch này; đề xuất giải pháp để đẩy mạnh phát
triển du lịch công nghiệp một cách có hiệu quả và bền vững tại tỉnh
Thái Nguyên.
Tuy không trực tiếp đề cập đến lĩnh vực “du lịch công nghiệp”
nhưng Nguyễn Thị Tình, trong bài viết “Phát triển du lịch Việt Nam trong
bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” (Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình
Dương, số 541/2019), đã khẳng định Cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ 4 tạo ra những thay đổi lớn trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã
hội, tạo ra những cơ hội phát triển mạnh mẽ cho Việt Nam, trong đó
có lĩnh vực du lịch. Được biết đến là đất nước giàu tiềm năng du lịch,

TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 25
nếu Việt Nam đầu tư, biết tận dụng khai thác tốt cơ hội mà cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ 4 mang lại thì ngành du lịch Việt Nam sẽ có
những phát triển ngoạn mục, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng và
phát triển kinh tế Việt Nam.
Lâm Ngọc Như Trúc đã đưa ra gợi mở cho du lịch Việt Nam trong
bài viết “Chính sách phát triển du lịch của Nhật Bản và một số gợi ý cho du
lịch Việt Nam” khi đề cập đến mô hình du lịch công nghiệp của Nhật
Bản thông qua việc mở các tour du lịch trọn gói ở các doanh nghiệp tư
nhân, sử dụng các ngành công nghiệp truyền thống, các di sản công
nghiệp như nhà máy, công xưởng sản xuất, phòng trưng bày sản phẩm
của doanh nghiệp kết hợp với sản phẩm du lịch tạo nên những điểm
du lịch tổng hợp, hấp dẫn nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, nghiên
cứu và trải nghiệm của du khách.
Trong bài viết “Phát triển du lịch Việt Nam sau đại dịch Covid-19 theo
định hướng công nghiệp văn hóa” (Văn hóa và nguồn lực, số 01/2023), Kim
Byeong Du, Nguyễn Lê Uyên Diễm cho rằng để phục hồi và phát triển
bền vững, Việt Nam cần có những định hướng và giải pháp cụ thể,
trong đó có định hướng của Chính phủ về đầu tư văn hóa và phát
triển công nghiệp văn hóa. Với tiềm năng và lợi thế về văn hóa, Việt
Nam cần khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa bản địa, đầu tư và nâng
cao chất lượng sản phẩm du lịch văn hóa đáp ứng nhu cầu của khách
du lịch; đồng thời gia tăng giá trị và bảo tồn các giá trị văn hóa nước
nhà theo định hướng công nghiệp văn hóa. Khái niệm “công nghiệp
văn hóa” được các tác giả tiếp cận theo định nghĩa” của UNESCO: “là
ngành công nghiệp, bán công nghiệp thậm chí là phi công nghiệp,
miễn tạo ra sản phẩm vào thị trường, theo một quy trình dây chuyền:
sản xuất - sáng tạo - phổ biến - tiêu dùng. Đó là sự giao thoa giữa kinh
tế (sản xuất - tiêu dùng) và văn hóa (sáng tạo - phổ biến) là bản chất
của các ngành công nghiệp văn hóa. Nếu kinh tế tạo ra vật chất, công
ăn việc làm, thì văn hóa tạo ra giá trị, ý nghĩa và bản sắc, trong đó sáng
tạo là trung tâm của mọi hoạt động”. Theo cách tiếp cận trên, các sản
phẩm tạo ra từ hoạt động sản xuất công nghiệp, nếu đưa được đến với
du khách thông qua các dịch vụ du lịch phù hợp, có thể được xem là
sản phẩm du lịch.

ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ26
Có thể thấy cho đến nay, mặc dù Việt Nam đang trong quá trình
công nghiệp hóa hết sức mạnh mẽ, việc nghiên cứu về chủ để “du lịch
công nghiệp” vẫn còn khá ít để tạo ra sự thay đổi về nhận thức trong
việc quy hoạch phát triển du lịch cho phù hợp với bối cảnh thời đại.
Nghiên cứu về “du lịch công nghiệp” và mô hình kết hợp du lịch công
nghiệp với những loại hình du lịch khác, thiết nghĩ là điều hết sức cần
thiết, vừa giúp phát huy tiềm năng của Đông Nam Bộ để phát triển
kinh tế, vừa quảng bá hình ảnh và định hướng cho kinh tế công nghiệp
vùng phát triển theo hướng bền vững trong tương lai.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết dựa vào lý thuyết và dữ liệu từ những nghiên cứu sẵn có về
du lịch vùng cũng như việc những hiểu biết thu thập được thông qua
việc tìm hiểu về hoạt động du lịch công nghiệp của vùng Đông Nam
Bộ, từ đó sử dụng phương pháp phân tích và tổng lợp để trình bày
thực trạng cũng như tiềm năng trong việc phát triển mô hình kết hợp
du lịch công nghiệp và du lịch văn hóa ở Đông Nam Bộ. Từ đó, nhóm
tác giả đưa ra một số khuyến nghị để thúc đẩy sự phát triển của du lịch
công nghiệp cũng như mô hình kết hợp du lịch công nghiệp và du lịch
văn hóa của vùng.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Một số hạn chế trong phát triển du lịch Đông Nam Bộ
Vùng Đông Nam Bộ là nơi hội tụ đa dạng tài nguyên du lịch với lợi
thế rừng, biển, sông, hồ, hệ thống di tích văn hóa, lịch sử, làng nghề để
phát triển nhiều loại hình du lịch về nguồn, du lịch sinh thái, du lịch
nghỉ dưỡng, du lịch biển. Bên cạnh đó, vùng Đông Nam Bộ cũng được
thiên nhiên ưu ái về khí hậu, có nhiều hồ lớn và hệ sinh thái rừng đa
dạng thuận lợi cho phát triển du lịch. Từ những thuận lợi đó, trong
những năm vừa qua hoạt động du lịch của vùng diễn ra rất sôi nổi,
mang lại nguồn doanh thu cao cho vùng (bảng 1):

TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 27
Bảng 1: Doanh thu du lịch lữ hành theo giá hiện hành phân theo địa
phương của Đông Nam Bộ (2012 - 2022) (Đơn vị: Tỷ đồng).
2012 2014 2016 2018 2020 2022
Đông
Nam Bộ 13505,8 17092,9 19560,4 24773,7 8264,8 18053,4
Bình
Phước 0,9 4,1 12,4 13,9 3,4 7,4
Tây Ninh 9,2 22,5 19 20,8 9,4 6,6
Bình
Dương 205,6 30,9 77,3 101,2 45,8 65
Đồng
Nai 69,7 68,3 91,4 104,5 52,8 32,6
Bà Rịa
- Vũng
Tàu
170,9 195,2 263,3 314,4 156,7 206
TP. Hồ
Chí
Minh
13049,5 16771,9 19097 24218,9 7996,7 17735,8
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2022
Tuy nhiên, hoạt động du lịch của vùng Đông Nam Bộ vẫn đang tồn
tại một số hạn chế, như:
Thứ nhất, thiếu sự gắn kết, đồng bộ trong việc phát triển du lịch.
Qua Bảng 1, có thể thấy địa bàn đến tham quan vùng Đông Nam Bộ
chủ yếu là Thành Hồ Chí Minh, do đây là đầu mối giao thông và tập
trung các hãng lữ hành quốc tế. Trong khi đó, các địa phương còn lại
trong vùng, như Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh và Bình Phước trở
thành những địa hạt du lịch “ăn theo” thành phố năng động bậc nhất
Việt Nam này. Điều này cho thấy, việc phát triển du lịch vùng Đông
Nam Bộ đang trong tình trạng thiếu sự đồng đều, đồng bộ, đặc biệt
việc hợp tác, liên kết để khai thác tối đa những tiềm năng vốn có giữa
các địa phương trong vùng chưa được quan tâm đúng mức. Do đó,
dẫn đến tình trạng chung là du lịch các tỉnh, thành phố trong vùng
Đông Nam Bộ phát triển tự phát và manh mún, chưa có sự gắn kết

