BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO ĐÀ NẴNG
THỂ DỤC CỔ ĐỘNG
(SÁCH CHUYÊN KHẢO DÀNH CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC TDTT)
Nhóm biên soạn:
PGS – TS. LÊ ĐỨC CHƯƠNG
TS. TRẦN MẠNH HƯNG
ThS. NGÔ THANH HỒNG
ThS. TRẦN TÙNG DƯƠNG
ThS. NGUYỄN THỊ QUỲNH MAI
1
LỜI NÓI ĐẦU
Thể dục cổ động bắt nguồn từ hoạt động reo hò nhằm tăng sức lôi
cuốn trong các trận thi đấu, được đông đảo khán giả, nhất là giới trẻ hưởng
ứng nhiệt tình. Môn thể dục cổ động có tác dụng tích cực trong thúc đẩy mối
giao lưu giữa khán giả khi xem thi đấu, có vai trò quan trọng trong các trận thi
đấu thể thao, được xem là tinh thần của mỗi một nội dung thi đấu.
So với các môn thể thao khác, thể dục cổ động tương đối nổi trội hơn
về đặc điểm, thể hiện tinh thần đồng đội rõ nét, cảm giác sức mạnh và tốc độ
dứt khoát, có thể kết hợp hiệu quả với các môn thi đấu khác, những đặc điểm
nêu trên góp phần cấu thành nét độc đáo của bộ môn thể dục cổ động.
Cuốn sách này cung cấp một cái nhìn tổng quan về thể dục cổ động, thể
hiện ý nghĩa văn hóa trong hoạt động thể thao, các yếu tố cấu thành và kỹ
thuật cơ bản của hoạt động thể dục cổ động thi đấu và biểu diễn trên khán đài,
phương pháp biên soạn, sáng tác, tập luyện, tổ chức và quản lý thi đấu, quy định
về luật chấm điểm, hơn nữa cuốn sách này cũng xây dựng và hướng dẫn các ví
dụ động tác mẫu, cách biểu diễn cơ bản về thể dục cổ động.
Cuốn sách có nhiều nội dung, hình thức, nhằm nâng cao chất lượng
nghiên cứu học tập của sinh viên. Mục đích là tập trung vào lý thuyết và thực
hành đáp ứng được nhu cầu người học, là tài liệu cho công tác giảng dạy,
nghiên cứu, tập luyện đạt kết quả cao.
Để mở rộng kiến thức của người học và tăng cường hiệu quả giảng dạy
thực tiễn, cuốn sách bố trí chương trình học đa dạng, tập hợp các thuật ngữ, kỹ
thuật, hình ảnh kỹ thuật để giúp người học nghiên cứu chuyên sâu các nội
dung cũng như nhiều tài liệu liên quan khác.
Cuốn sách này sử dụng cho tất cả các đối tượng, là cẩm nang hữu hiệu
cho sinh viên các trường Đại học, cao đẳng, trung cấp… cũng có thể áp dụng
làm tài liệu tham khảo cho các trường cao đẳng và đại học, là tài liệu giảng dạy
2
môn thể thao tự chọn cho mọi đối tượng trong trường học hoặc hoạt động ngoại
khóa.
Đây là cuốn sách đầu tiên được tập thể các Cán bộ giảng viên Trường
Đại học Thể dục thể thao Đà Nẵng biên soạn nhằm đáp ứng nội dung nằm trong
chương trình đào tạo chung trình độ đại học và cao đẳng được biên soạn dựa
trên các yêu cầu đổi mới công tác đào tạo của nhà trường đặt ra hiện nay.
Thực tiễn hoạt động của môn thể dục cổ động hết sức đa dạng, phong
phú, luôn đổi mới và phát triển theo nhu cầu của xã hội nên việc biên tài liệu
môn học cũng gặp nhiều khó khăn, không tránh khỏi thiếu sót. Tập thể nhóm
biên soạn xin tiếp thu và cảm ơn những ý kiến đóng góp phê bình của bạn
đọc, các đồng nghiệp để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn.
Nhóm biên soạn
3
PHẦN 1
THỂ DỤC CỔ ĐỘNG THI ĐẤU
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ THỂ DỤC CỔ ĐỘNG
1. Nguồn gốc và sự phát triển của thể dục cổ động
1.1. Nguồn gốc và sự phát triển của thể dục cổ động trên thế giới
Thể dục cổ động (cheerleading) bắt nguồn tại Mỹ, được xem là môn
thể thao mới nổi. Lịch sử hình thành bộ môn này có thể xuất phát từ thời kỳ
nguyên thủy của các bộ lạc. Trong xã hội bộ lạc thời sơ khai, để khích lệ tinh
thần của các chiến sĩ trước khi ra trận hoặc đi săn bắn, các người còn lại trong
bộ tộc sẽ biểu diễn, reo hò, hoan hô, nhảy múa để cổ vũ, với hy vọng họ sẽ
chiến thắng trở về.
Thể dục cổ động mãi đến nửa cuối thế kỷ 19 mới chính thức phát
triển. Vào những năm 70 của thế kỷ này, câu lạc bộ thể dục cổ động đầu tiên
được thành lập tại trường Đại Học Princeton nước Mỹ. Năm 1898, sinh viên
của trường Đại Học Minnesota, Johnny Campbell trong một trận thi đấu bóng
bầu dục vì quá phấn khích đã nhảy ra trước đám đông, hướng dẫn khán giả
reo hò cổ vũ cho trận đấu, đây là hoạt động đánh dấu sự chuyển biến vô cùng
quan trọng cho môn thể dục cổ động sau này, và được ghi chép cùng đăng tải
trên chính tạp chí “Ariel” do sinh viên trường Minnesota phát hành. Johnny
Campbell trở thành đội trưởng đầu tiên của đội thể dục cổ động, là cột mốc
đáng nhớ ghi nhận sự ra đời chính thức của bộ môn này.
Đầu thế kỷ 20, loa phóng thanh bắt đầu sử dụng phổ biến trong các
đội thể dục cổ động. Những năm 20 của thế kỷ này, bạn nữ trong đội thể dục
cổ động hoạt động huyên náo hơn, sử dụng động tác thể dục kết hợp với reo
hò cùng các đạo cụ khác làm tăng thêm không khí cho buổi biểu diễn. Đến
đầu những năm 50, trường đại học mở các lớp bồi dưỡng dành cho thể dục cổ
động, giảng dạy kỹ xảo cùng kỹ thuật cơ bản. Năm 1967, nước Mỹ bắt đầu
4
lập bảng xếp hạng năm kỳ đầu tiên dành cho “ Top 10 Đội Thể Dục Cổ Động
Trong Các Trường Đại Học”. Đầu những năm 70, thể dục cổ động xuất hiện
rộng rãi trên hiện trường của các giải thi đấu, thậm chí phục vụ cả các giải thi
đấu võ vật, bơi lội và điền kinh. Mùa xuân năm 1978, kênh thể thao của công
ty truyền hình Côlômbia, nước Mỹ (tên viết tắt: CBS) lần đầu tiên phát sóng “
Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Các Trường Đại Học” trên phạm vi toàn
quốc. Từ đó, thể dục cổ động được đông đảo mọi người biết đến. Năm 1980,
Mỹ tổ chức “ Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Toàn Quốc Lần Thứ Nhất”,
đồng thời đưa ra luật thể dục cổ động, đánh dấu bước khởi đầu thể dục cổ
động gia nhập vào nội dung những môn thi đấu. Những năm tiếp theo, thể dục
cổ động phát triển với tốc độ chóng mặt, các giải thi đấu thể dục cổ động
được tổ chức rộng rãi từ bậc Trung Học, Phổ Thông đến Đại Học tại các bang
trên toàn nước Mỹ, tầm ảnh hưởng và tiếng tăm ngày càng nhân rộng. Mỗi
trường Đại Học, Trung Học, Tiểu Học của các bang trên nước Mỹ đều có đội
thể dục cổ động riêng, cũng như tự xây dựng nên trang web riêng của đội.
Giải thi đấu thể dục cổ động toàn quốc hàng năm được phát sóng đều thu hút
lượng lớn khán giả xem truyền hình, đạt tỉ lệ khán giả xem cao. Hiện nay, thể
dục cổ động trở thành một trong những môn thể thao xã hội tiêu biểu trên
khắp nước Mỹ, toàn thế giới có đến 60 quốc gia phát triển bôn môn thể thao
này.
Liên Đoàn Ngôi Sao Quốc Tế (International All-Star Federation, tên
viết tắt : IASF) có trụ sở chính đặt tại Mỹ, tổ chức trên là liên minh của đội
thể dục cổ động Ngôi Sao Nước Mỹ, đóng vai trò làm cầu nối hướng ra toàn
thế giới, thông qua tổ chức “Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Và Vũ Đạo Thế
Giới” (The Cheerleading & Dance Worlds) mỗi năm một lần nhằm thúc đẩy
sự phát triển của bộ môn thể thao này. Cùng với quá trình quốc tế hóa, Liên
Minh Thể Dục Cổ Động Ngôi Sao Nước Mỹ từng bước phát triển thành Liên
Minh Thể Dục Cổ Động Ngôi Sao Quốc Tế và sau đó trở thành Hiệp Hội Thể
5
Dục Cổ Động Ngôi Sao Quốc Tế (International All-Star Cheerleading
Association, tên viết tắt: IASCA); Liên Minh Thể Dục Cổ Động Quốc Tế
(International Cheer Union, tên viết tắt: ICU) thực hiện quảng bá môn thể
thao này dưới sự trợ giúp đắc lực của Liên Minh Thể Dục Cổ Động Ngôi Sao
Nước Mỹ và dưới sự chỉ đạo của Hiệp Hội Thể Dục Cổ Động Ngôi Sao Quốc
Tế.
Năm 1998, Liên Hiệp Thể Dục Cổ Động Quốc Tế (International
Federation of Cheerleading, tên viết tắt: IFC) được thành lập tại Tokyo, Nhật
Bản, là cột mốc quan trọng đánh dấu bước ngoặt chuyển mình của môn thể
dục cổ động.
Các mục tiêu của IFC là thúc đẩy môn thể dục cổ động phát triển trên
toàn thế giới, truyền bá kiến thức về cổ vũ và phát triển quan hệ hữu nghị giữa
các thành viên hiệp hội thể thao, các liên đoàn.
IFC thực hiện và quản lý các hoạt động sau để đạt được các mục tiêu nêu
trên: Thúc đẩy các hoạt động cổ vũ trên toàn cầu, ủy quyền, hợp tác, và đồng
chủ nhà giải vô địch quốc tế và thế giới. Quy định về các cuộc thi, phê duyệt và
tăng số lượng trọng tài quốc tế. Phát triển hệ thống huấn luyện và tăng số lượng
các huấn luyện viên quốc tế. Tổ chức kiểm tra hoạt động cổ động và bài giảng
dựa trên các quy tắc quốc tế. Đưa ra các thông tin và hỗ trợ nghiên cứu về cổ
động. Chỉnh sửa và xuất bản sách, băng âm thanh, phim, và các loại tương tự.
Cho phép các công ty, cá nhân và các tổ chức khác đóng góp đồng thời nhận sự
hỗ trợ của IFC, thực hiện các hoạt động cần thiết khác để đạt được mục đích của
IFC.
Tháng 11 năm 2001, tại thủ đô Tôkyo của Nhật Bản đăng cai tổ chức
Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới Lần Thứ Nhất (Cheerleading
World Championships), thu hút 8 quốc gia trên toàn thế giới tham dự (gồm:
Phần Lan, Đức, Nhật Bản, Na-uy, Slovenia, Thụy Điển, Anh và Đài Loan),
chính thức đưa thể dục cổ động lên tầm thi đấu quốc tế. Năm 2003, Giải Vô
6
Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới Lần Thứ Hai được tổ chức tại thành phố
Manchester nước Anh với sự tham gia của 9 quốc gia gồm: Phần Lan, Đức,
Nhật Bản, Na-uy, Slovenia, Thụy Điển, Anh, Đài Loan và Nga. Ngày 5- 6
tháng 11 năm 2005, thủ đô của đất nước hoa anh đào, Tôkyo lại một lần nữa
trở thành đai diện nước chủ nhà tổ chức Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế
Giới Lần Thứ Ba, giải này số đội tham dự lên đến 13 đội, gồm Australia, Đài
Loan, Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Nhật Bản, Na-uy, Nga, Slovenia, Thụy
Điển, Anh và Ukraine. Ngày 17-18 tháng 11 năm 2007, Giải Vô Địch Thể
Dục Cổ Động Thế Giới Lần Thứ Tư được tổ chức tại Helsink, thủ đô của
Phần Lan, có 25 quốc gia tranh tài. Năm 2009, Đức đăng cai tổ chức Giải Vô
Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới Lần Thứ Năm. Năm 2009, Đức đăng cai tổ
chức Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới Lần Thứ Năm. Năm 2011,
Hồng Kông đăng cai tổ chức Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới Lần
Thứ Sáu. Năm 2013, Thái Lan đăng cai tổ chức Giải Vô Địch Thể Dục Cổ
Động Thế Giới Lần Thứ Bảy. Năm 2015, Đức đăng cai tổ chức Giải Vô Địch
Thể Dục Cổ Động Thế Giới Lần Thứ Tám. Cụ thể tình hình phát triển môn
thể dục cổ động trên thế giới được trình bày trên bảng 1.
Bảng 1: Tình hình phát triển môn thể dục cổ động trên thế giới
Thời
gian Địa điểm Sự kiện
(năm)
Ghi chép và đăng tải hoạt động hò reo có tổ 1898 ĐH Minnesota, Mỹ chức lần đầu tiên trên tạp chí “Ariel”
Loa phóng thanh lần đầu tiên được đưa vào sử 1898 Mỹ dụng hỗ trợ trong các đội thể dục cổ động
ĐH Oregon State, Lindly Bothwell chỉ đạo đội thể dục cổ động, 1920 Mỹ lần đầu sử dụng kết hợp với đạo cụ.
7
Lawrence R. Herkime đăng ký thành lập công
1940 Mỹ ty đầu tiên chuyên cung cấp sản phẩm phục vụ
cho thể dục cổ động
Thành lập Liên Hiệp Thể Dục Cổ Động Toàn 1948 Mỹ Nước Mỹ
Bông tua được sử dụng trong các giải thi đấu 1960 Mỹ thể dục cổ động
Lần đầu công bố bảng xếp hạng Top 10 đội
1967 Mỹ thể dục cổ động trong các trường Phổ Thông
trên toàn nước Mỹ
Xuất bản Luật Thể Dục Cổ Động đầu tiên trên 1980 Mỹ thế giới
Thành lập Liên Hiệp Thể Dục Cổ Động Quốc 1998 Tôkyo, Nhật Bản Tế
Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2001 Tôkyo, Nhật Bản Lần Thứ Nhất
Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2003 Manchester, Anh Lần Thứ Hai
Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2005 Tôkyo, Nhật Bản Lần Thứ Ba
Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2007 Helsink, Phần Lan Lần Thứ Tư
Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2009 Đức Lần Thứ Năm
Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2011 Hồng Kông Lần Thứ Sáu
8
Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2013 Thái Lan Lần Thứ Bảy
Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2015 Berlin, Đức Lần Thứ Tám
1.2. Sự phát triển của thể dục cổ động ở Việt Nam
Tại Việt Nam, bộ môn này tuy còn khá mới mẻ nhưng đã nhanh chóng
thu hút sự hứng thú, quan tâm của những bạn học sinh, sinh viên yêu thích sự
sáng tạo khỏe khoắn và hiện đại.
Ở Việt Nam lúc trước, Nhảy cổ động chỉ được biết đến qua những bộ
phim nước ngoài dành cho tuổi mới lớn, như Bring it on, High School
Musical, Glee..., thì giờ đây, nó đã trở nên rất phổ biến ở Việt Nam, thu hút
sự quan tâm của đông đảo thanh thiếu niên, học sinh - sinh viên tại các đô thị
lớn, đặc biệt với sự ra đời giải U-League, giải sinh viên văn thể mỹ được Bộ
Giáo dục và Đào tạo tổ chức hàng năm, với sự tham gia của các trường Cao
đẳng, Đại học đến từ 3 miền Bắc - Trung- Nam. Riêng tại Thành phố Hồ Chí
Minh, Nhảy cổ động rất được yêu thích tại các trường THPT Marie Curie,
THPT Lê Quý Đôn, Đại học Ngoại thương, Đại học Sư Phạm, Đại học Bách
Khoa, Đại học Kiến trúc... Tùy theo quy mô của từng trường, mà có từ vài
chục đến hơn cả trăm thành viên cả nam lẫn nữ tham gia. Trong thời gian gần
đây, cũng có đội Nhảy cổ động mang hơi hướng chuyên nghiệp đầu tiên là đội
Saigon Hot Girls thường xuyên khuấy động không khí trên khán đài nhà thi
đấu Tân Bình (TPHCM) để cổ vũ các trận đấu của đội bóng rổ Saigon Heat
tại Giải bóng rổ nhà nghề Đông Nam Á.
2. Các khái niệm và đặc điểm của thể dục cổ động
2.1. Khái niệm về thể dục cổ động
Xét theo nghĩa rộng, thể dục cổ động là loại hoạt động có tổ chức với
mục đích trợ uy cho các giải thi đấu thể thao
9
Xét theo nghĩa hẹp, thể dục cổ động là môn thể thao VĐV thực hiện
các kỹ thuật chuyên biệt dành cho thể dục cổ động kết hợp với động tác vũ
đạo dưới sự trợ giúp của nhạc nền, tập trung thể hiện tinh thần đồng đội tích
cực, lành mạnh, hoạt bát của tuổi trẻ.
Một số khái niệm liên quan:
Nhảy cổ động (tiếng Anh: Cheerleading) có xuất xứ từ nước Mỹ từ
những năm 1923. Đây là môn thể thao dựa trên sự kết hợp đồng đội. Một bài
cổ động thường kéo dài từ một đến năm phút tùy theo mức độ khó, bao gồm
các động tác nhào lộn, bật nhảy, dựng tháp và vũ đạo. Nhảy cổ động thường
được biểu diễn vào giờ nghỉ giải lao trong các trận đấu thể thao như bóng rổ,
bóng đá, bóng bầu dục... Bộ môn này đã dần trở nên phổ biến trên toàn thế
giới và đặc biệt đang phát triển tại các nước Châu Á, đặc biệt là các quốc gia
đã thành lập được cộng đồng cheer mạnh như Nhật Bản, Thái Lan, Indonesia,
Philippines...
Cổ vũ viên (tiếng Anh: cheerleader) là thành viên trong đội cổ vũ
chính thức của mỗi đội tại các cuộc thi đấu thể thao. Các đội cổ vũ
(cheerleading squad) thường có đồng phục riêng cho các thành viên nam và
nữ, với nhiệm vụ chính là khích lệ khán giả cổ võ cho đội nhà, giúp mang lại
sự nồng nhiệt cho trận đấu, cũng như là biểu diễn đồng bộ các nhịp điệu
(routine) sôi động đã được tập luyện kỹ càng, hòa với các pha bay nhảy, nhào
lộn đẹp mắt trong giờ giải lao để giữ bầu không khí hăng say trong sân vận
động. Họ thường được tập hợp thành từng đội với trang phục đồng nhất, gợi
cảm, tay cầm chùm hoa, nhảy múa theo các vũ điệu đã được tập dượt thành
thục hoặc theo các tình tiết phát sinh trong trận thi đấu.
2.2. Đặc điểm của thể dục cổ động
2.2.1 . Đoàn kết và sự phối hợp
Thể dục cổ động là hoạt động được triển khai dưới hình thức tập thể,
số người tham gia thi đấu từ 6 - 30 VĐV, không giới hạn về giới tính. Một
10
hoặc hai, ba người rất khó đạt được hiệu quả biểu diễn trong thể dục cổ động,
chỉ khi lượng người tham gia biểu diễn đạt đến con số nhất định, mới có thể
hoàn thành các kỹ xảo phức tạp cũng như những động tác mang tính sáng tạo,
khi đó mới thực sự truyền tải được sức hấp dẫn không giới hạn của bộ môn
này. Trong suốt quá trình thực hiện động tác, tập luyện hoặc biểu diễn dưới sự
chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên hay huấn luyện viên, đều cần đến sự phối
hợp, khích lệ, tin tưởng lẫn nhau, thì cả đội mới có thể hoàn thành tốt nhiệm
vụ được giao.
2.2.2. Mạnh mẽ và sôi động
Thể dục cổ động thể hiện nổi trội và rõ nét khí thế hừng hực, lành
mạnh của tuổi trẻ. Do đó, vận động viên thể dục cổ động cần phải có hình
tượng tươi trẻ, tinh thần trong sáng cùng thể hình đẹp. Vận động viên nam
phải có cơ bắp cuồn cuộn, thể hình cân đối như hình tam giác ngược; vận
động viên nữ phải có cơ bắp săn chắc, tỉ lệ thân trên và chi dưới cân đối, màu
da sáng, khỏe. Tất cả các vận động viên thể dục cổ động đều yêu cầu phải có
sự cân đối về vóc dáng, hình thể cũng như diện mạo, đại diện cho sức khỏe và
vẻ đẹp trong sáng của tuổi trẻ.
2.2.3. Nổi bật về phong cách
Phong cách kỹ thuật của thể dục cổ động không giống với thể dục
thẩm mỹ hay vũ đạo, nó chú trọng hơn đối với quá trình thực hiện động tác
của cơ thể thông qua tăng tốc đột ngột với thời gian ngắn cùng điểm dừng vị
trí nhằm thể hiện cảm giác sức mạnh riêng biệt của bộ môn này. Những động
tác với nhịp chậm vừa phải vẫn được chấp nhận, nhưng chỉ được xuất hiện
với vai trò là nhịp đệm để thực hiện động tác kế tiếp. Yêu cầu vận dụng các
động tác tay, bước chân, bước nhảy cơ bản kết hợp với nhiều nhân tố vũ đạo,
khẩu lệnh khác, thông qua biến hóa đội hình, thay đổi tiết tấu nhằm thể hiện
rõ nét đặc trưng chuyên môn của thể dục cổ động. Tất cả các động tác thực
hiện trên không rơi xuống bắt buộc phải tiếp đất bằng hai chân, đồng thời phải
11
có giai đoạn hoãn xung; khi thực hiện các động tác tung - hứng, người ở dưới
phải đảm nhận vai trò hoãn xung. Nội dung của các động tác triển khai theo
bài phải có kết thúc và mở đầu rõ ràng. Tất cả các động tác khó bắt buộc phải
có yêu cầu và qui định cụ thể. Ví dụ: kết thúc của nhóm động tác thăng bằng
xoay người yêu cầu: góc xoay người phải hoàn chỉnh, trọng tâm vững; động
tác bật nhảy yêu cầu mỗi lần nhảy phải có tư thế động tác, góc, biên độ rõ
ràng
2.2.4 . Tính mục đích rõ ràng
Thể dục cổ động thông qua hàm ý phong phú của động tác tay, khẩu
hiệu rõ ràng, động tác đều đặn, đạo cụ bắt mắt, biến hóa phức tạp của đội hình
cộng thêm thay đổi kỹ xảo trên không với mục đích truyền tải đến cho người
xem một thái độ sống lạnh mạnh, một tinh thần đầy lạc quan, tự tin. Bên cạnh
đó, cùng với màn biểu diễn đặc sắc của toàn đội, mong muốn truyền đạt quan
niệm chủ nghĩa tập thể lớn mạnh, hỗ trợ, đoàn kết của đồng đội, tinh thần tiến
thủ của thời đại, nhằm thêm sắc màu cho đội thi đấu, đây là điều mà môn thể
thao khác không thể sánh được
2.3. Phân loại thể dục cổ động
Căn cứ vào nơi biểu diễn để phân loại, thì thể dục cổ động chia thành:
Thể dục cổ động trên sân và thể dục cổ động trên khán đài. Dựa trên kỹ thuật
động tác để phân loại, thì thể dục cổ động trên sân lại chia thành: Thể dục cổ
động kỹ xảo và thể dục cổ động vũ đạo. Dựa trên quan sát vận động viên có
cầm đạo cụ hay không, thể dục cổ động trên khán đài lại được phân thành hai
loại đó là: Thể dục cổ động tay không và thể dục cổ động có đạo cụ. Trong
đó, thể dục cổ động kỹ xảo là môn thi đấu đồng đội với các nội dung cơ bản
sau: Nhào lộn, nâng - đỡ, tung - bắt, tổ hợp kim tự tháp, khẩu hiệu..., được
phân chia thành ba hạng mục thi đấu chính gồm: Tổ hợp nam nữ (Mixed); tổ
hợp nữ (All-Female) và kỹ năng bạn nhảy (Partner stunts). Thể dục cổ động
vũ đạo là nội dung thi đấu đồng đội chủ yếu sử dụng các động tác vũ đạo,
12
thông qua trình diễn để nổi bật kỹ xảo vũ đạo cùng các nhân tố khác, đồng
thời có thể kết hợp với đạo cụ; được chia thành các nhóm như: bông tua
(Pom), đá cao (High kick), điệu Jazz, nhảy hiện đại, Hip-hop...
Ngoài ra, tiêu chuẩn tham dự giải vô địch thể dục cổ động toàn nước
Mỹ, được xem là giải đấu đại diện cho trình độ cao nhất của thể dục cổ động
thế giới đó là: Số vận động viên trong đội: Từ 6 - 30 người, chia thành 4
nhóm lần lượt tham gia thi đấu, gồm: Nhóm nghiệp dư, nhóm trung học,
nhóm đại học và nhóm chuyên nghiệp.
3. Nhiệm vụ và tầm quan trọng của thể dục cổ động
3.1. Nhiệm vụ của thể dục cổ động
Thể dục cổ động có nguồn gốc từ nghi thức tiễn chiến binh ra trận
đánh giặc của giai đoạn sơ khai thời kỳ các bộ lạc, thông qua tiếng hoan reo,
điệu nhảy cùng các hình thức biểu diễn khác nhằm khích lệ tinh thần chiến
đấu của chiến binh, hy vọng họ sẽ chiến thắng trở về. Tương tự, môn thể dục
cổ động hiện đại cũng vẫn bảo toàn được những nội hàm bản chất đó, kết hợp
với nhiều giải thi đấu thể thao các môn như bóng rổ, bóng đá, bóng chuyền,
bóng bầu dục ...tận dụng thời gian nghỉ giữa hiệp hoặc thời gian rảnh lúc tạm
dừng trận đấu, dưới sự hỗ trợ của nền nhạc, thực hiện động tác vũ đạo và kỹ
xảo phức tạp, kèm theo khẩu hiệu vang dội cùng đạo cụ bắt mắt, qua màn
biểu diễn đầy kịch tính đạt được mục đích cổ vũ, ủng hộ, khích lệ tinh thần thi
đấu ngoan cường cho đội mình yêu thích, phát huy tinh thần phối hợp đồng
đội, xây dựng niềm tin chiến thắng, dành chiến thắng sau cùng của trận đấu.
Do đó, thể dục cổ động có những nhiệm vụ cụ thể như sau:
3.1.1. Nâng cao đời sống văn hóa tinh thần
Là môn thể thao ra đời và phát triển trong xã hội hiện đại, thể dục cổ
động có vai trò vô cùng quan trọng trên phương diện làm phong phú hơn đời
sống tinh thần trong trường học và xã hội, đồng thời cũng góp thêm sắc màu
về loại hình và nội hàm cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể thao, mang
13
lại bản sắc riêng trên sân cho mỗi trận thi đấu. Thể dục cổ động là môn thể
thao mạnh mẽ, kịch tính dễ gây cảm động lòng người, dành được niềm yêu
thích và ủng hộ nhiệt tình từ nhiều phía trong xã hội.
3.1.2. Làm việc theo nhóm và tinh thần tập thể
Các màn biểu diễn của thể dục cổ động bất luận là thi đấu tranh tài hay
chỉ mang tính chất khuấy động phong trào đều được thực hiện bởi một nhóm
người. Do đó, thể dục cổ động là thực tế khắc họa miêu tả sinh động tinh thần
tập thể, yêu cầu sự phối hợp ăn ý tuyệt vời của các thành viên trong đội. Cũng
như các môn thi đấu tập thể khác, vận động viên bắt buộc phải cần sự phối hợp,
ủng hộ và khích lệ lẫn nhau, như vậy toàn đội mới có cơ hội dành chiến thắng.
Nếu chỉ nghĩ đến thể hiện của riêng cá nhân, không có ý thức khái niệm tinh
thần tập thể, nhất định sẽ ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu và sự tập trung của
toàn đội. Sự đồng nhất, đều đặn của các khẩu hình tay, khẩu hiệu, động
tác....trong thể dục cổ động thể hiện rõ nét tinh thần đồng đội và tinh thần tập
thể, trong đó mỗi một vận động viên thể dục cổ động có nhiệm vụ truyền tải
tinh thần đồng đội nêu trên ngay trong từng động tác mà mình thực hiện, tiếp
tục lan truyền sang những thành viên bên cạnh, sau đó phát triển lên thành tinh
thần của toàn đội.
3.1.3. Thể hiện văn hoá và tinh thần thi đấu
Thể dục cổ động là môn thể thao mạnh mẽ, nổi bật tinh thần tích cực,
lạc quan, dũng cảm kiên cường, cùng tinh thần độc lập, chủ động của mỗi cá
nhân. Tinh thần này nên được thể hiện trong tập luyện, thi đấu cũng như trong
cuộc sống hằng ngày của mỗi một vận động viên thể dục cổ động. Với tư cách
là thành viên của đội thể dục cổ động, chúng ta cần có trách nhiệm, nghĩa vụ
xây dựng và quảng bá tinh thần của bộ môn này, bộc lộ rõ nét thái độ sống
tích cực, nghị lực, tinh thần quyết chí tự cường, không chịu khuất phục. Khi
gặp bất kỳ khó khăn nào dù trong tập luyện, thi đấu hay trong cuộc sống cũng
nên có một tâm thái tốt, cộng với suy nghĩ tích cực để giải quyết vấn đề. Bồi
14
dưỡng các thành viên trong đội trở thành những thanh thiếu niên có chí, vượt
qua mọi khó khăn, xây dựng đội thể dục cổ động trở thành một tổ chức có kỷ
luật, có tinh thần chiến đấu tích cực.
3.1.4. Phát triển một cơ thể khỏe mạnh
Với vai trò là một môn thể thao mang tính tập thể cao, thể dục cổ động
có tác dụng tích cực trong bồi dưỡng sức khỏe và tinh thần cho học sinh. Thể
dục cổ động có sự phối hợp chặt chẽ giữa âm nhạc, vũ đạo cùng nhân tố kỹ
xảo điêu luyện, vận động viên phải hoàn thành nhiều động tác có độ khó cao
trên nền nhạc sôi động, điều này đòi hỏi trong quá trình tập luyện hằng ngày
các em phải tự trang bị cho mình một nền tảng tố chất thể lực tốt, cảm thụ âm
nhạc tốt, nắm vững thành thạo mọi kỹ xảo nâng, tung, hứng và cả các động
tác vũ đạo phức tạp. Để hoàn thành xuất sắc động tác kỹ thuật nêu trên, yêu
cầu vận động viên khi tham gia tập luyện phải tăng cường huấn luyện đối với
các tố chất thể lực như tốc độ, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, linh hoạt ...,
đồng thời thông qua huấn luyện hình thể, xây dựng được một thể thái đoan
chính, thông qua huấn luyện vũ đạo, bồi dưỡng được nhiều tố chất vũ đạo với
phong cách khác nhau, không ngừng hoàn thiện và nâng cao trên mọi phương
diện về tố chất cho toàn đội, góp phần xây dựng nên một thể trạng, một tinh
thần khỏe khoắn, lành mạnh.
3.1.5. Giáo dục đạo đức, ý chí
Phẩm chất ý chí ý chỉ tính mục tiêu, tính tự giác, tính tự tin, tính kiên
trì, khả năng khống chế, kiên cường dũng cảm cùng tinh thần độc lập, chủ
động của mỗi cá nhân. Phẩm chất ý chí vừa có thể biểu hiện thông qua quá
trình khắc phục khó khăn, lại vừa có thể từ quá trình khắc phục khó khăn bồi
dưỡng mà thành. Thành viên của đội thể dục cổ động thường gặp khó khăn
khi tham gia tập luyện, phải trải qua nhiều cuộc thử thách liên tiếp với chính
bản thân mình, do đó cần có một tín niệm kiên định cùng lòng tin vững chắc
vào thành công để khắc phục mọi mệt nhọc và khó khăn do tập luyện mang
15
đến, rèn luyện nên phẩm chất ý chí tốt. Đặc trưng của môn thể dục cổ động đó
là khắc phục khó khăn và chướng ngại nhất định, do đó nó là điểm mốc quan
trọng trên con đường bồi dưỡng phẩm chất ý chí con người.
3.1.6. Hoàn thiện và làm phong phú giá trị văn hóa
Thể dục cổ động đại diện cho tinh thần tích cực, vượt qua mọi khó
khăn, phấn đấu quyết thắng, thể hiện nổi trội hàm ý sâu sắc cùng nội hàm văn
hóa vốn có của bộ môn thể thao này. Trong xã hội hiện đại ngày nay, chúng ta
không chỉ cần đề cao cá tính và sức sáng tạo cá nhân, mà còn cần nhấn mạnh
tinh thần phối hợp của mỗi thành viên trong nhóm cũng như dũng khí, quyết
tâm khắc phục khó khăn của cả tập thể. Một tập thể muốn lớn mạnh, yêu cầu
tinh thần của mỗi thành viên trong đội phải được trau dồi và nâng cao hơn.
Thể dục cổ động truyền bá đến cá nhân, đoàn thể và xã hội thông điệp của sức
khỏe, của thái độ văn hóa tích cực, nhằm thúc đẩy, khích lệ con người phấn
đấu. Tất cả những cá nhân hay đoàn thể tham gia thể dục cổ động đều bị cảm
hóa bởi tinh thần văn hóa vốn có trên, thông qua quá trình học tập và sinh
hoạt, thể hiện bằng những hành động giúp đỡ, ủng hộ lẫn nhau, tinh thần đẹp
này lan toả đến mỗi một người xung quanh chúng ta, từ đó góp phần nâng vấn
đề tu dưỡng văn hóa của xã hội lên tầm cao mới.
3.1.7. Nâng cao kỹ năng vận động
Thể dục cổ động yêu cầu vận động viên thể hiện tinh thần đồng đội
của sức sống và sức khỏe tuổi trẻ, thông qua hàng loạt những động tác kỹ xảo
riêng biệt, kết hợp với động tác vũ đạo được hoàn thành trong thời gian ngắn.
Do đó, vận động viên thể dục cổ động khi thực hiện bất kỳ một động tác nào,
trước hết phải cần nắm rõ những kỹ năng vận động tương ứng. Ví dụ như thể
dục cổ động kỹ xảo, trong quá trình hoàn thành động tác, cần phải xen kẽ các
kỹ thuật nhào lộn, nâng người, tung - hứng... cùng kỹ xảo khác, điều này đòi
hỏi vận động viên phải trải qua vô số lần luyện tập để không ngừng nâng cao
tố chất sức mạnh, linh hoạt, tốc độ, từ đó nắm vững được ưu, yếu điểm của
16
loại kỹ năng vận động này, chỉ có như vậy mới có thể hoàn thành động tác
một cách hoàn mĩ, khẳng định thêm lần nữa tinh thần và lòng tin vượt qua thử
thách chính mình.
3.1.8. Tạo sự phấn khích cho khán giả
Sự ra đời của thể dục cổ động hiện đại có mối quan hệ trực tiếp với
mức độ phấn khích của khán giả. Năm 1898, sinh viên Johnny Campbell của
Đại Học Princeton trong một trận thi đấu bóng bầu dục vì quá phấn khích, đã
nhảy ra khỏi đám đông hướng dẫn mọi người cùng hò reo trợ uy cho trận đấu,
lần reo hò đó đánh dấu cột mốc ra đời của môn thể dục cổ động ngày nay.
Nhiệm vụ của đội thể dục cổ động đó là liên kết chặt chẽ hoạt động cổ vũ với
các trận thi đấu, thông qua màn biểu diễn đặc sắc, tô điểm thêm cho không
khí của trận đấu, thôi thúc khán giả cùng tham gia cổ vũ, ủng hộ và khích lệ
tinh thần cho đội mình yêu thích, góp phần tăng thêm hưng phấn cho các vận
động viên tham gia thi đấu, hướng về niềm tin quyết đấu để dành thắng lợi
3.2. Tầm quan trọng của thể dục cổ động
3.2.1. Phong phú đời sống văn hóa trong trường học
Sự ra đời của thể dục cổ động, cộng thêm sự phát triển và thành lập của
bộ môn này trong nhà trường góp phần làm phong phú hơn hoạt động văn hóa
trong trường học. Thông qua tuyên truyền bằng các hình thức phương tiện
thông tin đại chúng, đông đảo thầy và trò đều biết đến thể dục cổ động là môn
thể thao lành manh, tích cực, đồng thời còn chứa đựng tinh thần phối hợp đồng
đội ăn ý. Môn thể dục cổ động trong nhà trường ra đời, một mặt có thể xây dựng
hình tượng tràn đầy sức sống, kéo theo tinh thần tích cực, học tập và sinh hoạt
đầy nhiệt huyết cho sinh viên trong trường, mặt khác thành viên của đội thể dục
cổ động trong quá trình tập luyện gian khổ sẽ tự hình thành và bồi dưỡng cho
mình tinh thần phối hợp đồng đội, ý chí không sợ khó, không nề hà mệt nhọc,
vượt lên chính mình, đại diện cho lý tưởng hào hùng, chinh phục thử thách của
17
giới trẻ ngày nay. Vì vậy, môn thể dục cổ động ra đời mang lại giá trị vô cùng
tích cực đối với đời sống văn hóa và tinh thần cho các em học sinh.
3.2.2. Phát huy tinh thần tập thể và đoàn kết
Cũng giống như tất cả những môn thể thao mang tính tập thể khác, thể
dục cổ động cần sự phối hợp nhất trí của toàn đội mới có thể hoàn thành xuất
sắc được màn biều diễn, lỗi sai sót dù rất nhỏ của bất kỳ một thành viên nào
cũng đều có thể dẫn đến sự thất bại của toàn đội. Để dành được phần thắng,
các vận động viên cần phải hoàn thành động tác một cách đều đặn, khẩu hiệu
rõ ràng biểu ngữ bắt mắt, đó cũng chính là sự thể hiện rõ nét của tinh thần
đoàn kết, sức mạnh, niềm tin quyết chiến. Trong khi đó, kiểu tình cảm này có
thể được biểu đạt từ trong ra ngoài, được tích lũy dần dần từ ngay trong quá
trình tập luyện cũng như sinh hoạt hằng ngày mà nên. Cho nên, đối với môn
thể dục cổ động, phát huy quan niệm tinh thần tập thể cùng tinh thần phối hợp
đoàn kết trở nên vô cùng quan trọng. Mỗi một thành viên trong đội cần lấy lợi
ích tập thể làm trọng, xem vinh dự tập thể như vinh dự của chính bản thân
mình, xây dựng quan niệm “vinh dự tập thể cao hơn tất cả”.
3.2.3. Cổ vũ tinh thần tích cực trong thi đấu
Tự hoàn thiện, tự cường, đấu tranh vượt qua mọi khó khăn là một
trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Tích cực, phấn đấu,
có chí tiến thủ là phẩm chất tốt cần phát huy của cá nhân cũng như một tập
thể. Thể dục cổ động một mặt có thể bồi dưỡng những tinh thần ưu việt kể
trên cho các thành viên trong đội, mặt khác tinh thần tích cực này cũng có thể
lan toả cho những thành viên khác, khích lệ họ không nản chí trước khó khăn,
dũng cảm tiến lên phía trước. Do đó, nhân rộng môn thể dục cổ động một
cách có tổ chức, sẽ truyền bá được tinh thần vượt qua mọi khó khăn đến từng
cá nhân, hình thành vai trò thúc đẩy quan trọng đối với công cuộc đào tạo và
bồi dưỡng tinh thần dũng cảm chiến đấu, tích cực vươn lên cho thế hệ trẻ.
18
4. Văn hóa tạo thành nền tảng phong trào thể dục cổ động
4.1. Khái niệm và vai trò của văn hóa trong thể dục cổ động
Hiện tượng văn hoá thể chất (VHTC) đã có từ lâu đời nó xuất hiện
cùng với sự xuất hiện xã hội loài người nhưng trên thế giới thuật ngữ VHTC
mới chỉ được sử dụng từ cuối thế kỷ 19. Để hiểu sâu sắc về VHTC thì ta phải
hiểu được khái niệm văn hoá.
Văn hoá trong đời sống xã hội hàng ngày: Trong ngôn ngữ của các dân
tộc trên thế giới từ cultura (văn hoá) có nhiều nghĩa khác nhau. Trong đời
sống xã hội thông thường được chỉ những hoạt động tinh thần của con người
và xã hội. Trong đời sống hàng ngày văn hoá dùng để chỉ trình độ học vấn,
chỉ hành vi cử chỉ, cách ứng xử văn minh...
Cùng với sự phát triển ngày càng hoàn thiện của con người khái niệm
văn hoá cũng được thay đổi và phát triển. Trong các tài liệu được tra cứu văn
hoá được xác định là những hoạt động sáng tạo mà trong đó con người sử
dụng những di sản văn hoá do nhân loại để lại và tạo ra những di sản văn hoá
mới. (Văn hoá: bao gồm các hoạt động sáng tạo của con người để chinh phục
tự nhiện, cải tạo tự nhiên, những phương pháp hoạt động và kết quả hoạt động
đem lại cho cá nhân và xã hội).
Theo quan điểm triết học: Văn hoá là tổng hoà giá trị vật chất và tinh
thần cũng như các phương thức sáng tạo ra chúng, văn hoá còn chỉ sự truyền
thụ lại những di sản văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong triết học
người ta chia văn hoá thành 2 lĩnh vực cơ bản. Văn hoá vật chất và Văn hoá
tinh thần.
Văn hoá vật chất : Là toàn bộ những giá trị sáng tạo của con người
được thể hiện trong của cải vật chất do xã hội tạo ra kể cả các tư liệu sản xuất
đến các tư liệu tiêu dùng của xã hội.
Văn hoá tinh thần : Là toàn bộ những giá trị của đời sống tinh thần bao
gồm khoa học và mức độ áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất và
19
sinh hoạt, trình độ học vấn, tình trạng ý tế, giáo dục, nghệ thuật, chuẩn mực
đạo đức trong các hành vi của các thành viên trong xã hội - trình độ phát triển
nhu cầu của con người... văn hoá tinh thần còn được trầm tích trong các vật
thể ( các tác phẩm nghệ thuật).
Ranh giới giữa văn hoá vật chất và tinh thần chỉ có ý nghĩa tương đối.
Văn hoá có tính khách quan được hiểu theo nghĩa rộng
Theo nghĩa rộng: Văn hoá là tổng hoà những giá trị vật chất và tinh
thần của con người. Văn hoá là một biểu hiện xã hội không chỉ bao quát quá
khứ, hiện tại mà còn trải rộng trong tương lai. Văn hoá đó là một thuộc tính
bản chất tộc loài của con người với chức năng: Giáo dục, nhận thức, định
hướng, đánh giá, xác định chuẩn mực của hành vi điều chỉnh các quan hệ
ứng xử giao tiếp. Song cốt lõi là đem lại chủ nghĩa nhân đạo, tinh thần đạo
đức.
Chủ Nghĩa Mác giải thích: Văn hoá có nguốn gốc từ lao động - hình
thức khởi đầu do lao động là phương thức của lao động là kết quả của lao
động.
Đặc điểm của văn hoá: Khi phân tích hiện tượng văn hoá còn nói tới sự
phát triển của văn hoá mang tính chất kế thừa. Trong bất cứ giai đoạn phát
triển nào của văn hoá đều có sự kế thừa văn hoá đã đạt được trong giai đoạn
trước.
Văn hoá không những có tính kế thừa mà nó còn có tính giai cấp. Trong
xã hội có giai cấp văn hoá tinh thần mang tính giai cấp, nó phụ thuộc vào lợi
ích của giai cấp nhất định, tính giai cấp đó biểu hiện ở chỗ văn hoá do ai sáng
tạo ra phản ánh và phục vụ cho giai cấp nào, những cơ sở vật chất do ai làm
chủ, tính văn hoá của giai cấp còn thể hiện ở chức năng văn hoá giáo dục, xây
dựng con người theo một tư tưởng trình tự xã hội, đạo đức, thẩm mỹ theo một
giai cấp nhất định. Văn hoá Chủ nghĩa xã hội là văn hoá của giai cấp vô sản
và nhân dân lao động có nội dung XHCN. Văn hoá còn mang tính dân tộc
20
được thể hiện trong lối sống, nếp nghĩ, tập tục, truyền thống và văn hoá nói
chung của từng dân tộc (tinh thần thượng võ trong nền TDTT nước ta) tính
dân tộc gắn liền với tính hiện đại, tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc. Toàn
bộ hoạt động của văn hoá là phục vụ con người là mục tiêu cao nhất. Như vậy
xét cho cùng xưa nay các đặc điểm của văn hoá như tính lịch sử, tính giai cấp
( trong xã hội có giai cấp ) tính dân tộc luôn gắn với nhau.
Để làm sáng tỏ khái niệm văn hoá, người ta so sánh nó với khái niệm tự
nhiên. Tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại ngoài ý thức của con
người, không là kết quả của con người nó tồn tại theo quy luật của nó. Còn
văn hoá là phương thức là kết quả của hoạt động cải tạo thế giới tự nhiên và
xã hội loài người bắt tự nhiên phải thoả mãn những nhu cầu của con người.
Trong quá trình tác động vào thế giới tự nhiên con người đã nhận thức
được mối quan hệ nhân quả đó là sự chuẩn bị trước cho lao động, sẽ mang lại
hiệu quả cao, và con người không chỉ chuẩn bị về kỹ thuật, thao tác lao
động mà còn chuẩn bị về cả mặt thể lực.
Trong quá trình tác động thế giới tự nhiên của con người đã nảy sinh
một hoạt động đặc biệt không tác động vào thế giới tự nhiên mà tác động vào
chính phần tự nhiên của con người nhằm cải tạo ngay phần tự nhiên trong con
người hoạt động đó được gọi là văn hoá thể chất hay còn gọi là TDTT. (con
người gồm 2 phần: Thực thể tự nhiên và thực thể xã hội) Hoạt động đó được
gọi là bài tập thể chất
Văn hoá thể chất là một nhân tố xã hội, tác động điều khiển sự phát
triển thể chất. Văn hoá thể chất là một hoạt động đặc biệt. Cho nên khi phân
tích TDTT như một hoạt động xuất phát từ 3 luận điểm.
Thể dục thể thao là một hoạt động. Thể dục thể thao là tổng hoà những
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Thể dục thể thao là kết
quả của hoạt động.
21
Thể dục thể thao là một hoạt động: Đối tượng của hoạt động TDTT là
con người, là sự phát triển thể chất. Song văn hoá thể chất là một hoạt động
có cơ sở đặc thù là sự vận động tích cực hợp lý của con người. Nói cách khác
để văn hoá thể chất là những hình thức hoạt động vận động hợp lý ( hoạt động
có dầu hiệu bản chất là những tác động được tổ chức thành một hệ thống )
VHTC không phải là toàn bộ những hình thức hoạt động, mà chỉ bao gồm
những hình thức. về nguyên tắc cho phép hình thành tốt nhất những kỹ năng
kỹ xảo (KNKX) vận động cần thiết cho cuộc sống và sự phát triển các năng
lực thể chất quan trọng tối ưu trạng thái sức khoẻ và khả năng làm việc.
Thành phần cơ bản của VHTC khi xem xét như một hoạt động đó là bài tập
thể chất. Những công trình nghiên cứu sử học đã khẳng định rằng BTTC có
nguồn gốc từ thời cổ xưa bắt nguồn từ hoạt động lao động chúng đem theo
đặc điểm của lao động chân tay và mang tính thực dụng trực tiếp trong những
ngày đầu (động tác đi, chạy, nhảy, leo trèo...) trong quá trình phát triển tiếp
theo đó VHTC ngày càng có thêm các hình thức vận động mới được "thiết
kế" để đáp ứng nhu cầu giải quyết các nhiệm vụ văn hoá, giáo dục, giáo
dưỡng củng cố sức khoẻ và bài tập thể chất (BTTC) đã mất dần tính thực
dụng trực tiếp nhưng không có nghĩa là mối quan hệ VHTC và lao động bị
xoá bỏ. Theo quan điểm thực dụng thì văn hoá thể chất là một hoạt động sẽ
tồn tại mãi mãi. Vì lao động không bao giờ bị mất đi và VHTC mãi là phương
tiện chuẩn bị trước cho lao động. Với quan điểm này thì VHTC là một hoạt
động chuẩn bị kết quả của hoạt động này là trình độ chuẩn bị thể lực. Nó là cơ
sở cho việc tiếp thu một cách có hiệu quả các thao tác lao động, lao động có
năng suất cao, hoàn thiện KNKX vận động, phát triển thể chất và khả năng
làm việc cao. Ngoài lao động BTTC còn được nảy sinh từ các lễ hội, tôn giáo
( dùng các động tác có tính chất tượng trưng để biểu thị tình cảm, nỗi vui
buồn, sự sùng bái thần linh ) và yếu tố quân sự, các trò vui chơi giải trí và các
bài tập rền luyện thân thể để phòng chữa một số bài tập.
22
Thể dục thể thao là tổng hoà những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra trong xã hội để đảm bảo hiệu quả cần thiết của hoạt động
này.
Trong mỗi thời kỳ phát triển của VHTC những giá trị vật chất và tinh
thần trở thành đối tượng của hoạt động , tiếp thu sử dụng những người tham
gia hoạt động TDTT (ở đây muốn đề cập đến những phương tiện, phương
pháp tập luyện được sử rộng rãi như thể dục, thể thao, trò chơi vận động và
các BTTC khác. Trên con đường phát triển lâu dài của mình nội dung và hình
thức của VHTC dần dần được phân hoá thành các lĩnh vực khác nhau trong
đời sống xã hội vì vậy đã hình thành nên những bộ phận văn hoá thể chất có ý
nghĩa xã hội (TDTT trường học, TDTT sản xuất, đời sống, phục hồi chữa
bệnh). Hiệu lực của những bộ phận văn hoá thể chất này như tổng hợp những
phương pháp, phương tiện, các nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng, tăng cường
sức khoẻ, đồng thời ý nghĩa của từng bộ phận VHTC cũng tăng lên tương
ứng. Ngoài những giá trị kể trên còn có những giá trị quan trong khác như
kiến thức khoa học, thực dụng chuyên môn, những nguyên tắc quy tắc và
phương pháp sử dụng BTTC , những tiêu chuẩn đạo đức điều chỉnh hành vi
và thái độ của con người trong quá trình hoạt động TDTT (tuyên truyền, về
thể thao và văn hoá, các tác phẩm nghệ thuật về TDTT và các công trình thể
thao, trang thiết bị tập luyện ...)
VHTC là kết quả của hoạt động: Đó chính là những kết quả sử dụng
những giá trị vật chất và tinh thần. Trong số những kết quả này phải kể đến
trước tiên đó là trình độ chuẩn bị thể lực, mức độ hoàn thiện KNKX vận
động, thành tích thể thao và những kết quả hữu hiệu khác đối với xã hội và cá
nhân. Kết quả hiện thực bản chất nhất là số người đạt tiêu chuẩn hoàn thiện
thể chất. Hoàn thiện thể chất là mức độ hợp của trình độ chuẩn bị thể lực
chung và phát triển cân đối mức độ này phù hợp với yêu cầu của lao động và
những hoạt động khác.
23
Ngoài ra để đánh giá và khẳng định những kết quả đạt được trong hoạt
động thông qua các chỉ tiêu trên con người đã tiến hành các hoạt động thi đấu
để đánh giá trình độ uy tín của con người lúc bấy giờ.
Như vậy văn hoá thể chất chỉ tồn tại dưới hình thức hoạt động không
chỉ là những gì tồn tại bên ngoài mà còn cả sản phẩm bên trong con người thể
hiện ở KNKX và thể lực. Tất cả những vấn đề trên được khái quát trong định
nghĩa sau :
VHTC theo nghĩa hẹp: VHTC là một bộ phận hữu cơ của nền văn hoá
xã hội, nội dung đặc thù của VHTC là sử dụng hợp lý các hoạt động vận động
như một nhân tố tích cực để chuẩn bị thể lực cho cuộc sống, hợp lý hoá trạng
thái thể chất và phát triển thể chất.
VHTC theo nghĩa rộng: Là toàn bộ những thành tựu của xã hội trong sự
nghiệp sáng tạo ra những phương tiện, phương pháp và điều kiện nhằm phát
triển khả năng thích nghi thể lực cho thế hệ trẻ và người trưởng thành.
Do đó, kết cấu văn hóa của môn thể dục cổ động cũng tuân thủ theo sự
phân chia nêu trên. Trong toàn bộ hệ thống văn hóa môn thể dục cổ động, văn
hóa vật chất giữ vị trí nền tảng, văn hóa tinh thần có chức năng phương
hướng, dẫn đường. Sự dung hòa của cơ chế chức năng cùng kết cấu nội hàm
đối với hệ thống văn hóa môn thể dục cổ động sẽ thúc đẩy bộ môn này không
ngừng phát triển.
4.2. Ý nghĩa văn hóa trong tập luyện thể dục cổ động
4.2.1. Tinh thần tập thể trong tập luyện
“ Tập thể ” ý chỉ nhóm người chung một mục tiêu, một tiêu chuẩn cùng
phấn đấu trong tinh thần đoàn kết nhất trí, tương trợ lẫn nhau. “ Tinh thần ” tức
là chủ ý, ý thức. Tinh thần tập thể nói ngắn gọn tức là biểu hiện chung của ý
thức đại cục, tinh thần hợp tác và tinh thần phục vụ. Cơ sở của tinh thần tập thể
đó là tôn trọng sở thích và thành tựu cá nhân, yếu tố then chốt đó là hợp tác hiệp
đồng, mức độ cao nhất đó là sự nhất trí, đồng lòng của toàn bộ các thành viên.
24
Kỹ năng trong thể dục cổ động yêu cầu sự điêu luyện về kỹ thuật, tích lũy kinh
nghiệm dày dặn đạt đến độ phối hợp và thực hiện động tác ăn ý giữa các vận
động viên với nhau. Các tổ hợp động tác nâng người, tung- hứng, lên tháp trong
thể dục cổ động phải thông qua phối hợp, khích lệ giữa thành viên mới có thể
phát huy tốt sức mạnh của toàn đội, nổi bật tinh thần hợp tác, thể hiện tinh thần
đồng đội.
Quá trình phát triển và thành thục của một tập thể phải dựa trên tinh
thần hợp tác đồng đội, môn thể dục cổ động càng không ngoại lệ. Bởi vì vốn dĩ
phải cần đến sự tổ hợp của từ 6 - 30 vận động viên mới xây dựng nên được một
đội thể dục cổ động, hơn nữa thành công của màn biểu diễn nhất định phải dựa
trên sự phối hợp ăn ý của từng thành viên, chỉ như vậy, mới tạo nên một đội thể
dục cổ động thành thục, khỏe mạnh và đoàn kết. Tinh thần hợp tác tập thể của
thể dục cổ động không chỉ thể hiện khi biểu diễn với thi đấu, mà nó còn xuyên
suốt cả ngay trong tập luyện lẫn sinh hoạt thường ngày. Mỗi một thành viên đều
tự xây dựng cho mình quan niệm chủ nghĩa tập thể và ý thức hợp tác đoàn thể,
trong tập luyện cùng tôn trọng, cùng giúp đỡ lẫn nhau. Đồng thời, giữa huấn
luyện viên và vận động viên thể dục cổ động cũng cần có sự giao lưu, trao đổi,
xây dựng một mục tiêu chung cho toàn đội, nỗ lực phấn đấu vì mục tiêu chung
đó.
4.2.2. Tạo tinh thần cổ vũ và thi đấu trong thể thao
Đề cao tinh thần tập thể không có nghĩa là xem nhẹ cá tính. Không còn
nghi ngờ, thể dục cổ động cần ngôi sao, cũng cần cá tính. Chúng ta cần biểu
dương cá tính, khích lệ trí tưởng tượng và sự sáng tạo trong biên đạo của các
thành viên. Song, thể dục cổ động tuyệt đối không dung nạp những anh hùng
với chủ nghĩa cá nhân cực đoan, cho dù là thiên tài, cũng phải học cách phục
tùng, thân thiện và phối hợp. Với đặc điểm là môn thể thao tập thể, so với
những môn thể thao cá nhân khác, thì yêu cầu giữa các thành viên trong đội thể
dục cổ động về sự tin tưởng và đồng nhất tinh thần phải cao hơn, phối hợp về kỹ
25
thuật phải ăn ý hơn. Tinh thần đồng đội phản ánh được lợi ích cá nhân cùng
thống nhất về lợi ích tập thể, từ đó bảo đảm được “ di chuyển ” mang tính hiệu
quả cao của tập thể. Tinh thần tập thể không đòi hỏi cá nhân phải hi sinh lợi ích
của mình, ngược lại phát huy cá tính cùng ưu điểm chính là động lực giúp các
thành viên cùng hoàn thành một mục tiêu chung, trong khi đó nắm rõ ý đồ hợp
tác cùng phương thức hợp tác lại sản sinh được động lực nội tâm chính thức.
Khi biên đạo đội hình của thể dục cổ động, nếu bạn muốn nổi bật một
vài thành viên chính, thì hình thức biên soạn kiểu mũi tên đầu to là rất hợp lý,
bởi vì hiệu quả dựng hình của phương pháp này sẽ khiến người xem tập trung
chú ý vào những vận động viên hàng đầu nhiều hơn.
Trong khẩu hiệu tuyên truyền môn thể dục cổ động có đề cập đến: tinh
thần đồng đội, ủng hộ giúp đỡ lẫn nhau là cội nguồn của thành công, quyết tâm
vượt qua những khó khăn là tư tưởng vĩnh viễn không thay đổi.
4.2.3. Thể tinh thần tích cực khỏe mạnh và sôi nổi
Sôi nổi, khỏe mạnh là ấn tượng tổng thể mà thể dục cổ động mang đến
cho khán giả. Mỗi một thành viên đội thể dục cổ động đều mang trong mình
ngọn lửa đam mê. Bất luận là hình tượng bên ngoài hay trong quá trình biểu
diễn, các vận động viên đều bộc lộ ra vẻ đẹp tuổi trẻ cùng sức sống mãnh liệt.
Tinh thần sôi nổi, trẻ, khỏe mạnh này thể hiện từ trong ra ngoài, phát ra từ chính
trong những trái tim nhiệt huyết. Khi thi đấu, thành viên trong đội thể dục cổ
động chú ý chăm sóc đến từng chi tiết, từ phục trang, trang điểm đến vẻ đẹp
hình thức. Trong cuộc sống, các thành viên cũng nổi bật được phong thái thời
trang cùng vẻ đẹp khỏe khoắn. Thể dục cổ động đại diện cho vui, khỏe của tuổi
trẻ, tinh thần tiến thủ tích cực, mang đến sức thanh xuân cho thế hệ mới.
26
Chương 2
CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA THỂ DỤC CỔ ĐỘNG
1. Thành lập các đội thể dục cổ động
Khi chúng ta xem những màn cổ vũ đặc sắc, khích lệ cho đội được ủng
hộ trên sân khi chúng ta thấy được tinh thần hợp tác, đoàn kết đồng lòng, hoàn
thành những động tác vũ đạo và kỹ thuật của các thành viên thể dục cổ động lúc
tham gia thi đấu; khi chúng ta bị rung động bởi khẩu hiệu vang dội của những
thành viên trong đội; hay khi chúng ta bị cảm hóa bởi bài biểu diễn cùng tinh
thần quyết thắng của vận động viên, ai ai cũng đều hi vọng sẽ có một đội thể
dục cổ động của riêng cá nhân, cổ vũ tinh thần cho chính đội của mình mỗi lần
tham gia thi đấu.
Song, thành lập và tổ chức đội thể dục cổ động không hề đơn giản như
chúng ta tưởng tượng, nó là một qui trình hệ thống vô cùng phức tạp. Thành lập
một đội thể dục cổ động đòi hỏi phải tiến hành hàng loạt công việc chuẩn bị cực
kỳ vất vả, nhưng với tư cách là một phần tử của tổ chức, những thành công,
kinh nhiệm mà tổ chức mang lại sẽ khiến bạn cảm thấy dù vất vả đến đâu cũng
vẫn rất xứng đáng
1.1. Thành lập đội và tổ chức quản lý
Trước khi thành lập đội thể dục cổ động, bạn cần khảo sát và xem xét
rất nhiều vấn đề mang tính thực tế. Muốn thành lập cơ cấu quản lý tổ chức
một đội thể dục cổ động, cần bố trí phù hợp các vị trí lãnh đạo chính, hỗ trợ
lãnh đạo, bí thư, nhân viên tài vụ. Trong đó, lãnh đạo chính có nhiệm vụ đề
xuất phương hướng mang tầm vĩ mô đối với sự phát triển, quá trình tổ chức
cũng như thành lập của đội thể dục cổ động. Hỗ trợ lãnh đạo phụ trách xử lý
các mối quan hệ bên ngoài trong suốt quá trình thành lập và tổ chức đội, đồng
thời chấp hành thực thi mọi đối sách, phương án mà lãnh đạo chính đưa ra. Bí
thư đảm nhận trọng trách xử lý các công việc nội bộ liên quan đến chế độ.
27
Nhân viên tài chính làm nhiệm vụ xem xét các nguồn kinh phí, ghi chép tình
hình thu, chi của đội.
1.2. Lựa chọn tên, màu sắc đặc trưng
Sau khi thành lập đội thể dục cổ động, chúng ta có thể thông qua thảo
luận tập thể xác định tên gọi cho đội. Lưu ý, tên gọi có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đội với hình tượng bên ngoài của toàn đội. Tên gọi yêu cầu thể hiện rõ
nét đặc điểm biểu diễn cùng diện mạo tinh thần của đội, phải đạt được hiệu
quả “ nghe đến tên như nhìn thấy đội”. Trong quá trình đặt tên cho đội cũng
cần chú ý đến bối cảnh văn hóa của trường cũng như nội hàm văn hóa mà đội
cần biểu đạt, cố gắng dung hòa kết hợp ý nghĩa văn hóa của cả hai nhân tố
trên, từ đó đạt được hiệu quả như mong đợi.
Khi đã đặt được tên, công tác tiếp theo là lựa chọn màu sắc đại diện
cho đội. Màu đại diện phải bao hàm phong cách biểu diễn và quan điểm động
tác chủ đạo của toàn đội. Ví dụ: Màu đỏ có đặc điểm thị giác cực kỳ bắt mắt,
quyết liệt, vì vậy nếu đội nào lựa chọn màu đỏ làm tông chủ đạo, thì chắc
chắn họ sẽ muốn truyền tải đến cho người xem thông điệp của lòng nhiệt
huyết, phấn khích, sự tươi trẻ, đầy sức sống. Nếu lựa chọn sắc xanh làm màu
đại diện, đội đó muốn đưa hình ảnh trong sáng, nền nã, thanh nhã, cởi mở đến
với khán giả. Nếu chọn màu cam làm tông đặc trưng, ý nghĩa muốn truyền đạt
của đội đó là sự rộn rã, niềm hy vọng cùng cảm giác bội thu, màu sắc càng
nổi trội, ấn tượng càng đậm nét. Những màu khác nhau mang lại hàm ý khác
nhau, bao quát sắc màu tình cảm cũng không giống nhau, tương tự khi chọn
lựa màu sắc đặc trưng cho đội, cũng cần suy xét ý đồ của chúng ta muốn để
lại ấn tượng như thế nào trong lòng khán giả, ấn tượng này cần phải đồng nhất
với cảm giác tổng thể của toàn đội
1.3. Định hướng khả năng phát triển
Sau khi lựa chọn màu sắc cho đội, cần xác định tiền đồ và phương
hướng phát triển của đội, tức là muốn trở thành đội thi đấu chuyên nghiệp hay
28
chỉ muốn là đội nghiệp dư thông thường, từ đó đưa ra tiêu chuẩn đối với độ
tuổi, số người và giới tính. Khi đã hoạch định xong tiêu chí của đội mà chúng
ta muốn xây dựng, bước tiếp theo đó là tuyển chọn huấn luyện viên cùng vận
động viên. Thông qua phương tiện truyền thông hiện đại, đưa thông tin tuyển
chọn đến với đông đảo quần chúng. Trước khi bước vào giai đoạn tuyển chọn
chính thức, có thể mở một lớp bồi dưỡng qui mô nhỏ, với mục đích giúp mọi
người có nhận thức khái quát về hướng phát triển và tình hình sơ bộ của đội
thể dục cổ động sẽ thành lập. Sau đó, xác định thời gian tuyển chọn chính
thức, mời chuyên gia cùng ngành cùng tham gia thực hiện. Cuối cùng, tổ chức
giải thi đấu tuyển chọn vận động viên thể dục cổ động, lựa chọn thành viên và
huấn luyện viên cho đội. Khi tuyển chọn kết thúc, tiến hành các thủ tục liên
quan cần có cho vận động viên như kiểm tra sức khỏe, kí kết hợp đồng, bảo
hiểm... Ngoài ra, quản lý của đội phải chịu trách nhiệm liên hệ sân tập cũng
như bảo đảm các vấn đề an toàn về sân bãi.
2. Công tác tổ chức và tập luyện thể dục cổ động
Sau khi thành lập đội, công tác quản lý tương ứng cũng vô cùng quan
trọng. Công tác giáo dục quản lý là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên và căn
bản của đội thể thao. Quản lý tạo nên thành tích, tạo nhân tài trở thành quan
điểm chung của nhiều người làm công tác lãnh đạo. Công tác quản lý đội thể
dục cổ động chủ yếu bao gồm quản lý đối với huấn luyện viên và vận động
viên, xác định mục tiêu của đội, từ đó căn cứ vào mục tiêu thiết lập kế hoạch
ngắn kỳ hoặc dài kỳ cho đội....
2.1. Xây dựng quy chế
Xây dựng và hoàn thiện các chế độ qui chế, qui định cho đội, ví dụ:
“điều lệ quản lý thành viên đội thể dục cổ động”, “qui tắc chung đối với thành
viên đội thể dục cổ động”, “qui tắc chung đối với đội trưởng đội thể dục cổ
động”, “điều lệ quản lý huấn luyện viên đội thể dục cổ động”, ... Nghiêm
29
chỉnh chấp hành các chế độ, qui đinh đã đặt ra, xử phạt nghiêm khắc đối với
mọi trường hợp vi phạm
2.2. Xác định mục tiêu
Mỗi một đội tuyển đều cần xác định rõ ràng mục tiêu phấn đấu, đồng
thời phải có yêu cầu cụ thể đối với mỗi thành viên trong đội. Mục tiêu xây
dựng cho đội vừa phải phù hợp với tình hình thực tế, lại vừa phù hợp với đặc
điểm cá thể của từng thành viên. Nếu mục tiêu xác định mơ hồ lại không rõ
ràng, không phù hợp với tình hình thực tế, thì các thành viên sẽ rất khó gặt hái
được thành tích, nhiều cá thể sẽ xuất hiện trạng thái tâm lý khác nhau. Nếu
mục tiêu của đội đạt được theo kế hoạch đã định, thì tự khắc tính tự tin của
các thành viên sẽ nâng cao hơn, sẽ cùng nỗ lực phấn đấu vì một mục tiêu
chung, phát huy hiệu quả một cách tối đa. Như vậy, dễ dàng nhận thấy xây
dựng mục tiêu đúng đắn cực kỳ quan trọng, trách nhiệm của lãnh đạo cũng
như huấn luyện viên là căn cứ vào nhiệm vụ cùng tình hình thực tế của đội,
xác định mục tiêu, dài, trung và ngắn kỳ cho vận động viên, đồng thời khích
lệ vận động viên nỗ lực phấn đấu để cùng hoàn thành mục tiêu đã định.
2.3. Giáo dục tư tưởng
Làm tốt công tác tư tưởng cho vận động viên mang lại hiệu quả nhất
định đối với nâng cao thành tích thi đấu và thành tích thể thao. Ví dụ, tổ chức
toàn đội tham gia tích cực những hoạt động giao lưu, giải thi đấu giao hữu,
tăng tình hữu nghị giữa các thành viên trong đội, tăng cảm giác vinh dự khi
toàn đội gặt hái thành công.
2.4. Giải quyết các vấn đề thực tế
Muốn làm tốt công tác giáo dục quản lý của đội, nhất định cần tập
trung giải quyết các vấn đề thực tế như: kịp thời cải tiến và mua mới trang
thiết bị sân bãi, cải thiện điều kiện tập luyện, chuẩn bị đầy đủ nhằm nâng cao
thành tích. Đối với giáo dục quản lý đội còn cần chú trọng các vấn đề thực tế
về công tác huấn luyện, tập luyện cũng như sinh hoạt thường ngày của huấn
30
luyện viên, vận động viên, từ đó điều chỉnh hợp lý tính tích cực của toàn đội.
Với vai trò đảm nhận trực tiếp công tác huấn luyện, huấn luyện viên phải
thường xuyên tìm hiểu, trao đổi và nắm bắt kịp thời nhu cầu, suy nghĩ cùng
hành động của vận động viên, cố gắng đáp ứng hoặc cơ bản đáp ứng yêu cầu
vận động viên đưa ra trong điều kiện cho phép, điều này có tác dụng vô cùng
quan trọng đối với vấn đề phát huy hiệu suất công việc của toàn đội.
3. Lựa chọn khẩu hiệu
3.1. Khái niệm
Khẩu hiệu là một trong những kỹ thuật cơ bản nhất của thể dục cổ
động kỹ xảo, cũng là một trong những đặc trưng cơ bản của thể dục cổ động
kỹ xảo, khẩu hiệu là nhân tố cấu thành quan trọng của nhóm động tác thực
hiện theo bài, có thể đặt ở trước, giữa hoặc sau của mỗi bài, thông thường
phần nhiều đặt khẩu hiệu ở giữa các bài. Thời gian của nhóm động tác theo
bài là 2 phút 30 giây, trước và sau có 10 giây mở (du di, không tính), đối với
thể dục cổ động kỹ xảo, yêu cầu phải thiết kế một nhóm khẩu hiệu kéo dài 30
giây trong bài thực hiện, cho phép trước và sau có 5 giây mở. Yêu cầu cơ bản
của khẩu hiệu như sau:
Thể hiện chủ đề: Khẩu hiệu là thành phần quan trọng của nhóm động
tác theo bài, yêu cầu phải thể hiện được tinh thần dũng cảm, tích cực tiến lên
của toàn đội.
Lựa chọn khẩu hiệu: Tên của đội, linh vật, trường học, khu vực,
quốc gia hoặc những khẩu ngữ ngắn gọn, xúc tích, dễ để lại ấn tượng cho
người xem đều có thể được chọn làm khẩu hiệu. Khẩu hiệu phải có hàm ý rõ
ràng, tối kị lựa chọn khẩu hiệu có phát âm phức tạp, đồng thời tránh những
trường hợp dùng từ khó hiểu, tối nghĩa, dễ nảy sinh kỳ thị.
Hô khẩu hiệu: Trước khi hô khẩu hiệu, cần hít sâu, thả lỏng yết hầu,
khi dung tích sống phổi ở vào giá trị cực đại, thực hiện phát khẩu lệnh, đồng
31
thời khống chế lưu động của khí, bảo đảm âm thanh lưu loát, mang lại hiệu
quả tối ưu nhất.
Hiệu quả của khẩu hiệu: Khẩu hiệu cần đơn giản, có sức sống, âm
thanh vang, rõ, cảm hóa được người xem bằng niềm nhiệt huyết.
3.2. Nội dung
Câu hoặc từ của khẩu hiệu xuất phát từ nội dung thi đấu, hoặc từ trường
học, hay từ chính đội tham gia thi đấu. Câu, từ của khẩu hiệu phải tạo được sức
hấp dẫn, để lại ấn tượng cho khán giả.
Xuất xứ: Khẩu hiệu có nguồn gốc từ tên của trường, của đội hoặc từ
hàm ý của các linh vật, biểu tượng, công trình kiến trúc đại diện...
Màu sắc: Mỗi một trường đều có sắc màu đại diện hoặc tượng trưng
riêng, đội thể dục cổ động cũng tương tự, có thể lựa chọn màu sắc riêng cho
mình.
Từ ngữ: Sử dụng những từ ngữ tích cực, mang ý nghĩa khích lệ, cổ vũ
tinh thần cao.
Từ ngữ đặc biệt: Là những khẩu hiệu chuyên môn thiết kế dành riêng
cho các trận đấu, đa phần phục vụ cho mục đích tính chất đặc thù của giải hoặc
vị trí của đội chủ nhà.
3.3. Nguyên tắc hô khẩu hiệu
Tính đồng bộ: Do âm thanh, giọng nói của mỗi người to nhỏ khác
nhau, nên cần lưu ý phong cách của cá nhân phải thống nhất, đồng bộ với phong
cách toàn đội, từ đó mới mang về hiệu quả âm thanh như mong muốn.
Tính hiệu quả: Khẩu hiệu cần được thiết kế sao cho trọng tài và khán
giả đều nghe rất rõ ràng, đơn giản nhưng có lực, thuận miệng, lưu lại ấn tượng,
tinh thần tích cực cho người xem. Đối với tiếng Việt cũng như tiếng Anh, có
một số từ rất khó đạt được hiệu quả phát ra tiếng vang, do đó cần tránh lựa
chọn sử dụng.
32
Tính thời cơ: Cổ vũ cũng cần nắm bắt thời cơ hợp lý, bên cạnh nhiệm
vụ nổi bật tinh thần đoàn kết của toàn đội, nó còn có tác dụng cổ động, khích lệ
tinh thần từng thành viên trong đội.
Tính hợp lý: Sử dụng biểu ngữ hoặc micro truyền tải thông tin của
khẩu hiệu, mang bầu không khí sôi động đấy nhiệt huyết đến với người xem.
Tính nhịp điệu: Cần nổi bật sự nhịp nhàng của tiết tấu cùng âm thanh.
3.4. Giai điệu hô khẩu hiệu
Ba vấn đề chính trong giai điệu của khẩu hiệu đó là phát âm rõ ràng, âm
điệu vừa phải và kiểm soát âm lượng. Một khi nắm vững được những yếu tố
này, sẽ giúp ích trong việc bảo vệ dây thanh quản cho thành viên đội cổ động, từ
đó phát huy được uy lực tinh thần cùng trạng thái trào khí sôi nổi.
Phát âm rõ ràng: Thành viên đội cổ động cần phát âm rõ ràng từng từ
trong khẩu hiệu, cộng thêm động tác thích hợp mới thể hiện được hết tinh túy
của bộ môn thể dục cổ động này. Cổ vũ với âm thanh rõ ràng, nổi bật trọng
điểm, có thể khiến người xem càng hiểu rõ hơn hàm ý của động tác đi kèm với
tiếng hô. Ví dụ, khi cổ vũ thành viên đội cổ động sẽ hô “ cố lên, cố lên, fight”, ở
sau mỗi từ cần thêm vào động tác minh họa
Âm điệu vừa phải: Âm điệu ý chỉ chất lượng, đặc tính của âm thanh.
Âm điệu thấp là tốt nhất, thành viên đội cổ động cần hạ thấp âm thanh của mình
một cách tự nhiên, âm thanh được phát ra phải tự nhiên và không gây ảnh
hưởng lẫn nhau. Nếu khi cổ vũ, thành viên trong đội cố ý phát ra âm cao, thì sẽ
rất dễ khiến người nghe chói tai. Khi thành viên trong đội hưng phấn, âm thanh
của họ sẽ tự biến thành âm cao, cho nên khi làm nhiệm vụ, bắt buộc các thành
viên phải tự bảo đảm âm điệu sao cho tự nhiên nhất, khống chế âm thanh một
cách có ý thức.
Biến hóa âm điệu hợp lý có thể thu hút và duy trì sự chú ý của khán giả.
Khi cỗ vũ, các thành viên phải nhiệt tình và hiểu rõ mình đang nói gì. Âm thanh
đơn điệu, khô khan rất khó lôi cuốn và khuấy động người xem. Sử dụng âm
33
thanh thích hợp khi cổ vũ, vừa thu hút được sự chú ý của khán giả, lại vừa có
thể khích lệ người xem cùng tham gia cổ động.
Kiểm soát âm lượng: Âm lượng là khả năng phát ra âm thanh. Âm
thanh của thành viện đội cổ động phải là âm lớn nhưng có kiểm soát, âm thanh
thông qua hít thở sâu được phát ra từ cơ hoành sẽ đạt được mục đích nêu trên.
Khi phát âm, tốt nhất nên dùng âm điệu thấp và âm lượng bình thường, nếu cần
âm lượng lớn để truyền âm thanh, phải tránh làm sao không được để nó kết hợp
với tiếng hô tạo thành tạp âm.
3.5. Phương pháp tập luyện
Bảo vệ cổ họng:
- Khi thi đấu, thực hiện khởi động với âm thanh đồng thời tránh mất
bình tĩnh.
- Hít sâu, khi cổ vũ từ từ thở ra.
- Sử dụng âm điệu thấp, âm thanh phải tự nhiên
- Khi cổ vũ thả lỏng tự nhiên cơ bắp vùng đầu cổ và vùng mặt, khiến
dưỡng khí vào phổi được nhiều hơn. Muốn thả lỏng hoàn toàn các cơ vùng đầu
cổ và mặt, có thể sử dụng phương pháp nói chuyện nhưng không phát ra tiếng
để đạt được hiệu quả thả lỏng nêu trên.
- Sử dụng biểu ngữ giúp người xem hiểu rõ được từ ngữ được hô khi cổ
động.
- Sử dụng loa phóng thanh để khuếch đại âm thanh, giúp bảo vệ thanh
quản
- Tránh cổ vũ khi đã bị khan tiếng, như vậy càng gây tổn thương hơn
cho cổ họng.
- Tránh cổ vũ khi đã bị cảm, vì nó sẽ làm tăng nguy cơ tổn thương thanh
quản.
- Khi nói chuyện, dùng tốc độ vừa phải và giọng nói nhẹ giúp bảo vệ cổ
họng.
34
- Thông qua bổ sung nước để duy trì độ ẩm cho thanh quản.
- Không uống cà phê và thức uống có nồng độ cồn, nhằm phòng tránh
tình trạng mất nước cho cổ họng.
- Không ăn những thức ăn có nguồn gốc từ sữa, nhằm tránh tình trạng
hình thành lớp màng mỏng và tạo dịch đờm trong cổ họng.
Tập luyện âm thanh: Mục đích: Tập sử dụng cơ hoành, tăng dung
lượng của âm thanh.
Bài tập 1:
- Nằm ngửa, co đầu gối.
- Một tay đặt trên vùng bụng, tay kia đặt trên vùng ngực.
- Hít thở bằng mũi, khiến vùng bụng phình lên, giữ yên vùng ngực, dồn
chú ý vào việc hít thở
- Khi hít vào, thắt chặt vùng bụng, giữ yên vùng ngực
Bài tập 2:
- Nằm ngửa, hai tay buông dọc thân người
- Nhẹ nhàng nhấc cao lưỡi, hít thở bằng miệng
- Vùng bụng phình lên, nhưng phải giữ yên các phần khác trên cơ thể.
- Khi thở ra phát tiếng “ a ”
- Lặp lại 4 lần.
Bài tập 3:
- Thực hiện thở dốc nhanh, liên tục.
- Vận động tốc độ vùng bụng, nhưng các vùng khác phải giữ yên, đặt
tay trên bụng để cảm nhận hình thức vận động của nó.
- Nghỉ giữa quãng sau khi lặp lại 4 lần.
4. Âm nhạc
4.1. Vai trò của âm nhạc trong thể dục cổ động
Âm nhạc là bộ phận cấu thành quan trọng của thể dục cổ động, có tác
dụng hoạt náo bầu không khí và truyền cảm hứng đến cho người xem. Âm nhạc
35
là nghệ thuật của âm thanh, nó là hình thức nghệ thuật hoàn chỉnh, mang kết
cấu độc đáo, hệ thống và hoàn chỉnh cùng cách thức biểu đạt,phương pháp hoàn
mĩ. Động tác của thể dục cổ động được thể hiện trên nền nhạc sẽ càng thêm sức
sống và tính nghệ thuật. Nếu nói động tác là nhân tố cấu thành động lực thi đấu
của thể dục cổ động, thì âm nhạc lại chính là linh hồn của thể dục cổ động, đồng
thời khiến xúc động từ nội tâm được biểu hiện ra bên ngoài.
Tốc độ và tiết tấu của âm nhạc khống chế nghiêm ngặt tốc độ và tiết tấu
của động tác. Vì vậy, trên một phương diện nào đó, nó sẽ khống chế cả cường
độ vận động của bộ môn này. Nếu chỉ xét đến tiết tấu và tốc độ, thời gian không
thay đổi, khi tiết tấu càng nhanh, động tác càng khó, thì cường độ cũng sẽ càng
lớn. Ngược lại, thì cường độ sẽ càng nhỏ.
Phong cách âm nhạc chỉ đạo phong cách động tác, khống chế phong
cách động tác. Phong cách âm nhạc chịu ảnh hưởng bởi thay đổi của thời đại, vị
trí địa lý, màu sắc dân tộc, môi trường, tác giả cùng nhiều nhân tố khác. Do đó,
chúng ta nên tôn trọng phong cách âm nhạc. Khi âm nhạc hài hòa cùng động
tác, âm nhạc mới phát huy được tác dụng nâng đỡ động tác.
Âm nhạc biến tấu mạnh hay nhẹ là điều kiện tồn tại của sức mạnh động
tác, giúp sản sinh liên hệ về kết cấu giữa động tác và âm nhạc với nhau. Thay
đổi của làn điệu và tiết tấu cộng thêm cao trào của động tác sẽ hình thành nên
cảm giác nhịp, phách cho người xem, tăng vẻ đẹp về phách điệu cho môn thể
dục cổ động, tạo giá trị thẩm mỹ cho bộ môn này.
Âm nhạc có tác dụng khống chế động tác và kích thích hưng phấn của tế
bào não. Vì vậy, tập luyện và thi đấu dưới nền nhạc có thể trì hoãn quá trình
xuất hiện của mệt mỏi. Tương tự, âm nhạc cũng có thể ảnh hưởng đến tâm trạng
con người, đây cũng là một trong những nhân tố khiến thể dục cổ động đa phần
ưu tiên lựa chọn các giai điệu có tiết tấu nhanh, vui vẻ, náo nhiệt làm nền nhạc
chính, âm nhạc vui nhộn càng dễ tạo hưng phấn cho người xem
36
4.2. Hiểu biết cơ bản về âm nhạc
4.2. 1. Giai điệu âm nhạc
Giai điệu được cấu thành bởi cao, thấp, dài, ngắn, mạnh, nhẹ của âm, hệ
thống các nhân tố này lại kết hợp với ý đồ của tác giả sẽ tạo ra hàng loạt các giai
điệu khác nhau. Giai điệu là một trong những nguyên tố chính giúp truyền tải
tâm tư tình cảm của tác phẩm âm nhạc.
Giai điệu có tính phương hướng, phương hướng của nó chủ yếu dựa
trên 2 yếu tố cao và thấp để phân biệt. Phương hướng của giai điệu chủ yếu chia
thành trên và dưới, trong đó phía trên ý chỉ âm đi từ thấp lên cao, ngược lại là
phía dưới. Hình thức xoay vòng ý chỉ giai điệu lấy một âm hoặc một khu vực
âm nhất định làm trục chính và xuất hiện liên tục, hoặc xoay vòng liên tục tại
một khu vực nhất định. Sóng ý chỉ âm duy trì ở một độ cao nhất định. Sóng là
đường giai điệu của âm từ thấp lên cao và lại từ cao xuống thấp.
Âm cao được lựa chọn trong âm nhạc là sự sắp xếp của các âm cao khác
nhau từ thấp lên cao, chúng ta sẽ đem các âm này chia thành những âm vực
khác nhau. Âm vực thấp có âm thanh trầm, dày; âm vực trung có âm thanh ấm;
âm vực cao có âm thanh vang. Do đó, giai điệu bản thân sẽ tự nảy sinh ra những
tương phản khác nhau, cộng thêm giai điệu lại tận dụng những thay đổi dài,
ngắn, mạnh, yếu của các âm không giống nhau, hình thành nên biến hóa lên
xuống từ thấp trầm đến cao vang, từ dồn dập đến chậm rãi, từ yếu đến mạnh.
Chúng ta có thể tham khảo phong cách, điều kiện phát triển, tiết tấu mà giai
điệu cung cấp để lựa chọn phong cách cho động tác, biến hóa của cường độ và
liên kết giữa những động tác với nhau. Ví dụ: Với phong cách nhạc jazz mang
lại, chúng ta có thể lựa chọn các đề tài liên quan đến giai cấp quí tộc, khi đó
động tác thực hiện sẽ tăng nhanh cùng với tốc độ thay đổi của âm nhạc.
4.2. 2. Cấu trúc âm nhạc
Âm nhạc cũng giống như kết cấu câu của từ, nhịp điệu cùng các nhân tố
tổ hợp khác nhất định phải phù hợp với qui luật rõ ràng, rành mạch.
37
Câu trong âm nhạc được tổ hợp từ những nốt nhạc, thường thì 2 nốt
nhạc sẽ tạo thành quãng, 2 quãng sẽ có thể tạo nhạc tiết, tức là 4 nốt.
Trong thực tiễn môn thể dục cổ động, sai lầm trong phá vỡ nhạc tiết
thường có 2 dạng: Thứ nhất, âm nhạc hoàn chỉnh, nhưng HLV hoặc VĐV lại
không nghe ra, khiến phần mở đầu của âm nhạc tách rời với phần mở đầu của
động tác; thứ hai, trong quá trình cắt nhạc làm phá vỡ câu nhạc hoàn chỉnh,
khiến tổ hợp động tác hoàn chỉnh vốn có rời rạc so với âm nhạc. Điều này dễ
gây nên cảm nhạc sai hoặc động tác không hài hòa ở người tập, ảnh hưởng đến
hoàn thành động tác thể dục cổ động
4.2. 3. Tiết tấu và phách
Tiết tấu là sự nối tiếp có tổ chức những âm có trường độ giống nhau
hoặc khác nhau.
Phách là những phần nhỏ hơn đều nhau về thời gian trong mỗi nhịp.
Hình thức tổ hợp đơn giản nhất của phách trong âm nhạc là phách đơn, phách
đôi, phách ba. Tổ hợp của các loại phách khác đều được biến hóa dựa trên ba
phách cơ bản này, được gọi là phách hỗn hợp và phách phức. Ví dụ phách 4 là
do 2 phách 2 hợp thành.
Phách có tiết tấu nhất định sẽ có mối quan hệ với một chủ đề nhất định,
ví dụ: thể dục cổ động thường sử dụng phách đơn của nhạc Disco, nhưng khi
vào bài, sẽ sử dụng phách đôi để thực hiện.
Tiết tấu của động tác thể dục cổ động nhất định phải tuân theo tiết tấu
của âm thanh, đặc biệt đối với vấn đề trong xử lý phách chùng.
4.2. 4. Hòa âm
Hòa âm là sự kết hợp đồng thời có qui luật của 3 âm trở lên. Hình thức
kết hợp khác nhau của hòa âm cùng hiệu quả âm thanh mang lại tác dụng đối
chiều về các mặt sáng, tối, đậm, nhạt trong âm nhạc, giống như vai trò của các
màu sắc trong hội họa. Hòa âm được tạo ra bởi hình thức kết hợp giữa các âm
đồng nhất và không đồng nhất.
38
4.2. 5. Điều chỉnh nhịp điệu
Điều chỉnh nhịp điệu là cách qui nạp hệ thống âm có tính đại diện tiêu
biểu từ các âm khác nhau được dùng trong phần tiết tấu và hòa âm của tác phẩm
âm nhạc, các tập hợp âm này cần duy trì được mối quan hệ vốn có và cùng
hướng về một trung tâm nào đó. Điều chỉnh có âm chủ đạo nhất, được gọi là
điều tính. Điều chỉnh và điều tính luôn tồn tại trong âm nhạc dưới hình thức
thay đổi và biến chuyển cho nhau. Cách đối chiếu của sự thay đổi, chuyển hóa
này là một trong những biện pháp hữu hiệu thể hiện được tính đa dạng trong
không khí, tình cảm, hình tượng của âm nhạc.
4.2. 6. Kết cấu âm nhạc
Một bản nhạc không chỉ dựa vào nhịp điệu và hòa âm để truyền tải nội
dung. Do âm nhạc mà chúng ta sử dụng thường là các giai điệu đa âm, mỗi một
âm của loại nhạc này đều có phương hướng khác nhau, nên giữa chúng tồn tại
quan hệ hỗ trợ cho nhau, từ đó hình thành nên kết cấu của âm nhạc.
Kết cấu này thường chia thành 3 dạng là: Thể điều chính, thể đa điều và
thể hỗn hợp.
- Thể điều chính: Tức là lấy một tiết tấu làm chủ, các phần âm khác
được tạo thành do trường âm hoặc hòa âm kết hợp mà thành
- Thể đa điều: Là sự kết hợp của 2 hoặc 2 tiết tấu trở lên cùng quan trọng
như nhau. Kết hợp của 2 tiết tấu khác nhau được gọi là đa điều đối chiếu, còn
cùng một tiết tấu nhưng lần lượt xuất hiện trước sau trong khoảng thời gian nhất
định gọi là đa điều mô phỏng.
- Thể hỗn hợp: Là nhiều kết cấu cùng xuất hiện đồng thời.
4.2. 7. Các hình thức biểu đạt khác của âm nhạc
Ngoài những hình thức mà chúng ta đã nêu trên, âm nhạc còn sử dụng
một số hình thức khác để nhấn mạnh sự biểu đạt. Ví dụ như biến hóa về tốc độ,
thay đổi về lực, thay đổi âm vực, thay đổi hình thức diễn tấu, thay đổi trong biểu
đạt tình cảm, so sánh đối chiếu....
39
Sự mới mẻ của các hình thức biểu đạt trên đây ảnh hưởng không nhỏ
đến hình tượng của tác phẩm âm nhạc.
Hình thức biểu đạt của âm nhạc được vận dụng đa dạng trong tác phẩm.
Nắm bắt và hiểu rõ các hình thức này chúng ta mới đưa ra được những phân
tích rõ nét đối với tác phẩm âm nhạc sẽ sử dụng, đồng thời có thể kết hợp nhuần
nhuyễn âm nhạc với động tác, khiến động tác càng tăng thêm sức sống.
5. Đội hình trong thể dục cổ động.
Đội hình được coi là xương sống của bài thi. Đội hình đa dạng sẽ làm
cho bài thi sống động hơn .
Đội hình có nhiều loại (dàn đều trên thảm, thu hẹp ở tâm hoặc 1 khu
vực, chéo sân, thành 2 – 3 cụm trên thảm ...). Việc lựa chọn, sắp xếp biến đổi
các đội hình là sự sáng tạo của người biên soạn với ý đồ rõ ràng
Đội hình khi kết hợp với động tác cần suy nghĩ sao cho phù hợp.
Hình thức di chuyển về đội hình .
Phương án di chuyển cũng cần đi sâu và sáng tạo. Khi nào thì dùng
cách di chuyển nhanh - gần nhất đến vị trí mới, khi nào thì dùng cách hình
thành dần.
Trên thảm Đội hình đang rộng nhất, nhanh chóng thu hẹp ở tâm sân sẽ
dễ tạo ấn tượng với người xem
Một số đội hình di chuyển tham khảo.
Đội hình 1 Đội hình 2 Đội hình 3
Đội hình 5 Đội hình 6
Đội hình 4
Số lượng người
X X
X
X
X
X
3
X
X
X
X
X X
X X X
X
X
X
X
X X
X
X
4
X X
X X
X X
X
X X X X
X X
X X
X X
X
X
40
X
X X
X X
X
X
X X
X
5
X X X
X
X X
X
X
X X
X X
X X
X X
X
X X
X
X X
X X
X X
X
X X
X X X
6
X X
X X
X X X
X X
X X
X X
X X X
X
X X
X
X X
X X
X X
X X
X
X X
X X
X X
X
X X
X X X
X X X
7
X X
X X X X
X X
X X
X X
X
X
X X
X X
X X
X X
X
X
X
X X
X X
X X
X X
X X
X X
X X X X
X X
8
X X
X X
X X
X X
X X
X X
X X
X X
X X
XX
X X
X
X
X X
X
X X
X X
X X
X X
X X
X X
X X X X
X X X
X X
X X X X X
9
X X
X X
X X X
X X X
X
X X X X
X X
X X
X X
X X X
X X
X
X
X X X
X X
X X
X X X
X X X X
X X X X
X X
X X
X X
X X
10
X X X
X X
X X
X X
X X X
X X X
X X
X X X X
X X
X X
X X
X X
X
X
X X
X
X X
X X
X X
X X
X X X
X X
X X
11
X X X
X X
X X
X X
X X
X X
X
X X
X
X
41
X X X
X X X X X
X X X
X X X X
.
X X
X X X
X X X X X X
X X
X X X X
X
X
X X
X X X X
X X
X X
X X
X X
X X
X X
X X
X X X X
X X
X X
X X
X X
X X
X
12
X X
X X
X X
X X X
X X X X
X X
X X
X X X X
X X
X X X
X X X X
X X
X X
X X
X X X X
X X X X
X X X X
X X X X
X X X
X X X X
X X X X
X X X X
X X X X
X X X X
X X X
X X X X
X X
X X
X X
X X X X
X X X X
X X X
X X X X
16
X X
X X
X X X
X X
X X X
X X
X X
X X X X
X X
X X X X
X X
X
X X X X
X X X X
X X X X
X X
X X X X
X X X X X
X X X X
X X X X
X X X X
X X X X
X X X X
X X X X X
42
X X X
X X X X X X
X X X X
X X X X
X X X X X X
X X X
X X X X
X X X X
X X X X
X X X X
X X X
X X X X
X X X X
X X
X X X X
X
X X X
X X X X
X X
X X
X X X X
X X X X
X X X
X X X X
X X X
X X
X X X
X X
X X X
X X
X X X
X X X X
X X
X X X X
X X X
X
X X
X X X X
X X
X X X X
X X
X X X X
X X X X
X X X X
20
X X X X
X X X X
X X X X X
X X X X
X X X X
X X X X
X X
X X
X X X X X
X X
X X X X X X
X X X X X X
X X X X X X
X X X X X
X X X X
X X X X X
X X X X
X X X X
X X X X
X X
X X X
X X X
X X
X X
X X
X
X
X X X X
X X X X
X X X X X
X X X X X
X X X X X
X X X X X
X X X X
X X X X X X
X X X X X
X X X X X
X X X X X
X X X X X
X X
43
Chương 3
CÁC KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CỦA THỂ DỤC CỔ ĐỘNG
1. Đặc trưng kỹ thuật của động tác cơ bản
1.1. Hoạt động bên ngoài của cơ thể
Thân người: Các thành viên đội cổ động trong quá trình thực hiện
động tác cần giữ cho thân người thẳng đứng, đầu hơi ngẩng, đốt sống cổ, ngực
và lưng nằm trên một đường thẳng, tư thái cơ thể phải toát lên được sức sống
khỏe, diện mạo tinh thần tích cực, tự tin.
Động tác tay: Động tác của tay chủ yếu lấy khớp vai làm trục chính, ví
dụ chúng ta thường sử dụng các động tác điển hình như tay hình chữ “ K” hoặc
chữ “V”. Khi duỗi, cánh tay nên thẳng, khi gập nên tạo thành góc nhất định, bàn
tay đa phần là nắm hờ. Yêu cầu thực hiện động tác phải rõ ràng, có lực, tức là
phải hoàn thành động tác trong thời gian ngắn nhất để chuẩn bị cho động tác kế
tiếp, quá trình chuyển tiếp sang động tác mới không nên xuất hiện những động
tác dư thừa, khi tay đã đạt đến vị trí qui định của động tác, không nên xuất hiện
hiện tượng tay lắc lư hoặc đu đưa, đồng thời động tác của tay nên ở vào diện
mặt phẳng phía trước cơ thể. Động tác của tay nên dựa trên nền tảng là di
chuyển tốc độ, định vị chính xác, lấy các ngón tay làm điểm phát lực, lựa chọn
quĩ đạo ngắn nhất để chuẩn bị sẵn sàng cho động tác kế tiếp
Bước di chuyển: Thể dục cổ động yêu cầu VĐV phải di chuyển đến vị
trí chỉ định trong thời thời ngắn nhất, mỗi bước di chuyển cần rõ ràng, có lực,
không nên cố ý lưỡng lự. Khi thực hiện các động tác duỗi căng không nên
chùng gối, góc tạo thành khi chùng gối phải tuân theo yêu cầu nhất định, khớp
gối và mũi chân phải cùng hướng về một phía.
Tóm lại, động tác đơn có thể biến hóa khôn lường, nhưng cần căn cứ
trên tiêu chuẩn cụ thể trong những khoảng thời gian qui định khác nhau, nhằm
bảo đảm tư thế động tác ở vào vị trí chuẩn xác nhất.
44
1.2. Đặc trưng bên trong của cơ thể
Đặc trưng kỹ thuật nội bộ động tác cơ bản của thể dục cổ động bao gồm
ba phương diện là: Phát lực, khống chế trọng tâm và độ dừng, biểu hiện cụ thể ở
hoạt động phần đầu, tứ chi cùng khống chế trọng tâm khi di chuyển.
Hoạt động phần đầu: Khi hoạt động phần đầu, nên thả lỏng đầu, còn
phần cổ sẽ phát lực, chú ý tốc độ trong quá trình thực hiện và khống chế cùng
định vị cuối cùng của động tác.
Tứ chi phát lực: Trong quá trình thực hiện động tác, sử dụng lực của
cơ giúp tăng tốc cho cánh tay hoặc chân, khi chuyển biến động tác không nên
dùng lực quá mạnh khiến động tác bị cứng ngắc. Yếu lĩnh động tác chuẩn xác
đó là có lực nhưng không khô cứng, thả lỏng nhưng không lỏng lẻo, khi cơ bắp
vùng cánh tay phát lực, cơ vùng vai nên thả lỏng, không nên nhún vai.
Khống chế trọng tâm khi di chuyển: Thăng bằng cơ thể là nền tảng
giúp động tác được hoàn thành một cách an toàn, liền mạch. Trọng tâm cơ thể
thay đổi cùng với sự biến hóa phương hướng khi vận động, chúng ta có thể tận
dụng sự kéo duỗi và co rút của cơ thể để điều chỉnh thăng bằng, ổn định trọng
tâm, cũng có thể tận dụng phản lực của cơ và lực kéo được hình thành trong quá
trình co cơ để duy trì độ ổn định của trọng tâm.
2. Chuyển động cơ bản của tay
2.1. Những điều chú ý khi thực hiện kỹ thuật của tay.
- Hoạt động của tay luôn nhanh chóng, mạnh và dứt khoát.
- Luôn giữ chuyển động mạnh mẽ và vững chắc (như thể hiện sức
mạnh của tay)
- Vai cần được thả lỏng và không có liên kết cứng nhắc.
- Chuyển động nên hơi ở phía trước thay vì thẳng lên hoặc thẳng sang
một bên. Có thể nhìn thấy hoạt động khi thực hiện.
- Cổ tay của cần được thẳng và không bị cong.
- Khi nắm bàn tay hình nắm đấm.
45
- Tư thế thực hiện “T” hoặc “V” luôn thể hiện mạnh mẽ.
- Không nghiêng ngả đầu khi thực hiện động tác.
- Khi chuyển động xoay đang được sử dụng phải xoay đến vị trí kế
tiếp thay vì di chuyển (nói cách khác khi thực hiện phải thể hiện được khoảng
cách ngắn nhất)
- Thực hành trước gương.
- Trao đổi với bạn bè hoặc đồng đội để làm cho việc học các chuyển
động được phong phú và thú vị hơn.
- Thực hiện chuyển động từ 1 đến 8 nhịp, lặp lại nhiều lần để thực
hiện thuần thực các động tác.
2.2. Động tác tay (Hình 3- 1)
(Chữ K, L, R, K bên trái hoặc phải, T, X, cung tên, L ngược, cao V, tay cao X,
tay trước W, Chống hông tay cao, Chống hông tay dưới bên, Chống hông tay
trước dưới , Chống hông tay trước trên, Chống hông tay trước gập, Chống hông
tay trên bên, gập tay A, M dưới, H cao, A cao, gập tay X, M trên, A thấp, T nhỏ
, X thấp, H nhỏ, cung tên nhỏ, T chếch (chéo), tay trước X, V thấp, H thấp).
46
47
Hình 3-1
3. Chuyển động cơ bản của chân. (Hình 3-2)
Chân tỳ bên, chân trước chùng gối, hai chân rộng bằng vai, tư thế đứng
nghiêm, chân chéo, co gối trước.
Hình 3-2
48
4. Tổ hợp động tác cơ bản
4.1. Tổ hợp 1: Tổng cộng 4 lần 8 nhịp
4.1.1. 8 nhịp thứ nhất (Hình 3-3)
Nhịp 1: Chân trái bước lên trước, hai tay vỗ vào nhau co trước ngực
(gập A).
Nhịp 2: Thu chân phải lên ngang chân trái, hai tay vỗ vào nhau co trước
ngực (gập A).
Nhịp 3: Chân trái bước lên trước, hai tay chếch trên bên (chữ V).
Nhịp 4: Thu chân phải lên ngang chân trái, hai tay vỗ vào nhau co trước
ngực (gập A).
Nhịp 5: Xoay người sang trái 900 chân trái bước lên, hai tay chuyển
(chữ K).
Nhịp 6: Xoay người sang phải 900 hai tay chuyển về gập trước ngực (T
nhỏ)
Nhịp 7: Xoay người sang trái 900 chân trái nâng gối vuông góc, tay phải
ngang, tay trái cao (chữ L)
Nhịp 8: Xoay người sang trái 1800 hạ chân phải chân trái chùng gối,
hai tay chếch dưới bên (V thấp)
Hình 3-3
4.1.2. 8 nhịp thứ hai (Hình 3-4)
49
Nhịp 1: Chân phải bước lên trước, hai tay vỗ vào nhau co trước ngực
(gập A).
Nhịp 2: Chân trái bước lên xoay người sang phải 900, hai tay vỗ vào
nhau co trước ngực (gập A).
Nhịp 3: Tiếp tục chân trái bước lên xoay người sang phải 900, hai tay vỗ
vào nhau co trước ngực (gập A).
Nhịp 4: Thu chân trái lên ngang chân phải, hai tay vỗ vào nhau co trước
ngực (gập A).
Nhịp 5: Bật nhảy nhẹ chân trái tỳ bên, tay trái cao tay phải co (H nhỏ).
Nhịp 6: Bật nhẹ hai chân rộng bằng vai, hai tay ngang (chữ T)
Nhịp 7: Chân trái bước lên trước chùng gối, hai tay thẳng vỗ vào nhau
chếch trước dưới (chữ A thấp)
Nhịp 8: Bật nhẹ hai chân về tư thế cơ bản, hai tay thu về gập trước ngực.
Hình 3-4
4.1.3. 8 nhịp thứ 3 (Hình 3-5)
Nhịp 1: Bật nhẹ hai chân tách rộng hơn vai, tay phải cao tay trái ngang
(chữ L)
Nhịp 2: Xoay người sang trái 900 chân trái chúng gối, tay trái chếch
trước trên, tay phải chếch trước dưới (chữ K).
50
Nhịp 3: Xoay người sang phải 900 chân thẳng, hai tay gập khuỷu trên
vai (M cao).
Nhịp 4-2: Bật nhẹ thu hai chân chụm, hai tay vỗ vào nhau trước dưới (A
thấp).
Nhịp 4-1: Bật nhẹ hai chân rộng bằng vai, tay phải co trên vai (M cao),
tay trái chếch trên bên.
Nhịp 5: Chân phải bước lên, hai tay ngang (chữ T).
Nhịp 6: Chân trái bước lên, tay phải chống hông, tay trái chếch trên bên.
Nhịp 7: Chân phải bước lên trước, tay phải ngang, tay trái gập khuỷu
trước ngực (cung tên nhỏ)
Nhịp 8-1: Nâng gối trái lên trước vuông góc, hai tay gập trước ngực (T
nhỏ)
Nhịp 8-2: Bật nhẹ hai chân về tư thế cơ bản, tay trái chống hông, tay
phải chếch trước dưới.
Hình 3-5
51
4.1.4. 8 nhịp thứ 4 (Hình 3-6)
Nhịp 1: Chân trái bước lên như dậm chân tại chỗ, hai tay vỗ vào nhau co
trước ngực (gập A).
Nhịp 2: Chân phải bước lên như dậm chân tại chỗ, hai tay vỗ vào nhau
co trước ngực (gập A).
Nhịp 3: Thực hiện lặp lại giống nhịp 1.
Nhịp 4: Thực hiện lặp lại giống nhịp 2.
Nhịp 5: Chân thực hiện lặp lại giống nhịp 1, hai tay chếch trên bên (chữ
V).
Nhịp 6: Chân thực hiện lặp lại giống nhịp 2, hai tay thu về gập trước
ngực.
Nhịp 7: Bật nhảy nhẹ xoay người sang phải 900 chân phải trước chân
trái sau, tay phải cao tay trái trước.
Nhịp 8: Bật nhảy nhẹ xoay người sang trái 900 hai chân chụm, hai tay
ngang gập khuỷu (W trước)
Hình 3-6
4.2. Tổ hợp 2: Tổng cộng 4 lần 8 nhịp
4.2.1. 8 nhịp thứ nhất (Hình 3-7)
52
Nhịp 1: Chân trái bước lên như dậm chân tại chỗ, tay trái chống hông,
tay phải chếch trên bên.
Nhịp 2: Chân phải bước lên như dậm chân tại chỗ, tay trái chống hông,
tay phải chếch trên bên.
Nhịp 3: Chân thực hiện lặp lại giống nhịp 1, tay phải chống hông, tay
trái chếch trên bên.
Nhịp 4: Chân thực hiện lặp lại giống nhịp 2, tay phải chống hông, tay
trái chếch trên bên.
Nhịp 5: Chân trái bước lên trước chùng gối, hai tay vỗ vào nhau co
trước ngực (gập A).
Nhịp 6: Chân giữ nguyên, hai tay chếch trên bên (chữ V).
Nhịp 7: Chân giữ nguyên, thân người hóp ngực đầu cúi, hai tay chếch
dưới bên (chữ V thấp).
Nhịp 8: Chân giữ nguyên, thân người ưỡn căng đầu ngửa, hai tay chếch
dưới bên (chữ V thấp).
Hình 3-7
4.2.2. 8 nhịp thứ hai (Hình 3-8)
Nhịp 1: Chân phải bước lên trước hơi chùng gối, hai tay trước.
Nhịp 2: Xoay người sang trái 900, nâng gối chân trái vuông góc, tay trái
ngang, tay phải co ngang trước ngực (cung tên nhỏ).
53
Nhịp 3: Xoay người sang phải 900, chân trái duỗi sau, chân phải trước
chùng gối, hai tay vỗ trên cao (chữ A) đầu cúi.
Nhịp 4: Xoay người sang trái 900, thu chân về tư thế đứng nghiêm, hai
tay chếch dưới bên (V thấp).
Nhịp 5: Chân trái bước lên trước chùng gối, hai tay chéo trước ngực (X
gập).
Nhịp 6: Chân giữ nguyên, tay trái chếch trên bên, tay phải chếch dưới
bên (chéo trái).
Nhịp 7: Chân giữ nguyên, tay phải chếch trên bên, tay trái chếch dưới
bên (chéo phải).
Nhịp 8: Chân giữ nguyên, thân người hóp, đầu cúi, hai tay chéo trước
ngực (X gập).
Hình 3-8
4.2.3. 8 nhịp thứ 3 (Hình 3-9)
Nhịp 1: Chân bật nhẹ tách rộng bằng vai, tay phải gập sau đầu, tay trái
dưới.
Nhịp 2: Bật thu chân về, tay trái gập sau đầu (chữ X).
Nhịp 3: Nhún nhẹ nâng gối chân trái, tay phải chếch trên bên, tay trái
chống hông.
54
Nhịp 4: Đổ người về trước, hạ chân trái về trước chùng gối, tay phải
chếch trước dưới, tay trái chống hông.
Nhịp 5: Bước chân phải lên trước 450 chùng gối, tay phải ngang gập
trước ngực, tay trái chống hông.
Nhịp 6: Xoay người sang trái 450 chuyển trọng tâm sang chân trái
chùng gối, tay trái chống hông, tay phải chếch trước dưới.
Nhịp 7: Xoay người sang phải 900 chuyển trọng tâm sang chân phải
chùng gối, hai tay ngang.
Nhịp 8: Chuyển trọng tâm lên chân phải, chân trái nâng gối vuông góc,
hai tay cao.
Hình 3-9
4.2.4. 8 nhịp thứ 4 (Hình 3-10)
Nhịp 1: Tư thế chuẩn bị giống nhịp 8 hình 3-10. Xoay người sang trái
450 chân trái hạ trước chùng gối, tay phải gập trước ngực, tay trái trên cao.
Nhịp 2: Xoay người sang phải 450 chân phải bước sang phải chùng gối,
tay phải chế trước trên, tay trái chếch trước dưới. (chữ K trái).
Nhịp 3: Chân trái bước lên xoay người sang trái 450, hai tay đánh sang
trái chếch dưới bên
Nhịp 4: Bước chân phải lên trước bật nhẹ tách chân trái ra sau, hai tay
đánh lên cao (chữ V).
55
Nhịp 5: Chân trái bước lên trước sang trái đồng thời xoay người sang
phải 450 chuyển trọng tâm sang chân phải chân trái tỳ trước, hai tay vỗ trước
ngực.
Nhịp 6: Chân phải bước lên trước sang phải đồng thời xoay người sang
phải 450 chuyển trọng tâm sang chân phải chân phải tỳ trước, hai tay vỗ trước
ngực.
Nhịp 7: Xoay người sang phải 450 bước chân trái lên chuyển trọng tâm
sang chân trái chân phải tỳ trước, hai tay vố trước ngực.
Nhịp 8: Chuyển trọng tâm lên chân phải, xoay người sang phải 450
bước chân trái lên chuyển trọng tâm lên chân trái chùng gối, hai tay chếch trên
bên.
Hình 3-10
5. Các bước bật nhảy cơ bản
5.1. Phân loại động tác bật nhảy
Động tác bật nhảy trong thể dục cổ động là hình thức nhờ vào hiệu quả
của thị giác để biểu đạt cảm xúc và thể hiện tốc độ. Yếu lĩnh của động tác bật
nhảy đó là khi nhảy phải có cao độ đồng thời duy trì tính chuẩn xác của tư thế
trên không, thể hiện sức mạnh và độ mềm dẻo của các thành viên trong đội; khi
tiếp đất thì từ nửa đầu lòng bàn chân sẽ quá độ sang cả bàn chân, cơ thể giữ cân
56
bằng. Độ khó và tính chuẩn xác trong động tác bật nhảy của các thành viên đội
thể dục cổ động sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả về thị giác của toàn bộ động tác.
Dưới đây là các động tác bật nhảy thường gặp của thể dục cổ động. (bật
nhảy tách chân hẹp, nhảy C, bật tách chân trước sau, quay người bật nhảy, nhảy
liên tục, bật nhảy co gối, bật nhảy đổi chân, nhảy vượt rào, gập người bật nhảy
dạng chân, gập người bật nhảy chân chụm) Hình 3-11
Hình 3-11
5.2. Các giai đoạn kỹ thuật động tác bật nhảy
5.2.1. Kỹ thuật dậm nhảy
Trong toàn bộ quá trình dậm nhảy cần khống chế cơ bụng, nhằm đạt
được tác dụng kết nối. Khi chuẩn bị, hơi trùng hai gối, hai tay đánh mạnh ra sau,
lòng bàn tay nắm hờ. Khi dậm nhảy, căng cứng các cơ phần chi dưới, chân đạp
57
đất tạo lực, khiến mặt đất lúc này tức thì sản sinh một phản lực lên cơ thể, đồng
thời lăng mạnh hai tay lên cao, lực khi dậm nhảy càng lớn, thì phản lực do mặt
đất cung cấp sẽ càng lớn, tức là lực tác dụng lên cơ thể sẽ càng lớn, như vậy
khoảng cách trên không so với mặt đất sẽ càng cao
5.2.2. Kỹ thuật khống chế trên không
Kỹ thuật trên không chia thành kỹ thuật động tác đơn lẻ và kỹ thuật
động tác phức hợp.
Kỹ thuật động tác đơn lẻ: chỉ cần duy trì một trạng thái nhất định trên
không, tức là trên cơ sở ổn định của thân người, sau khi chân thuận dậm nhảy
nhanh chóng đạt đến vị trí “ dừng ” đã được định trước.
Kỹ thuật động tác phức hợp: sau khi dậm nhảy, căn cứ vào yêu cầu và
trình tự động tác, các đoạn xa của cơ bắp sẽ phối hợp cùng khống chế các nhóm
cơ khác, nhanh chóng đạt đến vị trí đã định trước, sau đó thay đổi đến một vị trí
tiếp theo. Khi thay đổi động tác, yêu cầu thân người và tứ chi cùng phối hợp
dùng lực, cùng thay đổi, nhằm duy trì tính thăng bằng và tính hoàn chỉnh cho tư
thái cơ thể.
Ví dụ: với động tác bật nhảy tách chân hẹp, tư thái cơ thể sẽ là: thân trên
chính diện, cơ bụng gồng chắc, đồng thời tách hai chân đến một góc độ đã qui
định, khống chế hai cơ mông lớn, duỗi thẳng chân, hai tay chếch cao “ chữ V”,
cơ thể thành hình chữ “X”.
Kỹ thuật bật nhảy là một hoạt động được thực hiện bởi một chân
hoặc hai chân, căn cứ vào biên độ của chuyển động có thể được chia thành
các bước nhảy nhỏ, nhảy vừa và lớn.
5.2.3. Kỹ thuật tiếp đất
Giai đoạn cuối cùng của kỹ thuật bật nhảy đó là tiếp đất, để tránh gây
nên chấn thương thể thao, người tập khi rơi từ trên không xuống cần chú ý hoãn
xung, giúp duy trì độ ổn định cho thân người, đồng thời cũng góp phần giảm
nhẹ lực tác dụng của mặt đất lên cơ bắp và các khớp. Khi tiếp đất, trọng tâm dồn
58
lên từ nửa bàn chân trước sẽ quá độ dần đến cả bàn, sau đó nhanh chóng trùng
gối, gập hông hoãn xung. Lúc này, thân người và hai tay giữ ở tư thế cố định.
Các cơ chi dưới kết hợp dùng lực hài hòa là nhân tố quan trọng giúp VĐV
phòng tránh có hiệu quả chấn thương xảy ra và hoàn thành tốt động tác hoãn
xung.
Động tác bật nhảy được cấu thành bởi 4 giai đoạn đó là chuẩn bị bắt
đầu, trên không, thực hiện động tác và tiếp đất (Hình 3- 12).
Giai đoạn chuẩn bị bắt đầu: Là bước thứ nhất của bật nhảy. Trọng điểm
kỹ thuật của giai đoạn này đó là đứng thẳng, chân khép, hai tay chếch trên bên,
lòng bàn tay hướng ra ngoài; khi gập khớp gối, hai tay từ chếch trên bên đánh
mạnh về trước và dừng ở hai bên thân người, hai chân đạp đất nhảy mạnh lên
cao, đây được gọi là phương pháp di chuyển tốc độ, cũng là phương pháp
thường sử dụng nhất trong các động tác bật nhảy.
Giai đoạn trên không: Là khoảng thời gian sau khi VĐV giậm nhảy rời
đất đến trước khi tiếp đất. Trọng điểm kỹ thuật của giai đoạn này đó là hóp
bụng, thẳng lưng, giữ thẳng thân trên, khi trên không hai chân nên duỗi thẳng,
động tác tay nhanh, dứt khoát. Động tác tay khi giậm nhảy và thời gian chân
đạp đất là yếu tố quan trọng giúp đạt được độ cao bật nhảy lý tưởng.
Giai đoạn thực thi động tác: Là khoảng thời gian VĐV tiến hành các
động tác trên không, khi thực thi động tác, người tập cần duy trì độ cao trên
không nhất định, hóp bụng thẳng lưng, duỗi thẳng hai chân và mũi chân, đồng
thời hai tay sốc trên cao hoặc sang ngang.
Giai đoạn tiếp đất: Được cấu thành bởi hai nhân tố chính là co gối tốc
độ và hoãn xung. Khi tiếp đất, hai tay và chân cùng hạ thấp, trùng khớp gối
hướng về trước (góc giữa đùi và cẳng chân không vượt quá 900), hai chân
khép, đồng thời hai tay buông dọc thân người
59
Hình 3-12
5.3. Phân tích kỹ thuật động tác bật nhảy
5.3.1. Kỹ thuật bật nhảy tách chân hẹp
Bước 1: Vỗ tay trước ngực.
Bước 2: Đánh hai tay lên cao V.
Bước 3: Bắt đầu nhảy bằng cách chùng gối và hai tay đan chéo phía
trước trên cao - xuống dưới.
Bước 4: Bật nhảy lên cao, hai tay vung mạnh sang ngang - lên cao, hai
chân đá sang hai bên rộng hơn vai mở hông, nâng ngực, ngửa đầu.
Bước 5: Trở về tư thế ban đầu (Hình 3-13).
Hình 3-13: Bật tách chân
5.3.2. Kỹ thuật bật nhảy co gối.
Bước 1: Vỗ tay trước ngực.
Bước 2: Đánh hai tay lên cao V.
60
Bước 3: Bắt đầu nhảy bằng cách chùng gối và hai tay đan chéo phía
trước trên cao - xuống dưới.
Bước 4: Bật nhảy lên cao, hai tay vung mạnh sang ngang - lên cao, hai
chân chụm nâng gối vuông góc với thân, nâng ngực, ngửa đầu.
Bước 5: Trở về tư thế ban đầu (Hình 3-14).
Hình 3-14. Bật co gối
5.3.3. Kỹ thuật bật nhảy đá ngang.
Bước 1: Vỗ tay trước ngực.
Bước 2: Đánh hai tay lên cao V.
Bước 3: Bắt đầu nhảy bằng cách chùng gối và hai tay đan chéo phía
trước trên cao - xuống dưới.
Bước 4: Bật nhảy lên cao, hai tay vung mạnh sang ngang, hai chân đá
ngang sang hai bên vuông góc với thân, nâng ngực, ngửa đầu.
Bước 5: Trở về tư thế ban đầu (Hình 3-15).
Hình 3-15. Bước đá ngang
61
5.3.4. Kỹ thuật bật nhảy chạy vượt rào.
Bước 1: Vỗ tay trước ngực.
Bước 2: Đánh hai tay lên cao V
Bước 3: Bắt đầu nhảy bằng cách chùng gối và hai tay đan chéo phía
trước dưới.
Bước 4: Bật nhảy lên cao, hai tay đánh lên trước trên sát tai, đá chân
phải thẳng lên sát ngực, chân trái co ở phía sau mở hông, nâng ngực, đầu cúi.
Bước 5: Trở về tư thế ban đầu (Hình 3-16).
Hình 3-16. Bước chạy vượt rào
5.3.5. Kỹ thuật bật nhảy gập thân.
Bước 1: Vỗ tay trước ngực.
Bước 2: Đánh hai tay lên cao V.
Bước 3: Bắt đầu nhảy bằng cách chùng gối và hai tay đan chéo phía
trước dưới.
Bước 4: Bật nhảy lên cao, hai tay đánh lên trước trên sát tai, đá hai chân
về trước thẳng lên sát ngực, đầu cúi.
Bước 5: Trở về tư thế ban đầu (Hình 3-17).
62
Hình 3-17. Bước bật gập thân
5.4. Các phương pháp thực hiện bài tập động tác bật nhảy
Khi tập động tác bật nhảy, có thể sử dụng các phương pháp khác nhau,
ví dụ như các bài tập cá nhân, hoặc các bài tập theo nhóm. Để phát triển khả
năng bật nhảy, nên bắt đầu từ những động tác đơn giản, sau đó mới nâng dần
lên tập những động tác khó hơn. Ví dụ: động tác bật nhảy ôm gối có thể lấy
làm động tác khởi động trước khi tập các động tác bật nhảy khác.
Trong quá trình tập, số lần thực hiện mỗi một động tác chính xác phải
được duy trì từ 5 đến 10 lần, đây cũng chính là nội dung huấn luyện có ý
nghĩa quan trong đối với kỹ thuật bật nhảy. Khi cần biểu diễn tổ hợp động tác
bật nhảy liên tiếp đòi hỏi yếu tố sức bền cao, thì thời gian tập luyện cũng nên
căn cứ trên tình hình thực tế để có những thay đổi sao cho phù hợp.
5.4.1. Các bài tập cá nhân
VĐV thể dục cổ động bắt buộc phải tự cá nhân mình hoàn thành các
động tác bật nhảy, bắt đầu bằng các động tác đon giản trước, sau đó mới quá
độ sang các động tác có độ khó cao hơn. Sau khi thực hiện các động tác có độ
khó, mới thực hiện các bài tập tổ hợp tiếp theo. Thông qua quá trình thực hiện
hoặc quan sát động tác, VĐV có thể hiểu tường tận hơn kỹ thuật cơ bản của
động tác, ví dụ: trước khi tập, VĐV nên tập mô phỏng chính xác các tư thế
động tác trên không ở tư thế ngồi trước, sau đó mới chuyển sang tập ở tư tư
thế đứng. Khi tập, tốt nhất VĐV nên nhìn thấy động tác của chính mình, do
đó tập trước gương được xem là một trong những phương pháp có hiệu quả
63
nhất, nó giúp VĐV sửa được những động tác sai, giúp ích cho việc VĐV nắm
vững thời cơ thực hiện động tác.
5.4.2. Các bài tập theo nhóm
Phương pháp sử dụng đối với các bài tập theo nhóm rất nhiều, dưới
đây chúng tôi chỉ giới thiệu đến 3 phương pháp điển hình nhất.
Tập theo vòng tròn: Người tập xếp thành một vòng tròn lớn, mặt quay
vào trong, người đầu tiên thực hiện một lần động tác bật nhảy, sau đó đi một
vòng quanh vòng tròn đã xếp, những người tập tiếp theo lần lượt lặp lại động
tác như trên, sau khi kết thúc 1 lượt, người tập lại tiếp tục lần lượt thực hiện
các động tác bật nhảy khác, HLV và những VĐV khác có thể hướng dẫn
người tập động tác ở mỗi một lần thực hiện, phương pháp này không những
nâng cao hiệu suất của quá trình tập, mà người tập còn có nhiều thời gian tập
hơn.
Tập theo hàng dọc: người tập đứng thành một hàng dọc, người đứng
đầu hàng sẽ yêu cầu người đứng kế mình trước, người tập đầu tiên này sẽ phải
hoàn thành 5 lần bật nhảy hoặc một nhóm tổ hợp các động tác. Sau đó người
xếp đầu hàng sẽ chạy xuống vị trí cuối hàng, người thực hiện đầu tiên sẽ chạy
xuống theo và yêu cầu, người tập tiếp theo sẽ thực hiện tương tự 5 động tác
bật nhảy hoặc một nhóm tổ hợp các động tác, cứ thế tuần tự thực hiện, cho
đến khi người yêu cầu đầu tiên quay trở lại vị trí đầu hàng , HLV có thể đứng
đầu hàng để nhận xét và sửa các động tác sai.
Tập theo khẩu lệnh: Khi tập theo nhóm, người tập sẽ vừa thực hiện
động tác, vừa hô nhịp, mỗi một động tác được thực hiện trong một lần 8 nhịp,
ví dụ: khi hô 1,2: hơi trùng gối hai chân, hai tay nắm hờ gập trước ngực, cẳng
tay đan chéo vào nhau, đầu cúi; khi hô 3,4: hai chân thẳng, khép, hai tay
chếch trên bên, đầu ngẩng, ngực ưỡn căng; khi hô 5,6: bật nhảy trên không;
hô 7,8: tiếp đất, kết thúc động tác. Yêu cầu người tập nắm vững nhịp phách,
động tác bảo đảm độ cao nhất định, như thế mới dễ dàng nhận xét được người
64
tập có sử dụng động tác chuẩn bị tương tự ở mỗi lẫn thực hiện hay thời cơ bật
nhảy, độ cao đồng nhất của tay cùng những yếu tố khác. Động tác tay sai sẽ
khiến người tập mất đi tính đồng bộ của các động tác ở những lần thực hiện
khác nhau, khi sử dụng khẩu lệnh trong thực hiện động tác bật nhảy, cần ưu
tiên chú trọng đến tính chuẩn xác và đồng nhất của động tác tay.
5.5. Những điểm cần chú ý khi thực hiện các động tác bật nhảy
Chất lượng động tác là sự thể hiện một cách toàn diện nhất đối với
nhóm động tác bật nhảy. Khi hướng dẫn động tác bật nhảy, HLV cần đưa ra ý
kiến phù hợp với đặc điểm của từng cá nhân, ví dụ: Lần thứ nhất tập trung
vào yếu lĩnh một động tá nào đó như: Duy trì độ cao của đầu và ngực; lần
nhắc nhở tiếp theo có thể chú trọng đến yêu cầu khác như: duỗi thẳng mũi
chân, đầu gối…
Những điểm cần chú ý trong khi tập các động tác bật nhảy bao gồm:
- Khi giậm nhảy, cần hơi co gối, lực được phát từ nửa trước bàn chân
quá độ lên cả chân.
- Khi giậm nhảy không nên thực hiện giậm nhảy thử, cũng không nên
tùy ý di chuyển trọng tâm cơ thể.
- Trong suốt quá trình bật nhảy, cần giữ đúng vị trí của đầu, đầu không
được cúi.
- Gồng chắc các nhóm cơ vùng lưng bụng.
- Trên cơ sở bảo đảm tốt chất lượng động tác, nâng dần độ cao thực
hiện động tác trên không.
- Lực nên được phát từ bàn chân, đến đùi và truyền lên cánh tay.
- Giữ phần đầu, ngực và lưng cùng trên một đường thẳng.
- Duy trì tư thái trên không, nhất là tư thế của mũi chân và khớp gối.
- Bắt đầu, thực hiện và kết thúc của động tác tay cần rõ ràng, dứt
khoát.
65
- Biểu đạt của gương mặt nên toát lên diện mạo tinh thần vui tươi,
rạng rỡ.
6. Các động tác thăng bằng và quay
6.1. Phân tích kỹ thuật thăng bằng
Thăng bằng: Là một loại kỹ xảo giúp bảo đảm độ ổn định của cơ thể
cần có khi hoàn thành động tác, khả năng thăng bằng tốt hay kém có ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng các động tác theo bài cao hay thấp. Động tác
thăng bằng yêu cầu cơ bắp phải có độ căng và tính kết hợp nhất định. Ngoài
ra, nó còn hỗ trợ tăng cường cảm giác thăng bằng cho cơ thể tại các vị trí
trong không trung và có yêu cầu đặc biệt đối với cơ quan tiền đình.
Thăng bằng được chia thành hai nhóm lớn đó là thăng bằng tĩnh và
thăng bằng động.
Thăng bằng tĩnh: Ý chỉ thăng bằng của tất cả các tự thế tĩnh mà cơ thể
hoàn thành khi trên mặt đất hay trên các dụng cụ tập. Nhân tố ảnh hưởng
quyết định đến thăng bằng tĩnh gồm trọng tâm cao hay thấp của cơ thể, diện
tiếp xúc to hay nhỏ.
Thăng bằng động: Ý chỉ tư thế ổn định tức thì của cơ thể trong không
trung. So với thăng bằng tĩnh, độ khó khi hoàn thành động tác của thăng bằng
động lớn hơn. Nhân tố ảnh hưởng đến thăng bằng động bao gồm: mức độ
khống chế lực của cơ bắp, thự tự dùng lực của cơ bắp, thời điểm dùng lực của
cơ bắp.
6.2. Phân tích kỹ thuật quay
Kỹ thuật quay chia thành: Kỹ thuật động lực quay, kỹ thuật ổn định
khi quay và kỹ thuật dừng khi quay.
Kỹ thuật động lực quay: Có 2 nguồn động lực khi quay: Thứ nhất, đó
là lực hướng lên được sinh ra theo phương của trục dọc sau khi trọng tâm cơ
thể hạ thấp; thứ hai, đó là lực khi cơ co tạo thành gia tốc khiến cơ thể chuyển
động.
66
Kỹ thuật ổn định khi quay: Yếu tố then chốt của độ ổn định khi quay
chính là khống chế giữa trục với mặt phẳng của cơ thể. Trước tiên, khi phát
lực, trọng tâm cơ thể phải nhanh chóng giữ được ổn định tại trục vuông góc,
trong quá trình quay, thông qua co cơ, khiến các khớp duy trì được trạng thái
ổn định tương đối, đồng thời vai, hông, đùi, chân phải luôn bảo đảm ở trong
cùng một mặt phẳng.
Kỹ thuật dừng khi quay: Khi dừng quay, sử dụng phương pháp hạ
thấp trọng tâm cùng tăng diện tiếp xúc để bảo đảm độ ổn định của động tác
dừng khi quay.
6.3. Các hoạt động thăng bằng cơ bản ( Hình 3-18)
Hình 3-18
6.4. Ổn định thăng bằng khi lệch trọng tâm trong thực hiện động
tác thăng bằng và quay
67
Khi trọng tâm bị lệch trong quá trình vận động, chức năng sinh lý của
cơ thể sẽ phát huy khả năng tự khống chế thăng bằng, đồng thời, tận dụng
căng duỗi và co gập của cơ thể khiến trọng tâm thay đổi, từ đó điều chế thăng
bằng. Xét theo ý nghĩa của một khía cạnh nào đó, thì quá trình “thăng bằng -
mất thăng bằng - tạo lại thăng bằng” này của cơ thể, thể hiện được nét đẹp
mạo hiểm và vẻ đẹp khi chuyển động của thể dục cổ động. Do đó, khi tập
luyện, có thể xây dựng một số động tác lệch trọng tâm, nhằm nâng cao khả
năng thăng bằng và độ ổn định cho người tập.
6.4.1. Các động tác mẫu
Gập cao gối một chân, khống chế chân còn lại (hình 3-19)
Phương pháp động tác: Tư thế chuẩn bị, hai chân đứng trước sau, hai
tay buông lỏng tự nhiên dọc thân người, hóp bụng, thẳng lưng, mắt nhìn thẳng
về phía trước. Chân lăng đạp đất tạo lực, chân trụ đứng thẳng, đồng thời kiễng
gót chân; gập cao gối chân lăng, đùi song song với mặt đất, mũi chân duỗi
thẳng; hai tay chếch trên bên, lòng bàn tay nắm; giữ tư thế trong vòng 2 giây.
Các bước thực hiện:
- Thực hiện đứng một chân có điểm bám, vịn.
- Thực hiện đứng một chân không có điểm bám, vịn.
Hình 3-19
Ôm gối giữ thăng bằng một chân (hình 3-20)
68
Phương pháp động tác: tư thế chuẩn bị, hai chân khép, hai tay buông
lỏng tự nhiên, mắt nhìn về phía trước. Chân lăng đạp đất tạo lực, chân trụ
đứng thẳng, đồng thời kiễng mũi chân; nhanh chóng rút gối chân lăng, đùi
song song với mặt đất, mũi chân duỗi; hai tay ôm lấy cẳng chân cuả chân lăng,
giữ tư thế trong vòng 2 giây.
Các bước thực hiện:
- Thực hiện đứng một chân có điểm bám, vịn.
- Thực hiện đứng một chân không có điểm bám, vịn.
Hình 3-20
Đá chân thăng bằng trước (hình 3-21)
Phương pháp động tác: tư thế chuẩn bị, hai chân đứng trước sau, hai
tay buông lỏng tự nhiên, bụng hóp, lưng ưỡn, mắt nhìn thẳng về phía trước.
Chân lăng đạp đất tạo lực, chân trụ đứng thẳng; nhanh chóng đá chân lăng lên
cao, gối, mũi chân duỗi thẳng; hai tay bám vào cổ chân của chân lăng; giữ tư
thế trong vòng 2 giây
Các bước thực hiện:
- Đứng dựa vào tường thực hiện ôm gối một chân.
- Thực hiện ôm gối một chân có điểm bám, vịn.
- Thực hiện ôm gối một chân không có điểm bám, vịn.
69
Hình 3-21
Quay 3600 trên một chân (hình 3-22)
Phương pháp động tác: tư thế chuẩn bị, hai chân đứng trước sau, chân
phải ở trước và trùng gối, tay trái trên cao, tay phải sang ngang, bụng hóp,
lưng ưỡn, mắt nhìn thẳng về phía trước. Chân lăng đạp đất tạo lực, chân trụ
đứng thẳng; gập cao gối chân lăng, đùi song song với mặt đất, mũi chân duỗi
thẳng; khi thực hiện động tác xoay người, kết hợp với xoay đầu, hai tay gập
trước ngực, cẳng tay đan chéo vào nhau, tay nắm hờ, lòng bàn tay hướng ra
sau; sau khi quay 3600, hai chân khép thành tư thế đứng thẳng.
Các bước thực hiện:
- Tập đứng trên một chân.
- Tập quay 1/4, 1/2 vòng.
Hình 3-22
70
Đá trước giữ khống chế quay 3600 trên một chân (hình 3-23)
Phương pháp động tác: Tư thế chuẩn bị, hai chân đứng trước sau, chân
phải ở trước và trùng gối, tay trái trên cao, tay phải sang ngang, bụng hóp,
lưng ưỡn, mắt nhìn thẳng về phía trước. Chân lăng đạp đất tạo lực, chân trụ
đứng thẳng; nhanh chóng đá chân lăng lên cao, gối, mũi chân duỗi thẳng; khi
thực hiện động tác xoay người, kết hợp với xoay đầu, hai tay bám vào cổ chân
của chân lăng; sau khi quay người 3600, hạ thấp thu chân lăng về sát chân trụ
thành tư thế đứng thẳng.
Các bước thực hiện:
- Đứng dựa tường thực hiện động tác đá trước.
- Đá trước giữ khống chế tại chỗ.
- Đá trước giữ khống chế quay 1800.
- Đá trước giữ khống chế quay 3600.
Hình 3-23
6.4.2. Phương pháp tập luyện các động tác thăng bằng và quay
Trong thể dục cổ động, thăng bằng của cơ thể là một trong những
nhân tố quan trọng bảo đảm an toàn, ổn định và tính liên hoàn cho bộ môn
này. Khi vận động, trọng tâm sẽ thay đổi theo sự chuyển động của cơ thể, sinh
cơ học thể thao đã chỉ ra: “lực được sinh ra trong quá trình vận động cần hỗ
trợ duy trì ổn định cho trọng tâm”. Các phương pháp thường dùng để tập cho
nhóm động tác thăng bằng và xoay bao gồm:
71
Giảm diện tiếp xúc: Tăng diện tiếp xúc của tứ chi có thể phát triển
được độ thăng bằng của cơ thể, hai chân tiếp đất sẽ dễ giữ thăng bằng hơn
một chân tiếp đất, khi tiếp đất hai chân tách sẽ ổn định hơn hai chân chụm.
Nhằm nâng cao khả năng thăng bằng cho người tập, chúng ta có thể đảo
nghịch tư duy, sử dụng phương pháp huấn luyện giảm diện tích xúc, phương
pháp tập cụ thể như sau:
Kiễng gót hai chân (Hình 3-24 )
Tư thế chuẩn bị: Hai chân tách rộng bằng vai, hơi co khớp gối, thân
trên thẳng, bảo đảm tư thế cơ bản gồm ngực ưỡn, bụng hóp, lưng thẳng. Bắt
đầu tập: tư thế thân trên không thay đổi, kiễng gót chân, đồng thời gồng
cứng nhóm cơ phía trong của đùi và các cơ vùng mông, duy trì tư thế này
trong vòng 5 giây; Khi kết thúc: trở về tư thế chuẩn bị, có thể lặp lại nhiều
lần.
Hình 3-24
Kiễng gót một chân (Hình 3-25)
Tư thế chuẩn bị: Hai chân tách rộng trước sau, thân trên thẳng, bảo
đảm tư thế cơ bản gồm ngực ưỡn, bụng hóp, lưng thẳng. Bắt đầu tập: đẩy
mạnh chân sau và hơi co khớp gối, chân song song với mặt đất; chân trước
kiễng gót, duy trì tư thế này trong vòng 5 giây; Khi kết thúc: trở về tư thế
chuẩn bị, có thể lặp lại nhiều lần.
72
Hình 3-25
Các bài tập trên bóng (bóng Yoga hay bóng tập thể hình)Hình 3-26
Tận dụng trạng thái không ổn định của bóng để tăng cường khống chế,
điều tiết của cơ bắp và khả năng thăng bằng cho cơ thể. Người tập có thể tận
dụng tối đa đặc điểm này của bóng, từng bước luyện tập khả năng thăng bằng,
ví dụ người tập có thể bắt đầu với tư thế ngồi sao cho thật ổn định trên bóng,
sau đó mới tăng dần độ khó.
Hình 3-26
Nâng cao trọng tâm: Khi vận động, trọng tâm càng thấp, độ ổn định
càng cao. Đứng thẳng thăng bằng dễ hơn so với bật nhảy, nhưng đứng tấn sâu
lại dễ giữ thăng bằng hơn so với đứng thẳng. Vì vậy, trong quá trình huấn
73
luyện, chúng ta có thể đảo nghịch tư duy, sử dụng phương pháp nâng cao
trọng tâm để tập khả năng thăng bằng, phương pháp tập cụ thể như sau:
Bài tập kiễng gót (Hình 3-27 )
Tư thế chuẩn bị: Hai chân dang rộng bằng vai, đứng tấn thấp; Khi bắt
đầu tập luyện, hai chân duỗi thẳng, thân trên thẳng, đồng thời kiễng gót chân;
khi kết thúc trở về tư thế chuẩn bị. Khi thực hiện thành thục, có thể tăng dần
độ khó của động tác, chi dưới từ kiễng gót chân tách thành kiễng gót chân
chụm.
Hình 3-27
Bài tập bật nhảy: (Hình 3-28)
Tư thế chuẩn bị: Co gối, đứng tấn thấp, tay chống hông, lòng bàn tay
nắm hờ. Khi bắt đầu, hai chân lấy mặt đất làm điểm tựa, duỗi thẳng khớp gối,
bật cao tại chỗ, tay di chuyển theo quán tính lên trên; khi tiếp đất co khớp gối
để hoãn xung; Kết thúc: trở về tư thế chuẩn bị, có thể lặp lại nhiều lần.
Hình 3-28
74
7. Kỹ thuật trồng chuối
Trồng chuối là cơ sở của các động tác nhào lộn có độ khó cao trong
thể dục cổ động, nó cũng là động tác cơ bản nhất thuộc nhóm động tác mang
tính kỹ xảo trong thể dục cổ động. Thông qua huấn luyện động tác trồng
chuối, ngoài tăng cường sức mạnh làm trụ cho chi trên và tăng cao khả năng
phối hợp chi trên với chi dưới ra, còn có một chức năng nổi bật phải kể đến,
đó là rèn luyện và nâng cao khả năng phân tích của cơ quan tiền đình (hay còn
gọi là cơ quan thăng bằng) ở đại não, bồi dưỡng cảm giác phương hướng rõ
ràng cho VĐV khi đầu ở vị trí hướng xuống dưới.
7.1. Kỹ thuật lăng chuối tay dựa tường
7.1.1. Phương pháp động tác
Tư thế chuẩn bị: Đứng mặt hướng vào tường, cách tường khoảng 1,5
bước.
Quá trình thực hiện động tác: Chân trái bước lên trước 1/2 bước, đồng
thời hai tay đưa về trước, ngón tay hướng lên trên, hơi tách, lòng bàn tay hướng
ra trước, mắt nhìn theo ngón tay cái (hình 3-29).
Thân trên hơi gập, hai tay chống xuống đất, về trước và cách chân
khoảng 30 - 50cm, khoảng cách của hai tay rộng bằng vai, hơi ngẩng đầu, các
ngón tay hướng về phía tường (hình 3-30)
Chân phải lăng từ sau lên trên, đến khi đạt được góc lớn nhất, chân trái
dùng sức đạp mạnh rời khỏi mặt đất, khi cơ thể gần với vị trí vuông góc với mặt
đất, khép chân trái vào chân phải thành tư thế trồng chuối (hình 3-31, 3-32)
Hình 3-29 Hình 3-30 Hình 3-31 Hình 3-32
75
7.1.2. Những điểm cần chú ý
Khi trồng chuối, cần bảo đảm cánh tay luôn duỗi thẳng, mắt nhìn theo
tay, lưng thẳng.
Tránh nín thở hoặc thở bằng miệng, cần duy trì nhịp thở nhẹ nhàng, ổn
định.
Thời gian thực hiện động tác cần tăng dần theo trình tự, nhưng không
nên quá dài. Nhất là đối với người mới tập, thời gian trồng chuối cần thích
đáng, nhằm tránh cơ thể tổn thương. Thời gian thực hiện động tác hợp lý nhất là
khoảng 1-2 phút. Trồng chuối với thời gian quá dài, rất dễ gây nên hiện tượng
máu tụ ở phần đầu và cánh tay, khiến cơ bắp chi trên tê cứng. Do đó, thời gian
trồng chuối chỉ nên duy trì 1-2 phút, kết hợp thêm động tác chống đẩy hay các
bài tập sức mạnh khác, điều này mang lại hiệu quả và rất có lợi đối với tăng
cường sức mạnh cho chi trên.
7.1. 3. Phương pháp giúp đỡ
Khi mới bắt đầu tập trồng chuối, do động tác phát lực không hài hòa,
rất khó tự hoàn thành động tác mà không có sự trợ giúp, cho nên rất cần đến
sự giúp đỡ của HLV. HLV đứng về một bên của VĐV, khi VĐV đá chân
thực hiện động tác trồng chuối, đỡ chân lăng lăng lên trên và cố định khi
chân đã chạm tường, sau đó giúp chân trụ nhanh chóng đuổi kịp đến vị trí
trồng chuối, cuối cùng giúp cố định hai chân, giữ ở vị trí trồng chuối (hình
3-33)
Hình 3-33
76
7.2. Kỹ thuật lăng chuối tay
7.2.1 Phương pháp động tác
Lăng chuối tay được thực hiện trên cơ sở thành thạo động tác lăng
chuối tay dựa tường, từ dùng mũi chân dựa tường dần dần quá độ sang chỉ sử
dụng cánh tay làm điểm trụ (hình 3-34)
7.2.2 Sai lầm thường mắc
Trọng tâm cơ thể đổ về trước (hình 3-35)
Trọng tâm cơ thể ngả ra sau (hình 3-36)
Hình 3-34 Hình 3-35 Hình 3-36
Bất luận xuất hiện tình huống nào kể trên, đều phải chống chắc tay
xuống đất, đầu hơi ngẩng, nâng mông, hai chân thẳng, mũi chân duỗi, giúp
kéo trọng tâm cơ thể hướng lên trên, đồng thời sử dụng lực ép từ cánh tay để
điểu chỉnh thăng bằng cho cơ thể, nhằm khắc phục hiện tượng trọng tâm cơ
thể di chuyển. Ví dụ: khi trọng tâm cơ thể đổ về trước, nên ngẩng đầu để khắc
phục tình trạng trên, dùng sức mạnh của cổ tay duy trì thăng bằng; Nếu trọng
tâm ngả ra sau, thì nên hơi cúi đầu, đưa vai về trước, dùng sức của các ngón
tay bám chặt vào mặt đất để duy trì thăng bằng.
7.3. Kỹ thuật chuối đầu
7.3.1 Phương pháp động tác
Tư thế chuẩn bị: Ngồi xổm, hai tay chống đất (hình 3-37)
77
Quá trình thực hiện động tác: Cơ thể di chuyển về trước, đặt trán về
phía trước hai tay, hai tay và đầu tạo thành hình tam giác đều(hình 3-38)
Mũi chân rời đất, hai chân duỗi thẳng lên trên, duỗi mũi chân, nâng
mông, mở hông, thẳng lưng, thành tư thế trồng chuối (hình 3-39)
7.3.2. Sai lầm thường mắc
Sức mạnh khi rời đất của chân quá lớn, khiến cơ thể đột ngột đổ về
trước rồi ngã.
7.3. 3. Phương pháp giúp đỡ
HLV đứng về một bên của VĐV, đợi khi chân VĐV rời đất, đỡ phần
bụng và lưng, nhằm tránh cơ thể VĐV đổ về trước (hình 3-40).
Hình 3-37 Hình 3-38 Hình 3-39 Hình 3-40
7.4. Kỹ thuật dùng sức chuối tay chụm chân
7.4.1 Phương pháp động tác
Tư thế chuẩn bị: Ngồi xổm, hai tay đặt trước mũi chân, mắt nhìn thẳng
về trước
Quá trình thực hiện động tác: Tay thẳng, chống đất, vai và lưng cùng
di chuyển về trước, trọng tâm cơ thể dồn lên hai vai, nâng hông va eo, chân từ
tư thế co dần dần chuyển sang duỗi thẳng, mở hông, tạo thành động tác trồng
chuối ( hình 3-41)
Sử dụng sức mạnh từ hai tay làm điểm chống tựa, co từ từ hai chân rồi
hạ thấp, tiếp đất bằng lòng bàn chân.
7.4.2. Sai lầm thường mắc
78
Hai chân rời đất quá mạnh hoặc động tác nâng mông quá sớm, dễ gây
nên hiện tượng đổ về trước.
Sau khi chụm chân, không kịp khống chế.
7.4. 3. Phương pháp giúp đỡ
Các học viên huấn luyện viên đứng bên khi các học viên được đỡ
chân, bụng và lưng dưới hỗ trợ để ngăn chặn phía trước nghiêng ( Hình
3-42 ) .
Hình 3-41 Hình 3-42
7.5. Kỹ thuật dùng sức chuối tay dạng chân.
7.5.1. Phương pháp động tác
Tư thế chuẩn bị: hai chân dang rộng, hơi rộng hơn so với vai (hình 3-43)
Quá trình động tác: Gập thân, cánh tay duỗi thẳng, chống đất, nâng eo
và hông (hình 3-44)
Sau khi hai chân rời đất, thì tách chân, xoay hông từ dưới lên trên
(hình 3-45)
Khép hai chân tạo thành động tác trồng chuối (hình 3-46)
7.5.2. Những điểm cần chú ý
Hai chân không được chủ động rời đất và khi duỗi không được co
khớp gối, như vậy mới có thể tập được nhóm cơ vùng lưng bụng cùng sức
mạnh chống trụ của cánh tay.
79
HLV đứng đối diện VĐV. Đợi khi VĐV gập thân, hai tay chống đất,
HLV dùng tay đỡ vào hai bên hông, cùng lúc chân VĐV rời đất, nâng mông,
giúp VĐV thực hiện trồng chuối. Sau khi VĐV trồng chuối, HLV giữ lấy
cẳng chân VĐV, giúp duy trì thăng bằng (hình 3-47)
Hình 3-43 Hình 3-44 Hình 3-45 Hình 3-46 Hình 3-47
8. Kỹ thuật nhào lộn
Động tác tính kỹ xảo nhóm nhào lộn là động tác thể hiện độ khó của
kỹ xảo thường thấy nhất trong thể dục cổ động. Động tác nhóm nhào lộn được
sử dụng trong thể dục cổ động với mục đích tạo nên hiệu quả thị giác cùng thể
hiện năng lực và kỹ xảo, do đó mục đích sử dụng có vài điểm khác với động
tác nhào lộn của thể dục
8.1. Lộn trước ôm gối
8.1.1. Phương pháp động tác
Tư thế chuẩn bị: Bắt đầu ngồi xổm.
Quá trình động tác: Kiễng gót chân, hai tay chống về trước của thân
người, cánh tay hơi co (hình 3-48)
Di chuyển trọng tâm về trước, khi đến hai tay, co cẳng tay, cúi đầu,
cuộn tròn lần lượt qua phần sau đầu, gáy, lưng, mông, gót chân thực hiện
động tác lộn về trước (hình 3-49).
80
Khi cơ thể lộn đến phần lưng tiếp đất, thuận theo tư thế co gối ôm đùi.
Cố gắng sao cho phần gối và ngực ép sát vào nhau (hình 3-50)
Khi hai chân tiếp đất, cánh tay xốc lên cao, lưng thẳng, đồng thời duỗi
hai chân, tạo thành động tác chuẩn bị khi đứng (hình 3-51)
Hình 3-48 Hình 3-49 Hình 3-50 Hình 3-51
8.1.2. Những điểm cần chú ý
Trong quá trình lộn, trình tự tiếp đất như sau: Phần sau đầu, gáy, lưng
và cuối cùng là mông.
Khi lộn đầu phải cúi, lực đẩy của hai tay phải cân đối, đồng đều
8.1. 3. Phương pháp giúp đỡ
HLV đứng về một bên của VĐV, đợi khi VĐV lộn về trước, dùng tay
ép phần lưng của VĐV, tay kia đẩy mông, phụ giúp VĐV thực hiện lộn về
trước, sau đó giữ phần hông giúp VĐV đứng chắc (hình 3-52)
Hình 3-52
81
8.2. Lộn trước ôm gối có đà.
8.2.1. Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng sau đó hơi co gối, 2 tay đưa về
sau chếch lên cao.
8.2.2. Kỹ thuật động tác: Hai tay đưa về trước, đồng thời hai chân
đạp đất nhảy với về trước (chân và mông phải cao hơn vai), hai chân thẳng
khép chặt, ngực hóp khi bàn tay chạm thảm nhanh chóng cúi đầu lộn về trước
dùng sức ghìm đặt từ gáy – lưng đến mông xuống thảm. Lúc lưng chạm
nhanh chóng co gối đứng dậy (Hình 3-53).
Hình 3-53. Lộn trước ôm gối có đà
* Chú ý :
- Quá trình thực hiện động tác toàn thân cần được khống chế chắc
chắn, tránh thả lỏng.
- Khi nhảy với phải đạp thẳng hết chân theo hướng ra trước và lên cao.
- Hình thành được giai đoạn bay trên không trước khi chống tay.
8.2.3. Sai lầm thường mắc
- Không đạp hết chân và co sớm.
- Đạp nhoài ra trước, không đạp lên cao hay ngược lại.
- Khi đạp chân, không nâng được mông và chân lên cao hơn vai.
- Không cúi đầu và hay thả lỏng.
Chính vì những nguyên nhân trên khiến động tác không gọn nhẹ mà
thường bị đập lưng xuống thảm mạnh.
82
8.2.4. Bảo hiểm và giúp đỡ: Người bảo hiểm quỳ bên cạnh người tập,
một tay đỡ vai để tránh người tập thả lỏng không ghìm tay, một tay sẵn sàng
tiếp thêm lực vào đùi nâng lên, để phòng trường hợp người tập đạp không
đúng phương hướng nhoài người về trước.
8.2.5. Các bước tập luyện
- Đầu tiên cho tập lộn xuôi tại chỗ, sau đó chống tay xa chân hơn để
có điều kiện đạp hết chân.
- Khi thực hiện đã tương đối thuần thục có thể tập nhảy với qua
chướng ngại để lộn xuôi như vậy sẽ nâng cao được chất lượng động tác.
8.3. Lộn sau ôm gối
8.3.1 Phương pháp động tác
Tư thế chuẩn bị: Bắt đầu từ ngồi xổm.
Quá trình động tác: Sau khi đổ thân người ra sau, hai tay lập tức dùng
sức đẩy khiến thân trên nhanh chóng ngả ra sau. Hai cánh tay co và đặt trên
vai, lòng bàn tay hướng lên trên, ngón tay hướng ra sau, kéo cơ thể lộn về
phía sau, hai chân co, đầu gối ép sát với phần ngực, hóp bụng, khiến phần
mông, lưng, vai, cổ, đầu lần lượt tiếp đất, cuộn tròn về sau (hình 3-54)
Hình 3-54
Khi cơ thể lộn đến phần vai tiếp đất, hai tay thuận theo tư thế chống
xuống đất, lòng bàn tay hướng về sau, ngón tay gần với phần vai.
83
Khi cơ thể lộn đến phần sau gáy, phía sau đầu tiếp đất, hai tay nhanh
chóng đẩy mạnh, tiếp đất bằng hai chân và ngồi thành tư thế ngồi xổm.
8.3.2. Những điểm cần chú ý
- Trước khi lộn sau, cùng lúc với trọng tâm cơ thể chuyển động về
trước, lập tức sử dụng hai tay chống xuống đất tạo lực, cơ thể nhanh chóng
ngả ra sau, thuận theo quán tính thực hiện động tác lộn sau.
- Trong quá trình lộn sau, bộ phận tiếp đất của cơ thể lần lượt sẽ là
phần mông, eo, lưng, vai, hai tay và cuối cùng là phần sau đầu.
- Để giảm nhẹ khối lượng của phần đầu khi tiếp đất, hai tay chống
xuống đất cần tốc độ và có lực, khiến phần phía sau đầu tiếp đất một cách nhẹ
nhàng.
8.3.3. Phương pháp giúp đỡ
HLV đứng về một bên của VĐV, đặt tay lên vị trí eo của VĐV, giúp
VĐV hoàn thành động tác.
8.4. Lộn sau trồng chuối
8.4.1. Phương pháp động tác
Tư thế chuẩn bị: Bắt đầu từ động tác ngồi xổm. Thực hiện động tác
lộn sau ôm gối, khi cơ thể cuộn tròn đến lúc phần đầu tiếp đất, dùng sức của
hai tay làm trụ, ngẩng đầu; đồng thời duỗi hông và hai chân nhanh chóng duỗi
thẳng lên trên, mũi chân duỗi, lưng thẳng, duỗi hông, khiến cơ thể sau khi lộn
sau thành tư thế trồng chuối (hình 3-55)
Hình 3-55
84
8.4.2. Những điểm cần chú ý
- Khi hai tay chống trụ, động tác ngẩng đầu, duỗi hông và hai chân
duỗi thẳng lên trên phải được thực hiện cùng lúc.
- Khi lộn sau trồng chuối, dùng sức của hai tay làm trụ cùng với thẳng
lưng để khống chế cơ thể.
8.4. 3. Sai lầm thường mắc
- Sau khi tay chống đất làm trụ, động tác duỗi chân quá sớm hoặc quá
muộn đều dẫn đến xu hướng cơ thể đổ về trước hoặc ngả ra sau.
- Sau khi trồng chuối, cánh tay hơi co và có thể di chuyển.
8.4.4. Phương pháp giúp đỡ
HLV đứng ở phía chếch sau của VĐV, đợi khi VĐV thực hiện lộn sau
đến duỗi thẳng chân, lập tức nắm hai cổ chân VĐV kéo lên trên, giúp VĐV
hoàn thành động tác trồng chuối (hình 3-56)
Hình 3-56
8.5. Lộn nghiêng chống tay
8.5.1. Kỹ thuật động tác
Động tác lộn nghiêng chống tay thực hiện bên trái, (phải) trên một
đường thẳng đứng. Tư thế kết thúc hai tay dang ngang, hai chân dạng rộng
bằng vai. Muốn thực hiện động tác lộn nghiêng chống tay đúng, cần bắt đầu
từ chống tay trái trước (nếu thực hiện lộn sang trái), chân và tay đều đặt trên
85
một đường thẳng,hai chân xoạc rộng trên không. Thực hiện chống từng tay,
lăng một chân duỗi hông, đẩy tay liên tục và giậm bật một chân lên kết thúc
tay dang ngang hoặc chếch cao, đầu ngửa (Hình 3-57).
Hình 3-57 Lộn nghiêng chống tay
8.5.2. Phương pháp giảng dạy
- Chuối ngang xoạc hai chân rộng, thân người thẳng.
- Từ tư thế chuối xoạc ngang,có giúp đỡ hạ từng chân, đẩy từng tay,
thành tư thế hai chân dạng ngang, hai tay ngang, trên một đường thẳng song
song mặt đất.
- Thực hiện toàn bộ động tác lộn nghiêng chống tay, có bảo hiểm giúp
đỡ. Sau đó thực hiện.
8.5.3. Sai lầm thường mắc: Cúi đầu, gập hông và chống tay sai vị trí.
8.5.4. Bảo hiểm giúp đỡ: Đứng bên cạnh quan sát và di chuyển theo
người tập. Nếu lộn nghiêng chống tay bên trái, người cùng tập tay trái đón đỡ
lườn, tay phải đỡ vai, Cũng có thể hai tay đỡ lườn người tập.
8.6. Kỹ thuật lộn trước dậy thẳng chân
8.6.1. Kỹ thuật động tác
Tư thế chuẩn bị : Đứng nghiêm. Hai tay đưa ra sau, chân khuỵu, thân
hơi đổ trước. Đạp mạnh chân, hai tay đánh về trước, tạo giai đoạn bay trên
không, hông hơi gập,mất nhìn theo tay, đầu ngửa. Chuẩn bị tiếp đất, đầu cúi, ,
chống cả bàn tay,gập thân thực hiện lộn xuôi nhanh. Khác với lộn xuôi bó
gối, chân duỗi thẳng, thân người sau khi lăn qua lưng, gập nhanh về phía
86
trước, hai tay chuyển về trước, chống sát kheo chân, đẩy vuốt ra sau gập thân
sâu lao về trước. Đứng dậy chân thẳng, thân người duỗi lên cao, hai tay đưa
lên cao , đầu ngửa.
8.6.2. Phương pháp giảng dạy
- Đứng hoặc ngồi gập thân tập mô phỏng chậm động tác.
- Nhảy với lộn xuôi kỹ thuật đúng.
- Lộn xuôi dậy thẳng chân từ đệm đặt đầu cao, đầu thấp.
- Lộn xuôi dậy thẳng chân, có giúp đỡ.
8.6.3. Sai làm thường mắc
- Lộn xuôi không đúng kỹ thuật.
- Chân co khi làm động tác.
8.6.4. Bảo hiểm giúp đỡ: Người giúp đỡ quỳ bên cạnh, ở nửa thứ hai
của động tác, tay đẩy sau đùi, tiếp sức ở thời điểm cuối cho người tập dứng
dậy thẳng chân.
8.7. Lộn chống nghiêng quay 900.
8.7.1. Kỹ thuật động tác
Động tác lộn nghiêng chống tay thực hiện bên trái (phải), trên một mặt
phẳng thẳng đứng. Tư thế chuẩn bị hai tay dang ngang hoặc chếch cao.Bước
một chân về trước để tạo đà, bàn chân hơi mở ra ngoài, hai tay trên cao đổ
người về trước tay chống xuống thảm, chân và tay đều đặt trên một đường
thẳng tưởng tượng đồng thời lăng chân duỗi hông ra sau lên cao về trước,
thân người thẳng, hai chân xoạc rộng trên không, tiếp tục đẩy tay cho thân
người đổ về trước. Chân lăng rơi xuống trước chân còn lại ke, dồn trọng
tâm lên chân trụ, lúc này người tập duỗi hông quay người 900 từ mũi chân ke đến
toàn thân và miết chân ke về tư thế ban đầu.
8.7.2. Phương pháp giảng dạy
- Chuối ngang xoạc hai chân rộng, thân người thẳng.
87
- Từ tư thế chuối xoạc ngang, hạ từng chân, đẩy từng tay, thành tư thế
thăng bằng nghiêng hai tay trên cao, trên một đường thẳng song song mặt đất.
- Thực hiện toàn bộ động tác lộn nghiêng chống tay quay 900, có bảo
hiểm giúp đỡ.
8.7.3. Sai lầm thường mắc :
- Chân tay không nằm trên một đường thẳng tưởng tượng.
- Gập hông thả lỏng, co chân và chống hai tay cùng một lúc, đẩy tay
duỗi hông chậm.
- Quay người không đúng phương hướng khi thực hiện động tác.
8.7.4. Bảo hiểm giúp đỡ : Đứng bên cạnh người tập. Nếu lộn nghiêng
chống tay bên trái, người cùng tập tay trái đỡ lườn tay phải đỡ vai. Cũng có
thể hai tay đỡ lườn người tập.
8.8. Lộn chống trước xuống một chân
8.8.1. Kỹ thuật động tác
Sau khi chạy đà ra trước, bước một chân về trước, gập thân hóp ngực,
hai tay chuẩn bị chống đất, hai chân hơi chùng co ở khớp gối. Khi hai tay
chạm đất, hai chân thẳng, lăng chân nhanh ra sau lên trên qua tư thế chuối
tách chân, đầu hơi ngửa. Khi thân người đã qua phương thẳng đứng, đẩy tay
nhanh tiếp tục lộn về trước duỗi căng hông, đầu giữ thẳng thành tư thế đứng
trên một chân, hai tay lên cao chân trụ hơi chùng. Tiếp đất bằng mũi chân, sau
đó là cả bàn chân (Hình 3-58).
Hình 3-58. Lộn chống trước xuống một chân
88
8.8.2. Phương pháp giảng dạy:
- Tập đổ dẻo trước một chân.
- Lăng chuối đẩy tay vào tường và trên thảm.
- Thực hiện động tác bật cầu một chân có người bảo hiểm giúp đỡ.
Sau đó tự thực hiện.
8.8.3. Sai làm thường mắc: Đổ vai về trước, tay chống co, cúi đầu,
đẩy tay duỗi hông chậm.
8.8.4. Bảo hiểm giúp đỡ: Di chuyển theo người tập một tay đỡ vai,
một tay dỡ lưng.
8.9. Kỹ thuật lộn trước thành chống
8.9.1. Kỹ thuật động tác
Giai đoạn đầu giống như bật cầu một chân. Sự khác biệt là ở chỗ chân
lăng nhanh và gặp nhau khép chân ở tư thế chuối tay. Ở giai đoạn hai, đẩy tay
thân người bay ở tư thế chân lăng ra sau, hai tay lên cao, đầu ngửa. Tiếp đất
bằng nữa bàn chân trên, sau đó là cả bàn chân, đầu gối hơi chùng (Hình 3-59).
8.9.2. Phương pháp giảng dạy:
- Lăng chuối đẩy tay dựa tường và trên thảm.
- Lăng chuối khép chân, đẩy tay ở tư thế nằm ngửa trên tay người bảo
hiểm đứng đối diện.
- Kê 5 - 6 đệm cao lăng chuối, đẩy tay nằm ngửa trên đệm.
- Thực hiện toàn bộ động tác, có người giúp đỡ.
8.9.3. Sai lầm thường mắc: Cúi đầu lao vai về trước và không tạo
được giai đoạn bay trên không lần 2, đẩy tay duỗi hông chậm.
8.9.4. Bảo hiểm giúp đỡ: Một tay đỡ vai một tay đỡ lưng.
89
Hình 3-59. Kỹ thuật lộn trước thành chống.
8.10. Đà Rolđat tiếp lộn chống sau
- Đà Rolđat.
8.10.1. Kỹ thuật động tác
Sau khi chạy đà, thực hiện động tác ở giai đoạn một như giai đoạn
một của động tác lộn nghiêng chống tay, nhưng tay không chống trên một
đường thẳng mà để chéo tay qua hướng chân dậm, khi qua tư thế chuối tay
trên không hai chân khép lại đồng thời xoay người. Tiếp theo tích cực đẩy tay,
gập nhanh khớp hông sâu, hai bàn chân vào sát điểm chống tay. Kết thúc
động tác, hông hơi gập, người quay về hướng ngược lại hướng ban đầu (Hình
3-60).
Hình 3-60. Đà Rolđat
8.10.2. Cách thực hiện
- Lộn nghiêng chống tay.
90
- Từ chuối đẩy tay quay người gập thân.
8.10.3. Sai lầm thường mắc
- Vươn ngực quay người chậm và không đúng hướng.
- Không tích cực đẩy tay gập hông.
8.10.4. Bảo hiểm giúp đỡ: Một tay đỡ vai một tay đỡ lưng.
- Lộn sau chống tay
8.10.5. Kỹ thuật động tác: Kết thúc đà Rolđat ở tư thế gập thân,
chùng gối, trọng tâm trôi về phía sau chủ động ngã vai và thân trên, hai tay
nhanh chóng đánh mạnh lên cao ra sau đầu ngửa duỗi chân đẩy hông nâng
trọng tâm (Hình 3-61).
Hình 3-61. Lộn sau chống tay
8.10.6. Cách thực hiện
- Đổ dẻo sau có người đỡ.
- Tạo đà bật lên cao - ngả sau trên đệm cao.
- Thực hiện động tác có người giúp đỡ.
8.10.7. Sai lầm thường mắc
- Không phối hợp được giữa đánh tay, duỗi hông lên cao, đầu cúi.
- Ngả vai sớm khi thực hiện.
8.10.8. Bảo hiểm giúp đỡ: Một tay đỡ vai một tay đỡ lưng.
91
Chương 4
KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG CÁC KỸ THUẬT LÊN THÁP CỦA THỂ DỤC
CỔ ĐỘNG
1. Kỹ thuật lên tháp cơ bản
1.1. Tạo hình kim tự tháp
Tạo hình kim tự tháp (Pyramid): Là tạo hình có dáng kim tự tháp được
hình thành bởi một hoặc nhiều người đỡ tháp làm nhiệm vụ tạo giá chống cho
một hoặc nhiều người lên tháp. Tổ hợp các thành viên trong tạo hình kim tự
tháp cùng nhau hỗ trợ, cùng liên kết với nhau tạo thành khối thống nhất. Yêu
cầu đối với tạo hình này là phải luôn duy trì ở trạng thái thẳng đứng vuông
góc với sàn biểu diễn.
Khi người lên tháp hoàn thành xuất sắc động tác kết thúc, sự kết nối
của các động tác riêng lẻ còn lại khác sẽ hình thành nên tạo hình kim tự tháp.
Kim tự tháp là một trong những kiểu tạo hình mới mẻ, thu hút sự chú ý của
khán giả nhất, góp phần tăng thêm sức ảnh hưởng cho toàn đội, lột tả được
khả năng kết hợp của tập thể đến với người xem. Tổ hợp của những động tác
lên tháp riêng lẻ sẽ hình thành nên được tạo hình kim tự tháp phức tạp, tiền đề
của một tạo hình kim tự tháp vững chắc và an toàn, đó là mỗi nhóm tạo hình
riêng lẻ phải tự hoàn hành nhiệm vụ của mình một cách độc lập. Chuẩn mực
động tác lên tháp riêng lẻ vẫn được áp dụng đối với tạo hình kim tự tháp,
nhưng VĐV bắt buộc phải hoàn thành tạo hình đơn giản trước, mới có thể quá
độ đến tạo hình phức tạp. Yêu cầu đầu tiên và trên hết đối với tạo hình kim tự
tháp đó là tính an toàn.
1.1.1. Tạo hình kim tự tháp một cách an toàn
Sau khi tạo hình riêng lẻ hoàn thành, các VĐV mới có thể thực hiện
tiếp động tác kết nối. Kim tự tháp cần rất nhiều VĐV để thực hiện, do đó sự
phối hợp giữa VĐV với nhau rất quan trọng. Khi lên và xuống tháp, VĐV
92
phải bắt buộc tập trung cao độ và nắm rõ thời gian thực hiện động tác, thực
hiện sao cho đồng bộ về thời gian. Khi lên tháp, thông thường sẽ phải tuân thủ
theo khẩu hiệu, nhịp nhất định. Khi mới thực hiện tạo hình kim tự tháp, cần
chọn một người hô khẩu hiệu, tốt nhất người hô khẩu hiệu này nên là thành
viên bảo hộ vị trí giữa đội hình, để mỗi thành viên trong đội đều có thể nghe
được khẩu hiệu hô. Động tác chỉ huy trong khẩu hiệu khi lên tháp phức tạp
thường dùng đó là: “1,2,3, lên”
Kết cấu tổng thể của kim tự tháp bao gồm người đỡ tháp, người lên
tháp và người bảo hộ. Các động tác của người lên tháp như tay nắm tay, vai
kề vai hoặc tay nắm vào cổ chân đều cần có sự hỗ trợ lẫn nhau để làm điểm
tựa. Nếu cần điểm tựa mà chỉ sử dụng động tác tay nắm tay hoặc kéo tay của
đồng đội, chắc chắn tạo hình sẽ bị nghiêng hoặc dễ đổ, điểm tựa hợp lý đó là
có độ cao ngang vai hoặc hơi thấp hơn vị trí của vai (ngoại trừ những tình
huống đặc biệt). Trước khi học lên tháp, mỗi một thành viên phải nắm rõ
nhiệm vụ của chính mình, nhiệm vụ tại từng vị trí của mỗi VĐV cùng chức
năng cá nhân khi thực hiện động tác lên tháp đơn giản đều quan trọng như
nhau. Chỉ khi từng VĐV nắm rõ và hoàn thành xuất sắc trách nhiệm của mình,
thì tạo hình tổng thể của kim tự tháp mới được an toàn và chắc chắn.
Tất nhiên, trong mỗi tạo hình ki tự tháp đều có nhiều động tác riêng lẻ
không giống nhau, sự khác biệt đó được thể hiện qua những phương diện dưới
đây:
Người đỡ tháp:
VĐV ở từng vị trí cần kết hợp chặt chẽ với nhau, nhưng khoảng cách
không được quá hẹp, nhằm tránh ảnh hưởng đến biên độ thực hiện động tác
của nhau.
Thực hiện động tác nâng người nhanh chóng, dứt khoát. Người đỡ
tháp bắt buộc phải căn cứ đúng theo khẩu hiệu, nhịp phách hoặc hiệu lệnh để
hoàn thành động tác, nhằm bảo đảm sự đồng bộ về thời gian.
93
Người lên tháp
Người lên tháp cần nắm vững và thuần thục những kỹ xảo liên quan,
điều này đặc biệt quan trọng đối với quá trình thực hiện tạo hình.
Người lên tháp cần khống chế tốt trọng tâm, tránh bị ngã, ảnh hưởng
đến những thành viên khác.
Người lên tháp có thể làm điểm tựa cho những thành viên còn lại tại vị
trí có độ cao hơn so với vai của mình.
Người bảo hiểm
Tập trung chú ý cao độ, chuẩn bị sẵn sàng đỡ người lên tháp tại những
vị trí đã được chỉ định.
Người bảo hiểm cần nắm rõ tình hình của tất cả những người lên tháp,
nếu người lên tháp không may bị rơi xuống, cần đỡ và bảo hiểm kịp thời
Trợ giúp kịp thời khi người đỡ tháp cần sự giúp đỡ, nhằm tạo độ kiên
cố cho tháp
Kim tự tháp cần người bảo hiểm cả phía trước lẫn phía sau, để bảo
đảm độ an toàn cần thiết, lực lượng bảo hiềm phải đầy đủ
Khi tiếp đất, những người thực hiện cần nắm rõ khẩu lệnh đồng thời
khống chế động tác hợp lý. Động tác thực hiện rõ ràng, quá trình động tác
phải bảo đảm an toàn, mỗi một thành viên đỡ tháp phải nắm bắt chính xác
thời gian và khẩu lệnh khi tiếp đất của người lên tháp.
1.1.2. Nguyên tắc chỉ đạo an toàn trong tạo hình kim tự tháp
Độ cao của tháp không vượt quá 2 người.
Mỗi một người lên tháp đều phải có một người bảo hiểm kèm theo.
Người lên tháp không được tự ý di chuyển vị trí thành viên phía dưới
tháp.
Người đỡ tháp và những thành viên khác không được hoán đổi vị trí,
đầu của người lên tháp không nên quá ngửa ra sau.
94
Tạo hình kim tự tháp không được xuất hiện bất kỳ động tác chống
chuối nào.
Khi người đỡ tháp làm nhiệm vụ chống trụ cho người lên tháp, phần
lưng không được ngửa ra sau.
Khi người đỡ tháp làm nhiệm vụ chống trụ, không được xuất hiện
động tác chống trụ bằng 1 chân.
1.2. Tổ hợp thành viên thực hiện động tác lên tháp
Thành viên ở vị trí trên cùng trong động tác lên tháp được xem là
những người giỏi nhất, đội ngũ này do một hoặc một nhóm người cùng nhau
hỗ trợ hoàn thành các động tác đứng trụ hoặc các dạng thăng bằng. Thành
viên ở vị trí dưới nhất trong động tác lên tháp được gọi là người đỡ tháp, vai
trò của nhóm người này chính là nhiệm vụ làm trụ, đồng thời trụ trách hỗ trợ
cho những người lên tháp tiếp đất. Trách nhiệm chính của người bảo hiểm là
giúp đỡ cho người lên tháp, đồng thời hỗ trợ người đỡ tháp và đồng đội trong
các động tác mang tính kỹ xảo, nhằm tăng thêm độ ổn định. Trong các động
tác mang tính kỹ xảo, người bảo hiểm bị khống chế về thời gian giúp đỡ, nêm
nhất định phải tập trung chú ý cao độ.
Nhóm động tác mang tính kỹ xảo được cấu thành bởi 3 vị trí cơ bản
gồm: người đỡ tháp, người lên tháp và người bảo hiểm. Thông thường, hai
hoặc nhiều hơn hai người sẽ tạo thành được giá đỡ, nhưng đối với một số kỹ
xảo đặc biệt chỉ cần một người cũng có thể đảm nhận được vai trò của người
đỡ tháp. Có khi kỹ xảo lên tháp cần đến hai người bảo hiểm một ở đằng trước
và một ở đằng sau nhằm tăng thêm độ ổn định muốn có, như vậy mới có thể
thực hiện động tác lên tháp một cách chuẩn xác, an toàn. Chỉ khi mọi người
đoàn kết hợp tác, phối hợp ăn ý, thì động tác lên tháp mới được an toàn, giữa
các đồng đội cũng sẽ xây dựng được niềm tin với nhau.
1.2.1. Người đỡ tháp
95
Người đỡ tháp được xây dựng bởi những thành viên làm nhiệm vụ
chống trụ cho đồng đội, trách nhiệm của người đỡ tháp đó là tạo nên giá đỡ
vững chắc, kiên cố, đồng thời hỗ trợ cho người lên tháp tiếp đất an toàn. Khi
đứng trên mặt đất, người đỡ tháp luôn ở trong tư thế chuẩn bị di chuyển, hơn
nữa còn phải sẵn sàng điều chỉnh tư thế nhằm bảo đảm độ ổn định cho động
tác lên tháp. Người đỡ tháp bắt buộc phải cố định, khống chế chắc đùi và cánh
tay khi đang thực hiện động tác. Người đỡ tháp cần sắp xếp thời gian một
cách tỉ mỉ và chính xác, thực hiện động tác chuẩn xác, nhẹ nhàng. Nếu 2
thành viên của nhóm người đỡ tháp đồng đều về cả chiều cao lẫn cân năng,
thì quá trình hoàn thành động tác tương đối ăn ý và thoải mái. Dưới đây là
một số yêu cầu kỹ thuật đối với người đỡ tháp:
- Ngực ưỡn, đầu ngẩng, lưng thẳng.
- Hai chân phải cố định.
- Khi đỡ, dùng sức của chân và phát lực theo phương hướng lên trên
- Khi có nhiều thành viên làm nhiệm vụ đỡ tháp, bắt buộc phải tựa sát
nhau trong suốt quá trình thực hiện, cự li giãn cách không được lớn hơn độ
rộng vai của đồng đội.
- Mắt phải nhìn theo đồng đội
- Khi hỗ trợ người lên tháp tiếp đất, vị trí đón phải cao
Phương pháp đứng và phương pháp nắm tay cơ bản của người đỡ
tháp.
Phương pháp đứng:
Đứng trên đùi: Mặt trong cánh tay của người đỡ tháp tỳ chắc vào phần
đùi hoặc đầu gối của người lên tháp, mặt ngoài cánh tay đẩy cao thành tay
kiểu Tây Ban Nha (hình 4-1)
Đứng trên vai: Khi người lên tháp đứng trên vai của người đỡ tháp,
tay người đỡ tháp tỳ chắc vào mặt trong cẳng chân người lên tháp nhằm duy
96
trì độ ổn định, đồng thời khuỷu tay hướng ra trước và bảo đảm luôn ở trong
trạng thái gồng chắc (hình 4-2)
Hình 4-1 Hình 4-2
Phương pháp nắm tay:
Kiểu bắt tay: Người đỡ tháp và đồng đội giữ liên kết theo kiểu tay bắt
tay (hình 4- 3)
Kiểu bốn ngón tay hướng ra trước: Mặt ngoài lòng bàn tay hướng lên
trên tỳ chắc vào cánh tay người lên tháp, mặt trong lòng bàn tay hướng lên
trên, bốn ngón tay hướng ra trước, ngón tay cái hướng ra sau đỡ vào hố nách
của người lên tháp (hình 4-4).
Hình 4- 3 Hình 4- 4
97
1.2.2. Người lên tháp
Trách nhiệm của người lên tháp là hoàn thành động tác tạo hình một
cách đẹp mắt. Yêu cầu người lên tháp cần có ý thức và khả năng khống chế
tốt. Khi thực hiện động tác, đòi hỏi người lên tháp thực hiện động tác tạo hình
phải ổn định, bao gồm từ rơi trong không trung đến khi toàn bộ động tác tạo
hình kết thúc. Dưới đây là một số yêu cầu kỹ thuật đối với người lên tháp:
- Trong quá trình lên tháp, cánh tay phải gồng chắc, nhằm tăng độ ổn
định cho cơ thể.
- Khi thực hiện động tác tạo hình, hai chân phải khép chặt, tránh
trường hợp khi tách rời, lực của chân sẽ đẩy các thành viên thuộc nhóm người
đỡ tháp ra.
- Khi giữ động tác tạo hình, phải hóp bụng, thẳng lưng, giữ chắc phần
hông.
- Vai, hông, khớp gối và cổ chân phải nằm trên một đường thẳng, duy
trì độ cố định tổng thể.
1.2. 3. Người bảo hiểm
Trách nhiệm chính của người bảo hiểm là giúp đỡ người lên tháp.
Người bảo hiểm luôn phải đứng ở dưới đất, phối hợp với người đỡ tháp và
người lên tháp trong quá trình thực hiện giúp tăng độ ổn định cần có. Do
người bảo hiểm bị khống chế về thời gian giúp đỡ, nên họ phải tập trung chú
ý cao độ, giúp đỡ kịp thời cho người lên tháo, tránh xảy ra những sự cố đáng
tiếc. Dưới đây là một số yêu cầu kỹ thuật đối với người bảo hiểm:
- Tập trung chú ý.
- Mắt nhìn theo người lên tháp.
- Khi đỡ tiếp đất, đứng ngay tại vị trí của người lên tháp.
- Hỗ trợ khống chế động tác lên tháp.
- Căn cứ theo yêu cầu động tác, bảo hiểm kịp thời cho người lên tháp.
98
2. Phân loại và yêu cầu đối với nhóm động tác lên tháp
Động tác lên tháp là một kỹ xảo đặc biệt trong thể dục cổ động, mục
đích ban đầu của việc ứng dụng động tác này đó là thực hiện giao lưu, hoạt
náo đối với những khán giả ngồi ở vị trí khá xa khi xem thi đấu. Phân loại
động tác lên tháp như sau:
Bảng 4.1. Phân loại động tác lên tháp
Phân loại lên tháp
Lên tháp vị trí hông Lên tháp vị trí vai Lên tháp vị trí cao
Lên tháp vị trí hông một Lên tháp vị trí vai một Lên tháp vị trí cao một
người đỡ người đỡ người đỡ
Lên tháp vị trí hông hai Lên tháp vị trí vai hai Lên tháp vị trí cao hai
người đỡ người đỡ người đỡ
Lên tháp vị trí vai ba Lên tháp vị trí cao ba
người đỡ người đỡ
2.1. Lên tháp vị trí hông
Điểm thấp nhất của cơ thể người lên tháp ở vào vị trí hông của người
đỡ tháp, được gọi là lên tháp vị trí hông
2.1.1. Lên tháp vị trí hông một người đỡ
Đứng chữ “L” (hình 4-5)
Người đỡ tháp: Bước một chân về trước tạo thành tư thế đứng chân
rộng trước sau (bất kỳ hướng nào đều được), chùng gối sao cho đùi song song
với mặt đất, khớp gối không được vượt qua mũi chân, chân sau duỗi thẳng và
gồng chắc. Khi người lên tháp đứng trên đùi, cánh tay và lòng bàn tay ôm
chắc lấy khớp gối, khiến tư thế đứng càng thêm ổn định. Ép chân đồng thời cơ
thể đổ về trước giúp duy trì thăng bằng cho những động tác khó. Khi người
lên tháp nâng chân còn lại, cố gắng nắm lấy phần gần nhất của cổ chân đồng
thời đẩy chân lên cao, duỗi thẳng cánh tay, tạo thành hình chữ “L”.
99
Người lên tháp: Đứng ở phía sau người đỡ tháp. Khi bước, song song
với đè ép lên vai của người đỡ tháp, nâng chân phía ngoài về trước, đứng lên
đùi của người đỡ tháp, gồng chắc và duỗi thẳng chân, trọng tâm chùng với
trọng tâm của người đỡ tháp nhằm duy trì thăng bằng. Sau khi đã thăng bằng,
nâng chân kia vòng qua sau đầu người đỡ tháp tạo thành hình “L”, để người
đỡ tháp giữ tay vào chân của mình. Mũi chân hướng về trước.
Người bảo hiểm: Khi người lên tháp nhảy lên bắt đầu thực hiện động
tác, đỡ vào lưng giúp cố định đồng thời hộ trợ cho những động tác có độ khó.
Khi người lên tháp tiếp đất, người bảo hiểm di chuyển sang một bên và giữ
chắc vào lưng của người lên tháp.
Hình 4-5
Đứng co gối 1 chân (hình 4-6)
Người đỡ tháp: Bước một chân về trước tạo thành tư thế đứng chân
rộng trước sau (bất kỳ hướng nào đều được). Khi người lên tháp bước lên,
dùng tay ngoài giữ chắc vào cổ chân của người thực hiện, tay kia giữ ở vị trí
khớp gối, giúp tư thế đứng của người lên tháp thêm ổn định.
Người lên tháp: Khi bước, chân dùng sức đạp đất tạo lực đứng lên trên
đùi của người đỡ tháp, khóa chặt và duỗi thẳng chân. Trọng tâm rơi vào trung
tâm của người đỡ tháp, nhằm duy trì thăng bằng. Nâng và co gối chân còn lại,
duỗi mũi chân. Tay nâng cao thành hình chữ “V”.
100
Người bảo hiểm: Khi người lên tháp bắt đầu thực hiện động tác, giữ
chắc giúp cố định phần hông đồng thời chú ý giúp đỡ trong suốt quá trình thực
hiện.
Hình 4-6
Đứng khống chế một chân (trước hoặc ngang) (hình 4-7)
Người đỡ tháp: Bước một chân về trước tạo thành tư thế đứng chân
rộng trước sau (bất kỳ hướng nào đều được). Khi người lên tháp bước lên,
dùng tay ngoài giữ chắc vào cổ chân của người thực hiện, tay kia giữ ở vị trí
khớp gối, giúp tư thế đứng của người lên tháp thêm ổn định.
Người lên tháp: Khi bước, chân phía trong dùng sức đạp đất tạo lực
đứng lên trên đùi của người đỡ tháp, khóa chặt và duỗi thẳng chân. Trọng tâm
rơi vào trung tâm của người đỡ tháp, nhằm duy trì thăng bằng. Chân ngoài đá
về trước, lên cao hoặc đá sang ngang, lên cao, mũi chân duỗi. Hai tay di
chuyển lên cao tạo thành hình chữ “V”.
Người bảo hiểm: Khi người lên tháp bắt đầu thực hiện động tác, giữ
chắc giúp cố định phần hông đồng thời chú ý giúp đỡ trong suốt quá trình
thực hiện.
Hình 4-7
101
2.1.2. Lên tháp vị trí hông hai người đỡ
Ý chỉ có hai người đỡ tháp đảm nhận nhiệm vụ chống trụ để hoàn
thành động tác lên tháp vị trí hông.
Lên tháp tư thế đứng hai chân hai người đỡ.
Hai người đỡ tháp đứng đối diện nhau với tư thế chân rộng trước sau,
một người chân trái bước lên trước, người kia chân phải bước lên trước.
Hướng của người lên tháp chùng với hướng cơ thể của người đỡ tháp, hai
chân người lên tháp đứng trên vị trí đùi chân bước về trước của hai người đỡ
tháp, thân trên ưỡn thẳng và giữ thăng bằng. Tay cùng phía với chân bước lên
trước của mỗi người đỡ tháp vòng qua sau một chân người lên tháp, co tay ôm
chặt chân trụ người lên tháp, giúp giữ thăng bằng cho cơ thể. (hình 4-8)
Hình 4-8
Chú ý: mũi chân trụ của hai người đỡ tháp có thể chếch hình chữ “V”
hoặc áp sát nhau.
2.2. Lên tháp vị trí vai
Điểm thấp nhất của cơ thể người lên tháp ở vị trí vai của người đỡ
tháp, được gọi là lên tháp vị trí vai.
2.2.1. Lên tháp vị trí vai một người đỡ
Lên tháp tư thế ngồi trên vai một người đỡ (hình 4-9)
102
Hình 4-9
Người đỡ tháp: Chùng khớp gối nhưng chú ý không nên vượt quá mũi
chân, gồng chắc hai chân. Bắt đấu bằng tư thế đứng tấn thấp, khi người lên
tháp đã ngồi trên vai, hai tay người đỡ tháp vòng ra ngoài, bám chắc vào hai
chân người lên tháp. Khi chuyển động tành tư thế đứng thẳng, duỗi hai chân
dùng sức tạo lực, lưng thẳng.
Người lên tháp: Đứng ở phía sau người đỡ tháp. Khi thực hiện động
tác lên tháp, chân ngoài bước lên đùi người đỡ tháp, sau khi thăng bằng, chân
còn lại bước tiếp lên vai người đỡ tháp, ngồi xuống và co hai chân kẹp vào
thân người đỡ tháp phía dưới vai người đỡ tháp, hai tay nắm hờ, chống hông.
Người bảo hiểm: Đứng ở phía sau người đỡ tháp, hai tay giữ chặt lấy
hông của người lên tháp.
Ngồi trên vai (Shoulder Straddle): Người lên tháp ngồi trên vai
người đỡ tháp. Đây là kỹ thuật cơ bản trong cổ động. Để thực hiện động tác
này, cách cơ bản là áp dụng các bước như thực hiện kỹ thuật bước lên một
chân đứng chữ L ở trên, thay vì đứng thẳng thì sẽ quàng chân còn lại qua cổ
người làm trụ, người làm trụ đứng thẳng lên và hai tay ôm vào 2 đầu gối của
người ngồi trên. Đây là cách lên dành cho người mới tập, còn với kỹ thuật
nâng cao (dành cho đôi nam nữ) thì chúng ta sẽ sử dụng lực tay của nam đỡ
103
và lực nhún của nữ lên tháp để phối hợp nâng lên cổ (Hình 4-10). Khi xuống
tháp trở về tư thế ban đầu thì thực hiện ngược lại (Hình 4-11).
Hình 4-10: Ngồi trên vai
Hình 4-11: Xuống khi ngồi trên hai vai
Lên tháp tư thế đứng trên vai một người đỡ (hình 4-12)
Người đỡ tháp: Hai chân giang ngang thành tư thế đứng tấn thấp, đưa
hai tay lên và sử dụng phương pháp nắm theo kiểu bắt tay, giữ chặt hai tay
của người lên tháp. Khi người lên tháp bước lên, lần lượt bỏ từng tay của
104
người lên tháp ra và giữ lấy cẳng chân của họ (phương pháp đứng trên vai),
đồng thời hướng khớp khuỷu về trước.
Hình 4-12
Người lên tháp: Đứng ở phía sau người đỡ tháp, sử dụng phương pháp
nắm kiểu bắt tay nắm lấy tay người đỡ tháp. Hai chân lần lượt bước lên vai
người đỡ tháp, khi duỗi chân kết hợp với giải phóng hai tay, đứng chắc và
ưỡn thân, tay tạo thành hình chữ “ V”.
Người bảo hiểm: Trong quá trình người lên tháp thực hiện động tác,
phải giữ chắc lần lượt phần hông, đùi và cẳng chân
Yếu điểm: Hai chân của người đỡ tháp chỉ giang rộng bằng vai, như
vậy sẽ giúp giữ thăng bằng được tốt hơn.
Lên tháp “kiểu Nga” (hình 4-13)
Người đỡ tháp: Hai chân giang ngang thành tư thế đứng tấn thấp, đầu
và lưng thẳng. Tay duỗi lên cao đỡ vào hố nách của người lên tháp. Song
song với chân dùng sức đạp đất tạo lực, hai tay duỗi thẳng lên cao.
Người lên tháp: Đứng ở phía sau người đỡ tháp, dùng sức mạnh từ
chân tạo lực bật nhảy lên cao, hai chân tách, hai tay nắm vào vị trí cổ cổ chân
hoặc cẳng chân, duỗi mũi chân, tay thẳng, ưỡn thân, ngẩng cao đầu.
105
Hình 4-13
Người bảo hiểm: Đứng ở phía sau người đỡ tháp, tay giữ chặt lấy hai
bên hông của người lên tháp
Lên tháp tư thế đứng một chân một người đỡ (hình 4-14)
Người đỡ tháp: Đứng sát cạnh người lên tháp, một tay nắm lấy cổ chân
người lên tháp, tay kia đỡ vào vị trí mông của người lên tháp, dùng sức mạnh từ
hai tay đưa người thực hiện lên vai để bắt đầu động tác.
Hình 4-14
Người lên tháp: Sử dụng phương pháp nắm theo kiểu bắt tay giữ chặt
lấy tay của người bảo hiểm. Khi nhảy lên cao, gập thân người, đồng thời duỗi
cánh tay; Khi đứng trên tay của người đỡ tháp, trọng tâm hơi ngả ra sau, vai
và mông phải cùng nằm trên một đường thẳng, chân còn lại co, đặt trên cánh
106
tay người đỡ tháp giúp giữ thăng bằng. Khi đã có thăng bằng, tay chếch cao
thành hình chữ “V”.
Người bảo hiểm: Đứng sát phía sau của người lên tháp, sử dụng
phương pháp nắm theo kiểu bắt tay, giữ chặt tay người lên tháp. Sau khi
người lên tháp đã có thăng bằng, tay đỡ vào hai bên hông của người lên tháp.
2.2.2. Lên tháp vị trí vai hai người đỡ
Lên tháp tư thế ngồi dạng chân hai người đỡ (hình 4-15)
Người đỡ tháp: Hai người đỡ tháp đứng đối diện nhau, chân rộng bằng
vai. Khi người lên tháp nâng chân phải, một tay người đỡ tháp nắm vào chân,
tay còn lại nắm vào cổ chân hoặc phần giữa cẳng chân người lên tháp. Khi
người lên tháp được nâng lên, hai tay người đỡ tháp thứ hai sẽ đỡ lấy mặt
dưới cổ chân và đùi chân còn lại của người lên tháp, đẩy họ lên vị trị vai.
Hình 4-15
Trong quá trình nâng người lên tháp, chân phía ngoài của hai người đỡ
tháp sẽ bước lên trước bên một bước tạo thành một góc nhỏ, để thêm ổn định
cho phần chống trụ.
Người lên tháp: Thực hiện theo tư thế ngồi dạng chân, hai tay chếch
cao thành hình chữ “V”
Người bảo hiểm: Tay đỡ vào vị trí mông của người lên tháp.
107
Lên tháp tư thế xoạc trên không hai người đỡ (hình 4-16)
Người đỡ tháp: Hai người đỡ tháp đứng đối diện nhau, chân rộng bằng
vai, ép chặt khớp khuỷu, lòng bàn tay hướng lên trên đỡ lấy cẳng chân người
lên tháp, nâng cổ chân người lên tháp đặt lên vị trí vai.
Người lên tháp: Hai chân duỗi thẳng, mũi chân duỗi, bảo đảm phần
đầu, vai và lưng nằm trên một đường thẳng.
Người bảo hiểm: Tay đỡ vào vị trí mông của người lên tháp.
Hình 4-16
Lên tháp tư thế đứng khống chế một chân hai người đỡ trước
ngực (hình 4-17)
Người đỡ tháp: Hai người đỡ tháp đứng đối diện nhau, gập cánh tay,
nâng người lên tháp từ vị trí vai. Người đỡ tháp thứ nhất: Xoè rộng 5 ngón tay
của mỗi bàn tay, lần lượt đỡ vào vị trí mũi chân và gót chân của người lên
tháp. Lòng bàn tay ở tay gần với hướng gót chân người lên tháp của người đỡ
tháp thứ hai mở rộng, đỡ vào vị trí lòng bàn chân của người lên tháp, 108ong
bàn tay ở tay kia cũng mở rộng, nắm vào mặt chính diện cẳng chân người lên
tháp, với mục đích tăng thêm sức mạnh chống trụ và cố định phần nào trọng
tâm của người lên tháp.
108
Hình 4-17
Sau khi thăng bằng, chân phía còn lại của người lên tháp có thể thực
hiện tiếp các động tác có độ khó khác, nhưng cần bảo đảm trọng tâm cơ thể
được ổn định.
Lên tháp tư thế đứng một chân trên vai hai người đỡ ( hình 4-18)
Hai người đỡ tháp đứng đối diện với tư thế chân rộng trước sau nhưng
chân ngược hướng nhau. Hướng của người lên tháp chùng với hướng cơ thể
của người đỡ tháp, một chân người lên tháp đứng trên vị trí đùi chân bước về
trước của một người đỡ tháp, chân kia đặt trên hai tay của người còn lại, ưỡn
thẳng thân trên và giữ thăng bằng. Tay cùng phía với chân bước về trước
được người lên tháp đứng lên sẽ vòng qua sau chân đứng trụ người lên tháp,
giúp giữ thăng bằng cho người thực hiện, hai tay của người đỡ tháp còn lại sẽ
đỡ lấy lòng bàn chân kia của người lên tháp, giúp giữ thăng bằng.
Hình 4-18
109
Người bảo hiểm đứng phía sau và giữ chặt hai bên hông của người lên
tháp. Khi trình độ người lên tháp tốt, có thể thực hiện những động tác có độ
khó cao hơn như đứng trụ co gối một chân, hoặc đứng trụ một chân, chân kia
đá về trước, lên cao....
Đứng trên hai tay ngang vai (Elevator) hay còn gọi là Prep/Half
extension: Kỹ thuật cần đến sự chuẩn xác trong phối hợp. Người lên tháp sẽ
đứng thẳng trên tay của người làm trụ, với độ cao tương đương với tháp đứng
trên vai. Mỗi chân của người lên tháp sẽ đặt trên hai tay của người làm trụ,
người giúp đỡ sẽ là người hỗ trợ phía sau, với người mới, người giúp đỡ sẽ
giữ ở vị trí kheo chân của người lên tháp. Còn để thẩm mỹ, người giúp đỡ
sẽ giữ ở cổ chân người lên tháp.( Hình 4-19). Khi xuống tháp trở về tư thế ban
đầu thì thực hiện ngược lại với cách thực hiện lên tháp (Hình 4-20)
Hình 4-19: Đứng trên hai tay ngang vai
110
Hình 4-20: Xuống từ đứng trên hai tay ngang vai
Lên tháp ngang vai quay 1800.
Người lên tháp: Đứng quay lưng lại với hướng thực hiện. Đặt tay lên
vai của người đỡ tháp. Nhún bật hai chân khỏi mặt đất đứng lên tay của người
đỡ tháp, chân phải để trước chân trái (hai chân chéo nhau) ở tư thế ngồi
xổm. Toàn bộ trọng lượng cơ thể được dồn lên hai tay và vai của người đỡ
tháp. Dùng lực của hai tay tỳ lên vai của người đỡ tháp rồi đứng lên và xoay
người 1800, hai tay V cao.
Người giúp đỡ: Đứng đối diện với người lên tháp, khi người lên tháp
bật lên hai tay người đỡ tháp thì nhanh chóng đỡ lấy hai đầu gối của người lên
tháp để giữ thang bằng. Khi người lên tháp thực hiện động tác đứng lên thì tiếp
thêm lực cho người lên tháp thực hiện được dễ dàng.
Người đỡ tháp: Hai người đỡ tháp quay mặt hướng vào nhau hai chân
chùng gối rộng bằng vai. Hai tay để chéo lên nhau, tay trái dưới, tay phải trên
đồng thời nắm vào gót chân và mũi chân của người lên tháp. Khi thực hiện lên
tháp thực hiện nhúm nhẹ xuống để tạo đà, khi thực hiện nâng tháp thì đồng thời
hai tay xoay theo chiều ngược kim đồng hồ và đẩy thẳng lên cao ngang vai. Kết
thúc động tác. (Hình 4-21 )
111
Hình 4-21
Lên tháp nằm vị trí vai ba người đỡ (hình 4-22)
Người đỡ tháp: Hai người đỡ tháp đứng đối diện, hai chân giang rộng
bằng vai. Khi chùng gối hạ thấp trọng tâm, một tay vòng ra phía sau đỡ lấy
cẳng chân người lên tháp, một tay đặt ở vị trị giữa lưng của người đứng đối
diện. Người đỡ tháp thứ ba đứng, tay đỡ vào phần lưng của người lên tháp.
Hình 4-22
Người lên tháp: Đứng lưng đối diện với người đỡ tháp, bật nhảy lên
cao sau đó ngả người ra sau, căng chắc cơ thể. Hai tay ép sát dọc thân người
hoặc tạo thành hình chữ “T”, duy trì đầu và thân người nằm trên một đường
thẳng.
2.3. Lên tháp vị trí cao
Tay của người đỡ tháp trong động tác lên tháp vị trí cao phải cao hơn
đầu, nhóm kỹ thuật này bao gồm động tác kỹ xảo một chân, được xem là kỹ
112
thuật khó nhất trong các kiểu lên tháp, lên tháp vị trí cao được chia thành lên
tháp vị trí cao một người đỡ, hai người đỡ và ba người đỡ. Trong kỹ thuật
này, tay của người đỡ tháp duỗi thẳng lên cao và đỡ lấy người lên tháp, đồng
thời động tác lên tháp phải được hoàn thành ở vị trí cao quá đầu.
2.3.1. Chuẩn bị từ vị trí vai đến vị trí cao
Người đỡ tháp: Đứng đối diện, chân rộng bằng vai. Người đỡ tháp thứ
nhất nắm lấy chân của người lên tháp, người đỡ tháp thứ hai cũng thực hiện
động tác tương tự. Dùng sức mạnh chân đạp đất tạo lực, chân phía ngoài của
hai người đỡ tháp nhanh chóng di chuyển vào trong một bước nhỏ, cơ thể hai
người sát gần nhau, tay của người đỡ tháp từ tư thế co trước ngực chuyển
thành đẩy cao lên trên, nâng người lên tháp đến vị trí cao qua đầu. Hình 4-23
Hình 4-23
Người lên tháp: Một chân đặt trên lòng bàn tay của người đỡ tháp thứ
nhất, dồn trọng lượng lên vai của người đó, chân kia bước lên vai của người
đỡ tháp thứ hai. Mở vai, duỗi thẳng chân để tiện cho người đỡ tháp nâng lên.
Trong quá trình nâng từ dưới lên cao, phải bảo đảm gồng chắc cơ thể.
Người bảo hiểm: Đầu tiên, khi người lên tháp bước chân, hai tay đỡ
vào hai bên mạn sườn của người thực hiện, giúp họ phát lực để chuẩn bị đạt
113
đến cao độ cần thiết. Khi người lên tháp đã đạt được cao độ như mong muốn,
hai tay giữ chắc vào cổ chân của họ, nhằm duy trì thêm độ ổn định.
Những sai lầm thường mắc:
- Khoảng cách bước chân của người đỡ tháp quá rộng.
Cách khắc phục: Khi ở tư thế đứng duỗi thẳng, hai chân của người đỡ
tháp nên gồng chắc.
- Thực hiện động tác duỗi chân chuẩn bị đứng lên quá chậm.
Cách khắc phục: Tăng tốc độ duỗi chân khi thực hiện.
- Người lên tháp không thể khống chế tốt cơ thể khi ở vị trí trên cao.
Cách khắc phục: Kiểm tra người đỡ tháp đã giữ chắc chưa, đồng thời
người lên tháp cần phải gồng chắc cơ thể.
2.3.2. Chuẩn bị từ tư thế chùng gối sang tư thế đứng
Người đỡ tháp: Người đỡ chính dùng tay đỡ lấy chân của người lên
tháp (hình 4-24), phát lực và nâng người thực hiện lên đứng ở trên vai mình
(hình 4-25), tiếp tục hạ thấp trọng tâm, thực hiện nâng người lên cao. Khi
người lên tháp đứng vững, một tay người đỡ tháp phụ sẽ nắm vào cổ chân
người thực hiện, còn tay kia đỡ lấy phần mông.
Hình 4-24 Hình 4-25
114
Người lên tháp: Đứng trên tay của người đỡ tháp chính, cố định chi
dưới, chân kia đặt trên vai của người đỡ phụ, gồng chắc cơ thể để chuẩn bị
cho động tác nâng người lên cao.
Người bảo hiểm: Toàn bộ quá trình được chia thanh 3 giai đoạn: một
tay người bảo hiểm đỡ vào gót chân người lên tháp, tay kia nắm vào cổ chân;
một tay người bảo hiểm đỡ vào phía sau đùi của người lên tháp, tay kia nắm
vào mặt trước của cổ chân; hai tay người đỡ tháp nắm vào phía sau của cổ
chân người lên tháp, hố trợ khống chế ổn định cho cổ chân (hình 4-26)
Hình 4-26
Những sai lầm thường mắc
- Cơ thể người lên tháp ngả ra sau.
Cách khắc phục: Bảo đảm người bảo hiểm đã giữ chắc phần lưng
người lên tháp. Người thực hiện cần giữ cho ngực, mông, gối và gót chân nằm
trên một đường thẳng, dồn trọng tâm vào vị trí chính giữa.
- Cơ thể người lên tháp ngả sang bên.
Cách khắc phục: Ở lần nhảy thứ hai, người lên tháp sẽ đặt một chân
lên vai người đỡ tháp, đồng thời di chuyển trọng tâm sang chân còn lại.
115
2.3.3. Chuẩn bị xoay người lên vị trí cao
Người đỡ tháp: Bắt đầu với lòng bàn tay đan chéo nhau. Khi người lên
tháp chuẩn bị thực hiện, người đỡ tháp chùng gối, xoay lòng bàn tay để nắm
được vào chân người thực hiện, sau đó di chuyển thành tư thế chuẩn bị duỗi
tay nâng người lên cao.
Người lên tháp: Bắt đầu bằng tư thế đứng đối diện với người đỡ tháp.
Hai chân chéo nhau, chân phải đặt trên lòng bàn tay của người đỡ tháp đứng
bên trái (hình 4-77), chân trái đặt trên tay của người đỡ tháp còn lại. Ba người
tự đếm nhịp với nhau, chùng gối sau đó tay đẩy vai người đỡ tháp, xoay
người, hai chân duỗi thẳng đứng thành tư thế ở trên cao (hình 4-28).
Hình 4-27 Hình 4-28
Người bảo hiểm: Nắm vào phía dưới phần bắp chân người lên tháp.
Tự đếm nhịp cho nhau, người thực hiện chùng gối, người bảo hiểm chỉ dẫn
chuyển động trên cao để thành tư thể chuẩn bị ở vị trí cao, hai tay nắm lấy
phía sau của cổ chân người lên tháp.
Những sai lầm thường mắc:
- Người lên tháp không thể đặt chân còn lại lên tay người đỡ tháp.
Cách khắc phục: người lên tháp hơi co một chân, người đỡ tháp phụ sẽ
giữ chắc, chân còn lại ép sát vào chân thứ nhất.
116
- Quá trình quay người lên cao quá sớm.
Cách khắc phục: người lên tháp luyện tập liên tục kỹ xảo động tác
thực hiện, dùng tay đẩy vai người đỡ tháp, sau đó chuyển động phần vai. Nếu
quá trình quay người quá sớm, thì động tác kỹ xảo này sẽ không thể hoàn
thành được.
2.3.4. Chuẩn bị từ tư thế ngồi đến vị trí cao
Người đỡ tháp: Chùng gối và đỡ lấy lòng bàn chân người lên tháp,
nâng người thực hiện đặt lên vai trái thành tư thế ngồi, hạ thấp trọng tâm đến
khi chuẩn bị thực hiện tư thế duỗi tay.
Người lên tháp: Đặt tay lên vai của người đỡ tháp và người bảo hiểm,
sau khi nhảy lên chuyển thành tư thế ngồi, chùng gối đến khi chuẩn bị thực
hiện tư thế duỗi thẳng, một chân đặt lên tay người đỡ tháp.
Người bảo hiểm: Khi bắt đầu, đứng về phí sau và nắm vào cổ chân
người lên tháp, sau đó thành tư thế ngồi, chùng gối và chuyển trọng tâm thành
tư thế chuẩn bị duỗi tay ở vị trí cao.
Những sai lầm thường mắc:
- Người lên tháp bị ngã sau khi di chuyển thành tư thế ngồi.
Cách khắc phục: Khi thành tư thế ngồi, người lên tháp nên tự khống
chế trọng tâm cơ thể, không nên thoái thác hoàn toàn cho người bảo hiểm.
- Người lên tháp gặp khó khăn khi đứng lên thành tư thế chuẩn bị duỗi
thẳng .
Cách khắc phục: Người đỡ tháp nên chùng gối sâu nhằm tạo thêm lực
cho người lên tháp khi đứng thẳng.
- Ở tư thế ngồi, chân của người lên tháp quá cao, dẫn đến thân người
đổ ra sau.
Cách khắc phục: Người đỡ tháp cần để cho chân người lên tháp buông
lỏng tự nhiên, tạo điều kiện duy trì trọng tâm cơ thể hướng lên.
117
2.3.5. Từ tư thế đứng đến tư thế chuẩn bị vị trí cao
Người đỡ tháp: Khi người lên tháp đặt chân lên tay người đỡ tháp thứ
nhất, người đỡ tháp thứ hai sẽ giữ chắc lấy chân trụ của người thực hiện (hình
4-29), giữ cho đến khi chuẩn bị thực hiện tư thế duỗi thẳng. Người đỡ tháp
thứ hai phải đứng hai chân trên một đường thẳng. Khi người lên tháp đứng,
giữ chắc hai tay nâng người lên tháp lên vị trí cao.
Hình 4-29
Người bảo hiểm: Đỡ lấy phần mông người lên tháp, tự đếm nhịp và
chùng gối, nắm vào cổ chân khi người thực hiện đứng ở vị trí cao.
Những sai lầm thường mắc
- Trọng tâm người lên tháp dồn ở phần mông khi di chuyển thành tư
thế chuẩn bị
Cách khắc phục: Người đỡ tháp di chuyển vai người lên tháp về phía
trước nhằm hỗ trợ phân chia lực đồng đều cho người thực hiện trong quá trình
thực hiện này.
- Người bảo hiểm không thể hỗ trợ và giúp đỡ cho người lên tháp khi
họ di chuyển lên trên thành tư thế chuẩn bị duỗi thẳng.
118
Cách khắc phục: Khi thay đổi tư thế, người lên tháp vẫn phải cố định
cánh tay để người bảo hiểm có thể sử dụng nó như một cánh tay đòn tiếp
thêm lực giúp hoàn thành kỹ xảo động tác.
- Động tác kỹ xảo bị lệch sang hướng nào đó trong quá trình chuẩn bị
chuyển thành tư thế duỗi thẳng vị trí cao.
Cách khắc phục: Người bảo hiểm xác định lại thời điểm nhằm bảo
đảm nhịp của cả hai chùng khớp với nhau. Tương tự, độ cao của người bảo
hiểm có thể ảnh hưởng đến quá trình thực thi của động tác.
2.3.6. Từ tạo hình chữ “T” nâng lên thành tư thế trên cao
Người đỡ tháp: Hai người đỡ tháp chờ sẵn trong tư thế chân giang
ngang thành đứng tấn thấp (hình 4-30). Khi người lên tháp ở vị trí trên không
(hình 4-31), chùng gối và phát lực nâng đến tư thế chuẩn bị duỗi thẳng trên
không (hình 4-32)
Hình 4-30 Hình 4-31 Hình 4-32
Người lên tháp: Tựa vào người bảo hiểm phía sau, thành tư thế hình
chữ “T”, khi được đẩy về trước, nhấc chân đặt vào lòng bàn tay người đỡ
tháp, giữ cho phần ngực luôn hướng trước, duỗi tay, đứng, đạt đến tư thế
chuẩn bị duỗi thẳng trên cao.
119
Người bảo hiểm: Giữ chắc phần mặt dưới cánh tay người lên tháp, di
chuyển người thực hiện về trước, khi người lên tháp chạm đến người nâng
tháp, đẩy cánh tay của họ giúp đạt đến tư thế chuẩn bị duỗi thẳng.
Những sai lầm thường mắc.
- Trọng tâm người lên tháp dồn ở phần mông khi di chuyển thành tư
thế chuẩn bị
Cách khắc phục: Người đỡ tháp di chuyển vai người lên tháp về phía
trước nhằm hỗ trợ phân chia lực đồng đều cho người thực hiện trong quá trình
thực hiện này.
- Người bảo hiểm không thể hỗ trợ và giúp đỡ cho người lên tháp khi
họ di chuyển lên trên thành tư thế chuẩn bị duỗi thẳng.
Cách khắc phục: Khi thay đổi tư thế, người lên tháp vẫn phải cố định
cánh tay để người bảo hiểm có thể sử dụng nó như một cánh tay đòn tiếp
thêm lực giúp hoàn thành kỹ xảo động tác.
- Động tác kỹ xảo bị lệch sang hướng nào đó trong quá trình chuẩn bị
chuyển thành tư thế duỗi thẳng vị trí cao.
Cách khắc phục: Người bảo hiểm xác định lại thời điểm nhằm bảo
đảm nhịp của cả hai chùng khớp với nhau. Tương tự, độ cao của người bảo
hiểm có thể ảnh hưởng đến quá trình thực thi của động tác.
2.3.7. Từ mặt đất lên vị trí cao bằng tư thế tự do
Người đỡ tháp chính: Bắt đầu với tư thế đứng tấn thấp, tay đặt ở vị trí
mũi chân và gót chân người lên tháp, tự đếm nhịp kết hợp với chùng gối, duỗi
tay cao quá đầu, đổi nắm tay ở vị trí trên đầu (vị trí cùng tư thế chuẩn bị động
tác duỗi thẳng của người đỡ tháp chính giống nhau).
Người đỡ tháp phụ: Bắt đầu với tư thế đứng tấn thấp, tay phải đặt dưới
bàn chân người lên tháp, tay trái nắm vào chân trái người thực hiện. Khi đếm
nhịp, chùng gối cùng duỗi thẳng cánh tay. Khi thực hiện kỹ thuật nâng người,
xoay vai trái hoặc vị trí đứng đến phía dưới người lên tháp, cùng với người đỡ
120
tháp chính chia sẻ bớt sức nặng về trọng lượng của người lên tháp, đếm nhịp
và chùng gối, khiến trọng tâm người lên tháp rơi vào mặt phẳng chống trụ.
Người lên tháp: Đặt chân phải lên tay người đỡ tháp, đếm nhịp và
dùng sức đẩy chân rời mặt đất kết hợp với bám vào vai người đỡ tháp, di
chuyển lên trên thành tư thế đứng. Để đạt đến vị trí của tư thế tự do, người lên
tháp cố định chân phải, nâng chân trái lên song song với mặt đất, gồng cứng
cổ chân trái (hình 4-33), hơi khép sát vào đầu gối chân phải.
Hình 4-33
Người bảo hiểm: người bảo hiểm phía sau đặt tay phải và tay trái lần
lượt lên hai vị trí là cổ chân và mông của người lên tháp. Đếm nhịp và chùng
gối, đẩy mông người thực hiện lên trên giúp họ rời đất. Khi người lên tháp
đứng ở vị trí trên cao, người bảo hiểm phía sau bám hai tay vào cổ chân người
thực hiện. Khi tiếp đất, người bảo hiểm phía sau chùng gối, tạo điểm tựa cho
phần đầu và vai của người lên tháp
Những sai lầm thướng mắc:
- Người đỡ tháp thực hiện động tác nặng nề, khó nhấc qua đầu.
Cách khắc phục: Kiểm tra kỹ xảo và cách bố trí thời gian thực hiện
giữa người đỡ tháp, người lên tháp và người bảo hiểm. Tập thể này không thể
121
cùng lúc chùng gối và phát lực, như thế động tác sẽ rất “ nặng ”, tập luyện
liên tục đến khi động tác kết hợp hài hòa.
- Khi duy trì tư thế đứng tự do dễ bị đổ sang phía bên phải của người
lên tháp
Cách khắc phục: Đẩy mông về phía trước, không phải đẩy sang phải.
Lộn trước chống tay lên tháp
Bước 1: Chuẩn bị. Hình 4-34
Người lên tháp: Chuẩn bị ở vị trí sẵn sàng để thực hiện một động tác lộn
chống trước với một chân ở phía trước.
Người đỡ tháp chính: Đứng phía đối diện với người lên tháp, thấp trọng
tâm, Tay phải trên cao, tay trái chếch dưới sẵn sàng để nắm bàn chân và đỡ phía
sau đùi của người thực hiện lên tháp.
Người đỡ hỗ trợ: Hai tay thực hiện động tác nắm đan chéo ở cổ tay,
đứng trước người thực hiện lên tháp, hai gối chùng thấp để chuẩn bị thực hiện
động tác đỡ lưng người lên tháp.
Hình 4-34
Bước 2: Thực hiện động tác lộn trước. Hình 4-35
Người lên tháp: Thực hiện một động tác lộn chống trước.
122
Người đỡ tháp chính: Đứng phía đối diện với người lên tháp, thấp trọng
tâm, Tay phải trên cao đỡ vào gót chân của người lên tháp, tay trái chếch dưới
đỡ phía sau đùi của người thực hiện lên tháp.
Người đỡ hỗ trợ: Hai tay thực hiện động tác nắm đan chéo ở cổ tay,
đứng trước người thực hiện lên tháp, hai gối chùng thấp thực hiện động tác đỡ
lưng người lên tháp.
Hình 4-35
Bước 3: Lên tháp. Hình 4-36
Người lên tháp: Thực hiện một động tác lộn chống trước. Dùng lực đẩy
của tay thân người giữ căng.
Người đỡ tháp chính: Tay phải trên cao đỡ và giữ chắc vào gót chân của
người lên tháp, tay trái chếch dưới đỡ phía sau đùi đẩy thêm lực của người thực
hiện lên tháp và thực hiện đỡ tháp.
Người đỡ hỗ trợ: Thực hiện động tác tiếp thêm lực vào lưng người lên
tháp. Sau khi người lên tháp rời khỉ mặt đất thì nhanh chóng chuyển tay nắm cổ
chân người lên tháp và di chuyển về vị trí đỡ tháp theo quy định.
123
Hình 4-36
Lên tháp một chân thăng bằng
Bước 1: Chuẩn bị. Hình 4-37
Người lên tháp: Chuẩn bị ở vị trí sẵn sàng để thực hiện một động tác lên
tháp với chân phải ở phía trước, chân trái đứng dưới đất để tạo đà. Hai tay nắm
vào hai cổ tay của người đỡ hỗ trợ.
Người đỡ tháp chính: Đứng phía trước vuông góc với người lên tháp,
hai chân rộng bằng vai, tay phải cầm chắc dưới lòng bàn chân phải của người
lên tháp, tay trái đỡ dưới đùi của người thực hiện lên tháp.
Người đỡ tháp phụ: Ngồi xổm vuông góc với người lên tháp, hai chân
rộng bằng vai, tay trái cầm chắc dưới lòng bàn chân trái của người lên tháp, tay
phải nắm cổ chân của người thực hiện lên tháp.
Người đỡ hỗ trợ: Hai tay thực hiện động tác nắm vào hai bên hông và
đứng sau người thực hiện lên tháp, hai chân rộng bằng vai để chuẩn bị thực hiện
động tác đỡ lưng người lên tháp.
Hình 4-37
124
Bước 2: Lên tháp. Hình 4-38
Người lên tháp: Phối hợp nhún mạnh chân trái tạo đà ra trước – lên trên
để thực hiện một động tác lên tháp. Hai tay đẩy mạnh lực vào hai cổ tay của
người đỡ hỗ trợ, vươn căng lên cao, chân trái lên thẳng và đưa ra sau để làm
động tác thăng bằng. Hoàn thiện động tác lên thăng bằng.
Người đỡ tháp chính: Tay phải cầm chắc dưới lòng bàn chân phải của
người lên tháp, tay trái đỡ dưới đùi của người thực hiện lên tháp. Khi phối hợp
thực hiện thì đưa nhanh tay phải về sát ngực để làm điểm tỳ, tay trái tiếp mạnh
lực vào phía dưới đùi rồi nhanh chóng đưa tay về đỡ dưới gót chân phải và đẩy
thẳng hai tay lên cao.
Người đỡ tháp phụ: Ngồi xổm vuông góc với người lên tháp, hai chân
rộng bằng vai, tay trái cầm chắc dưới lòng bàn chân trái của người lên tháp, tay
phải nắm cổ chân của người thực hiện lên tháp. Khi phối hợp thực hiện thì đỡ
dưới đẩy thẳng hai tay lên cao ra sau, nhanh chóng rời tay khỏi chân trái và di
chuyển sang nắm vào cổ chân phải của người lên tháp.
Người đỡ hỗ trợ: Hai tay thực hiện động tác nắm vào hai bên hông và
đứng sau người thực hiện lên tháp, hai chân rộng bằng vai để chuẩn bị thực hiện
động tác đỡ lưng người lên tháp. Khi phối hợp thực hiện thì đẩy thẳng hai tay
lên cao nâng người lên tháp lên cao, nhanh chóng rời khỏi than người lên tháp
và di chuyển sang nắm vào cổ chân, bắp chân phải của người lên tháp.
Hình 4-38
125
2.3.8. Các tư thế vị trí cao biến hóa từ tư thế đứng tự do
Nhiệm vụ của người đỡ tháp và người bảo hiểm giống như trong tư
thế đứng tự do. Nhưng trước khi thử sức với các động tác kỹ xảo này, người
lên tháp cần nắm vững thuần thục tính đàn hồi, thăng bằng cùng khả năng
khống chế của cơ thể, bởi vì các động tác này có yêu cầu rất cao đối với tính
khéo léo. Các tư thế được thể hiện minh họa trong các hình 4-39 đến hình
4-42. Đây là một vài hình thức biến hóa từ tư thế đứng tự do.
Hình 4-39 Hình 4-40 Hình 4-41 Hình 4-42
Trình tự các bước tập luyện
Bước 1. Hình 4-43
Người lên tháp: Thực hiện động tác hai chân đứng trên tay người đỡ
tháp ở tư thế thẳng chân, hai tay tỳ trên hai vai người đỡ tháp. Dùng lực đẩy của
tay thân người giữ căng.
Người đỡ tháp chính: Hai tay nắm bàn chân của người thực hiện lên
tháp và thực hiện đỡ tháp.
Người đỡ hỗ trợ: Thực hiện động tác nắm cổ chân người lên tháp.
126
Hình 4-43
Bước 2. Hình 4-44
Người lên tháp: Thực hiện động tác co chân trái lên ngang vai người đỡ
tháp trọng tâm dồn lên chân phải, tiếp tục co chân phải lên vị trí cao cửa người
đỡ tháp. Cuối cùng hai chân đứng trên tay người đỡ tháp ở tư thế thẳng chân,
hai tay V cao thân người giữ căng.
Người đỡ tháp chính: Hai tay nắm bàn chân của người thực hiện lên
tháp và thực hiện đỡ tháp theo từng bước trước ngực rồi lên cao.
Người đỡ hỗ trợ: Thực hiện động tác nắm cổ chân người lên tháp giữ
thăng bằng.
Hình 4-44
127
Bước 3. Hình 4-45
Người lên tháp: Thực hiện động tác co chân trái lên trọng tâm dồn lên
chân phải, hai tay V cao thân người giữ căng. Sau đó thực hiện biến hoá các tư
thế.
Người đỡ tháp chính: Hai tay nắm bàn chân phải của người thực hiện
lên tháp và thực hiện các hoạt động hỗ trợ khác.
Người đỡ hỗ trợ: Thực hiện động tác nắm cổ chân người lên tháp giữ
thăng bằng.
Hình 4-45
Các điểm lưu ý khi thực hiện một động tác lên tháp. Hình 4-46
1. Để giúp duy trì sự cân bằng, người lên tháp nhìn thẳng hoặc tập trung
vào một cái gì đó trực tiếp ở phía trước ngang tầm mắt hoặc trên, với vị trí đầu
thẳng về phía trước. Không nhìn xuống.
2. Cơ thể của người lên tháp nên được giữ thẳng, căng và khống chế
trong suốt thời gian trên tháp.
3. Cổ chân của phải duỗi thẳng mu bàn chân hướng về phía trước lòng
bàn chân đặt vững chắc ép sát bên cạnh đầu gối của chân trụ.
4. Đùi chân trụ của người lên tháp khống chế căng.
5. Trong điều kiện cho phép, tay của người đỡ tháp có thể nắm ở vị trí
này và đây là điều luật cho phép để đảm bảo giữ chắc cho người lên tháp.
128
1
2
3 4
5
6 7
9 8
11 10
12
Hình 4-46
6. Bàn chân của của người lên tháp nên được đặt trực tiếp lên long bàn
tay của người đỡ tháp.
7. Bàn tay của người đỡ tháp nên được đặt dưới chân của người lên
tháp, cho phép các ngón tay nắm xung quanh gót chân và đầu bàn chân.
8. Tay của người đỡ tháp luôn phải giữ thẳng và sự ổn định cho người
lên tháp.
9. Đôi mắt của mỗi người đỡ tháp luôn luôn phải được theo dõi các hoạt
động của người lên tháp.
10. Cả hai vai của người đỡ tháp phải được phối hợp chặt chẽ và cân đối
với nhau, không cho phép ngả về đằng sau vị trí đứng.
11. Thân người đỡ tháp luôn thẳng để hỗ trợ cho việc khắc phục trọng
lượng và kiểm soát cũng như ổn định chuyển động.
12. Trọng tâm của người đỡ tháp là yếu tố chính để ổn định tư thế khi
thực hiện đỡ tháp.
129
2.4. Tháp sử dụng trong bài thi
Là việc nâng tháp của các thành viên trong đội .
Chiều cao của tháp không vượt qua 2,5 lần chiều cao của vận động
viên. Tối thiểu phải có liên kết của 2 vận động viên (Hình 4-47).
Hình 4-47: Chiều cao hợp lệ của Tháp.
Tháp xuất hiện lần đầu trong bài thi phải liên kết các thành viên .
2.4.1. Một số cơ sở để lựa chọn tháp.
Phù hợp với trình độ của người tập trong đội .
Sử dụng hiệu quả ưu thế của mỗi thành viên trong nhóm .
2.4.2. Phân loại hình dạng tháp và các yêu cầu kỹ thuật
Hình dạng tháp có thể được chia thành hai tầng và ba tầng tháp.
2.4.2.1. Tháp hai tầng
Tháp thấp
Tháp dạng hướng vào trong
Thành viên đỡ tháp: Người đỡ tháp đứng chùng gối vào phía
trong. Khi các thành viên lên tháp đứng lên, người đỡ tháp điều chỉnh hai
chân đồng thời một tay quàng qua gối của người lên tháp để cho người lên
tháp ổn định và giữ thăng bằng. ( Hình 4-48)
130
Hình 4-48
Người lên tháp: Chân đặt trên đùi thành viên người đỡ tháp, hai tay
bám vào hai vai của người đỡ tháp, khi có khẩu lệnh nhanh chóng đứng lên
thành tư thế tháp.
Người bảo hiểm, giúp đỡ: Hai tay đỡ khớp hông đẩy người lên thành
tháp, và bảo hiểm sự an toàn của người lên tháp.
Lên tháp vị trí chân bên ngoài.
Thành viên đỡ tháp: Người đỡ tháp đứng chùng gối phía ngoài. Khi
các thành viên lên tháp đứng lên, người đỡ tháp điều chỉnh hai chân đồng thời
một tay quàng qua gối, một tay nắm cổ chân của người lên tháp để cho người
lên tháp ổn định và giữ thăng bằng. ( hình 4-49)
Hình 4-49
131
Người lên tháp: Chân đặt trên đùi thành viên người đỡ tháp, hai tay
bám vào hai vai của người đỡ tháp, khi có khẩu lệnh nhanh chóng đứng lên
thành tư thế tháp.
Người bảo hiểm, giúp đỡ: Hai tay đỡ khớp hông đẩy người lên thành
tháp, và bảo hiểm sự an toàn của người lên tháp.
Tháp cao
Chỉ giới hạn các vị trí hông và vai nâng lên tháp lên đồng thời kết hợp
các dạng biến hoá tháp trên cơ sở ở vị trí vai. Tháp kết hợp không thể vượt
quá 2.5 chiều cao cơ thể, nâng lên cao theo cùng một cách ngồi trên vai và
đứng trên vai ( hình 4-50) .
Hình 4-50
Thành viên đỡ tháp: Các tháp bên ngoài thực hiện lên tháp cao, giữ
chân cho người lên tháp để cho người lên tháp ổn định và giữ thăng bằng. Khi
phát khẩu lệnh, những người lên tháp nâng chân phía trong lên để tháp đỡ giữ
và ổn định. Tháp thấp bên trong kết nối hai tháp cao bằng cách đỡ chân của
người lên tháp cao.
Người trên tháp thấp bên trong: Sẵn sàng hỗ trợ tốt.
132
Người giúp đỡ, bảo hiểm: Đứng đằng sau người lên tháp và người đỡ
tháp. Giữ chân bên ngoài của người lên tháp phía trong mắt cá chân hoặc bắp
chân. Bảo vệ đầu và cổ của người lên tháp khi họ thực hiện xuống tháp.
Kết nối các tháp cao
Ba tháp đơn cao có thể được kết hợp, và được sửa đổi trên cơ sở tháp
này. Tháp kết hợp không thể vượt quá 2.5 chiều cao cơ thể. Các tháp được kết
nối với nhau khi đã ổn định tháp cao khi đứng trên hai vai.
Người đỡ tháp: Bên ngoài và bên trong phải đứng vững làm trụ để
người lên tháp đứng trên hai vai.
Người lên tháp: Bên ngoài và bên trong người lên tháp phải có tư thế
tốt nâng cao vai, cánh tay giơ cao ở phía trên cùng của tháp được kết nối với
nhau của người lên tháp (Hình 4-51 ).
Hình 4-51
Tháp vòng cung mở. Hình 4-52
Bắt đầu với tháp cao ở giữa, tiếp theo là đứng trên hai vai và đối diện
với nhau, và ngồi trên hai vai ở phía trước đối mặt với nhau. Tất cả những
người trên tháp kết nối vòng tay với nhau. Khi đã ổn định tháp thì tháp đứng
trên vai và thấp ngồi trên vai di chuyển dần về phía sau như mở cuốn sách. Giữ
ổn định tháp cho đến khi kết thúc.
133
Hình 4-52
Tháp cao thấp kết nối. Hình 4-53
Thực hiện giống liên kết Tháp vòng cung mở. Có thể thêm nhiều người
để kết nối thành nhiều tháp.
Hình 4-53
Tháp đôi thăng bằng. Hình 4-54
Thực hiện kỹ thuật giống các kỹ thuật lên tháp khác. Có thể thêm nhiều
người để kết nối thành nhiều tháp.
Hình 4-54
134
Tháp móc hình vòng cung. Hình 4-55
Thực hiện kỹ thuật giống các kỹ thuật lên tháp khác. Có thể thêm
nhiều người để kết nối thành nhiều tháp.
Hình 4-55
Tháp móc đỡ bụng Hình 4-56
Thực hiện kỹ thuật giống các kỹ thuật lên tháp khác. Có thể thêm nhiều
người để kết nối thành nhiều tháp.
Hình 4-56
Tháp không đối xứng. Hình 4-57
Thực hiện kỹ thuật giống các kỹ thuật lên tháp khác. Có thể thêm nhiều
người để kết nối thành nhiều tháp.
135
Hình 4-57
Tháp domino. Hình 4-58
Thực hiện kỹ thuật giống các kỹ thuật lên tháp khác. Có thể thêm nhiều
người để kết nối thành nhiều tháp.
Hình 4-58
2.4.2.2. Tháp ba tầng
Tháp cao ba tầng thấp.
Chỉ giới hạn ở hông và vai người đỡ tháp vị trí đỡ tháp có thể được kết
hợp bởi ba chữ và được sửa đổi trên cơ sở này, sự kết hợp không được nâng
lên cao hơn 2.5 chiều cao cơ thể.
Mô hình 3-2-1 (Hình 4-59)
Người đỡ tháp phía bên ngoài: Bước chân hướng vào phía trong chùng
gối, hai tay giữ chắc cổ chân và bàn chân của người lên tháp tầng hai.
136
Người đỡ tháp ở giữa: Hai chân chùng gối rộng sang hai bên làm vị trí
đứng cho người lên tháp tầng hai, hai tay ôm xung quanh đầu gối chân trong
của người lên tháp.
Hình 4-59
Người lên tháp tầng thứ hai: Chân phía trong đứng trên cả hai đùi của
người đỡ tháp giữa, chân ngoài đứng lên tay của người đỡ tháp ngoài, tay
ngoài nâng và giữ chân của người lên tháp tầng ba, một tay bám vào bên
trong của đầu gối.
Người lên tháp tầng thứ ba: Chân đứng trong tay của người lên tháp
tầng thứ hai, hai tay chếch trên bên (chữ V).
Mô hình 2-1-1 (Hình 4-60 )
Hình 4-60
137
Người đỡ tháp: Bước chân hướng vào phía trong chùng gối, một tay
giữ chắc cổ chân và bàn chân của người lên tháp tầng hai, một tay cầm bên
trong của đầu gối.
Người lên tháp tầng thứ hai: Chân đứng trên cả hai đùi phía trong của
người đỡ tháp, hai tay giữ người lên tháp tầng ba ở đầu gối, sau khi người lên
tháp tầng ba ổn định tư thế thì hai tay chếch trên bên.
Người lên tháp tầng ba: Ngồi trên vai của người lên tháp thứ hai, hai
chân kẹp ra phía sau lưng, hai tay chếch trên bên (chữ V).
Mô hình 2-2-1 (Hình 4-61 )
Hình 4-61
Tháp ba tầng kết nối
Ba tháp kết nối thành tháp cao ba tầng và có thể được kết hợp trên cơ
sở biến dạng khác nhau. sự kết hợp không được nâng lên cao hơn 2.5 chiều
cao cơ thể. Kết nối các tháp khi đã lên tháp ở vị trí ngồi trên vai, đứng trên vai
và tháp cao.
Tháp bước tiến (bậc thang) (Hình 4-62 )
Tháp đầu tiên: Ngồi trên vai.
Tháp thứ hai: Đứng trên hai vai.
Tháp thứ ba: Đứng trên hai tay cao.
Người lên tháp thứ nhất: Ngồi trên vai người đỡ tháp.
138
Hình 4-62
Người lên tháp thứ hai: Đứng trên hai tay ngang vai người đỡ tháp
hướng về tháp thứ nhất, thân người gập, tay chống lên trên vai của người trên
tháp thứ nhất đầu tiên.
Người lên tháp thứ ba: Đứng trên hai tay trên cao của người đỡ tháp,
khi đã chuẩn bị sẵn sang, một chân đứng tỳ trên lưng của người lên tháp thứ
hai.
Nếu có đủ người chơi tham gia ta có thể thực hiện cả hai hướng sẽ tạo
được tháp rất cân đối và ấn tượng
3. Tung và bắt trong thể dục cổ động.
Giá trị thưởng thức của thể dục cổ động kỹ xảo thể hiện ở tính mạo
hiểm về độ khó khi thực hiện động tác và một trong những phần mang hứng
thú đến cho người xem nhất phải kể đến đó là nhóm động tác tung và
bắt.Tung và bắt là động tác được tung lên từ đồng đội, sau đó được đồng đội
đỡ lại.
Tung và bắt được phối hợp bởi hai hoặc nhiều người cùng nhau hoàn
thành động tác trên không, gồm hai thành phần tổ hợp chính là tung, bắt, kỹ
thuật này có thể được xem như là sự liên kết của hàng loạt các động tác kiểu
nhào lộn cùng động tác có tính mềm dẻo. Căn cứ vào phương pháp hoàn
139
thành động tác tung và bắt, nội dung cơ bản gồm có: tung bắt, tung liên tiếp,
tung nhảy
Khi hoàn thiện một động tác tung bắt có độ khó, người lên tháp đảm
trách hoàn thành các động tác nhào lộn, quay người cùng các động tác khác
trên không, còn nhiệm vụ chủ yếu của người đồng đội đỡ tháp chính là phối
hợp hỗ trợ phát lực cho người lên tháp trong quá trình thực hiện, hoặc cũng có
thể giúp đỡ thêm cho người thực hiện tiếp đất sau khi hoàn thành những động
tác có độ khó trên không. Vì vậy, tung bắt cùng bảo hiểm luôn phải hoạt động
cùng nhau.
Khi thực hiện động tác tung và bắt mà không chính xác, không nhịp
nhàng, không phối hợp ăn ý, hoặc dùng sức quá mạnh, không tập trung, căng
thẳng hay hưng phấn quá độ cùng những tình huống khác sẽ rất dễ gây nên
chấn thương cho các thành viên. Do đó, yêu cầu khi hoàn thành bất kỳ động
tác có độ khó thuộc cấp nào, cũng phải nêu cao tinh thần phối hợp ăn ý cùng
đồng đội, cần điểu chỉnh đến trạng thái tâm lý tốt nhất trước khi thực hiện mỗi
động tác, đây là một trong những qui tắc bắt buộc giúp bảo đảm an toàn.
Tính an toàn của các động tác tung bắt có độ khó phụ thuộc ngay trên
mỗi một thành viên tham gia thực hiện. An toàn của người lên tháp thể hiện ở
chỗ: khi thực hiện động tác, cơ thể phải gồng chắc; khi được tung trên không,
phải hoàn thành mỗi một động tác một cách quyết đoán, không do dự, chỉ có
như vậy người lên tháp mới tạo được cơ sở giúp đỡ an toàn nhất cho đồng đội
đỡ tháp phía dưới. Tương tự, người đỡ tháp cũng cần có sự phối hợp ăn ý, khi
hỗ trợ thực hiện tung bắt, phải tạo cho người lên tháp một lực ổn định, đây
cũng là một trong những nền tảng quan trọng bảo đảm cho người lên tháp
hoàn thành động tác.Khi người lên tháp rơi xuống, yêu cầu người đỡ tháp
nhanh chóng phán đoán vị trí, thời gian cùng tư thế cơ thể của người thực
hiện, chủ động điều chỉnh để cơ thể ở vào vị trí bảo hiểm hợp lý nhất, đồng
thời lập tức duỗi thẳng tay, đón người lên tháp. Người đỡ tháp cũng cần căn
140
cứ thêm vào tốc độ rơi và tư thế cơ thể để lựa chọn thời điểm đỡ so cho hợp lý
nhất, an toàn nhất. Sau khi đỡ được người lên tháp, người đỡ tháp cần chú ý
tốc độ hoãn xung trước khi dừng lại phải chậm dần, nhằm tránh xảy ra chấn
thương. Khi tiến hành động tác tung bắt cần chú ý một vài điểm quan trọng
dưới đây:
Tập trung chú ý: So với các kỹ thuật khác, tung bắt cần độ tập trung
cao hơn rất nhiều, mỗi một thành viên trong đội cần duy trì tập trung cao độ,
khi tập luyện nên tắt nhạc, giảm thiểu đến mức tối đa những nhân tố rắc rối có
thể xảy ra.
Thời gian: Độ chính xác trong phán đoán về thời gian của người lên
tháp và người đỡ tháp là chìa khóa quyết định thành bại khi thực hiện động
tác tung bắt, thời gian tung bắt quá dài càng làm tăng thêm tính nguy hiểm khi
thực hiện.
Kiên trì: Bất kỳ động tác kỹ xảo nào cũng không thể thành thục trong
thời gian ngắn, đầu tư nhiều thời gian tập luyện kỹ thuật mới, mới có thể giảm
thiểu xác suất gây chấn thương.
Khi bắt đầu thực hiện động tác tung bắt, trước tiên nên xác định rõ
trình độ kỹ thuật của đội mình, tăng cường chuẩn tắc chỉ đạo an toàn, đề ra
tiêu chuẩn cụ thể đối với động tác, như vậy mới có thể hoàn thành một cách
an toàn. Do độ cao của động tác tung tối thiểu phải vượt qua độ cao của 2
người, cho nên bảo đảm đỡ được người lên tháp một cách thuận lợi chính là
tiền đề của tính an toàn khi thực hiện
3.1. Chuẩn bị của người đỡ tháp khi thực hiện động tác tung bắt
Người đỡ tháp nên đứng hai chận rộng bằng vai, chùng gối, thành tư
thế chuẩn bị của đứng tấn thấp. Người đỡ tháp nên bảo đảm cột sống duỗi
thẳng, tránh tạo thành tư thế gù lưng do trương lực quá lớn tạo nên. Nếu đầu
gối mở sang hai bên (tư thế này thường thấy ở thành viên đội thể dục cổ
141
động), sẽ khiến người đỡ tháp cảm thấy thoái mái hơn, nhưng cần lưu ý, như
thế sẽ giảm bớt độ cao của động tác tung bắt (hình 4-63)
Hình 4-63
Hai tay của người đỡ tháp lần lượt bám chắc vào nhau. Kiểu nắm này
rất đặc biệt trong thể dục cổ động, mỗi một người đỡ tháp sẽ nắm tay phải vào
vị trí cổ tay trái của chính mình, đứng đối diện và nắm vào cổ tay phải của
đồng đội, như thế sẽ tạo thành một “mặt đế” vững chắc cho người thực hiện
đứng lên (hình 4-64)
Hình 4-64
3.2. Huấn luyện cơ bản đối với động tác tung bắt
Đối với động tác tung bắt, những phương pháp huấn luyện này có thể
thực hiên ngay ở giai đoạn trước, trong và sau khi nắm vững kỹ xảo. Nếu kiểu
nắm tay của người đỡ tháp đúng, khống chế cơ thể của người lên tháp hợp lý,
thì phương pháp huấn luyện này sẽ có thể góp phần tạo nên nền tảng tốt cho
quá trình hoàn thành động tác
142
3.2.1. Huấn luyện phối hợp thời gian
Mục đích chính của phương pháp huấn luyện này đó là giúp người đỡ
tháp nắm bắt được thời gian tung người lên tháp, sau khi đã chuẩn bị xong tư
thế nắm tay.
Người đỡ tháp: Hai người nắm tay chặt theo tư thế yêu cầu và chuẩn
bị, hơi chùng khớp gối, thành tư thế đứng tấn thấp. Người thứ nhất “ bắt đầu”,
hai chân hơi đạp đất tạo lực. Người thứ hai “ bắt đầu”, hai chân cũng đạp đất
tạo lực, hai tay bám chắc vào nhau, tạo lực đẩy hướng lên trên cho người lên
tháp.
Người lên tháp: Dùng hai tay mô phỏng hai chân tiếp đất, đặt trên mu
bàn tay người đỡ tháp (hình 4-65). Trước tiên, đặt một tay lên bên phải của
người đỡ tháp, sau đó dùng lực tay đè xuống dưới, mô phỏng cảm giác sức
mạnh của chân đang dẫm lên, tiếp tục đặt tay kia lên phía trái của người đỡ
tháp. Hô to nhịp “ 1, 2, 3, lên ”, tại thời điểm cuối cùng người lên tháp rút tay
ra, tức mô phỏng bắt đầu thực hiện động tác tung bắt.
Hình 4-65
Chú ý: Huấn luyện nhấn mạnh tính đồng nhất khi dùng sức của hai
người đỡ tháp. Nếu thời gian phối hợp không ăn ý, tức là không dự đoán vị trí
di chuyển khi tung của người lên tháp, như vậy sẽ rất khó bảo đảm an toàn.
3.2.2. Huấn luyện cách bước lên
Phương pháp huấn luyện này nhằm tăng độ chính xác của người lên
tháp khi di chuyển từ mặt đất lên tay người đỡ tháp (hình 4-66)
143
Người đỡ tháp: Nắm chắc hai tay với nhau, thành tư thế đứng tấn thấp.
Người lên tháp: Đặt tay lên vai người đỡ tháp, chân trái đặt về bên
phải người đỡ tháp, đảm bảo có thể đứng vững được. Sau đó kết hợp với nhịp
“1, 2, 3, lên”, dùng chân đạp đất tạo lực, khắc phục trọng lượng cơ thể, hai
chân đứng trên tay người đỡ tháp. Khi cả hai chân đã đặt lên mặt phẳng trụ,
giữ tư thế thân người, phần chống trụ phía dưới cần bảo đảm độ ổn định.
Hình 4-66
Người bảo hiểm (quan sát viên): Khi người thực hiện chuẩn bị bước
lên, hỗ trợ người lên tháp khắc phục trọng lượng cơ thể, bám chắc người lên
tháp, tránh xảy ra nguy hiểm đáng tiếc.
3.2. 3. Huấn luyện tư thế động tác hoàn chỉnh
Mục đích huấn luyện của phương pháp này đó là giúp người lên tháp
có thể đứng thẳng trên mặt phẳng chống trụ. Nhiều trường hợp thành viên đội
cổ động khi đứng trên “chân đế” biểu hiện rất rõ sự căng thẳng, điều này cũng
gây hạn chế về cao độ khi thực hiện tung bắt.
Người đỡ tháp: Chuẩn bị sẵn sàng, khi người thực hiện bước lên, hơi
chùng khớp gối, hai tay nắm chắc. Sau khi duỗi thẳng hai tay, duy trì tư thế
của tay, hạ thấp vị trí hai tay, bám chặt vào tay đồng đội.
Người lên tháp: Một chân đặt lên mặt phẳng trụ trước, hai tay chống
lên vai người đỡ tháp, chân kia bước tiếp lên, sau đó nhanh chóng đứng thẳng
lên, hai tay duỗi trên cao (hình 4-67). Sau khi duỗi thẳng cơ thể, chùng khớp
gối, hai tay chống lại trên vai người đỡ tháp.
144
Hình 4-67
Người bảo hiểm sau lưng: Hỗ trợ người thực hiện bước lên mặt phẳng
trụ, khi người thực hiện đã bước lên và đứng thẳng, bám vào vị trí hông và cổ
chân giúp giữ ổn định. Khi người lên tháp bước xuống, đỡ lấy phần hông của
họ nhằm bảo đảm an toàn.
Mục đích thực sự của phương pháp này nhằm tạo thói quen đứng trên
tay người đỡ tháp cho người lên tháp. Tư thế động tác hoàn chỉnh này nên
được giữ lâu trên tay người đỡ tháp, cho đến khi người lên tháp đã thành thục
động tác và cảm giác có thể hoàn thành nó một cách dễ dàng.
4. Huấn luyện thể lực trong thể dục cổ động.
4.1. Khái niệm.
Bài tập phát triển thể lực trong thể dục cổ động là phương tiện chính
được sử dụng trong các phần của thể dục cổ động gồm những động tác thể
dục phối hợp được thực hiện với các mức độ căng cơ (tốc độ, biên độ, dùng
sức) khác nhau nhằm phát triển toàn diện cơ thể, nâng cao thể lực chung và
trang bị các kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết cho người tập.
4.2. Ý nghĩa.
Bài tập phát triển thể lực trong thể dục cổ động là những động tác hay
bài tập cụ thể được sử dụng rộng rãi từ các nội dung của thể dục phát triển
chung như: Thể dục cơ bản, thể dục dụng cụ, thể dục bổ trợ các môn thể
thao…
145
Thông qua tập luyện các bài tập phát triển thể lực nhằm giúp người
tập phát triển toàn diện cơ thể và các tố chất thể lực cũng như tạo nền tảng
tiếp thu kỹ năng kỹ xảo vận động phức tạp hơn.
Bài tập phát triển thể lực hết sức phong phú và đa dạng, có thể tập tay
không hoặc với các dụng cụ nhẹ như: tạ tay, gậy thể dục, ghế thể dục, dây
nhảy, dây cao su, lò xo, dụng cụ thi đấu… và có thể tập cá nhân hoặc theo
nhóm, theo tập thể.
Bài tập phát triển thể lực được áp dụng rộng rãi trong thể dục cổ động
và tất cả các môn thể thao, dễ tập luyện, dễ điều chỉnh lượng vận động theo
mục đích nên nó là phương tiện có hiệu quả để phát triển toàn diện cơ thể và
các tố chất thể lực cơ bản.
4.3. Đặc điểm và tính chất.
Các bài tập phát triển thể lực tương đối đơn giản, dễ tiếp thu và có nội
dung hết sức phong phú và đa dạng dể áp dụng.
Bài tập phát triển thể lực có tác dụng chọn lựa lên từng bộ phận cơ
thể, từng nhóm cơ, từng tố chất, tùy theo mục đích và phương pháp tập luyện.
Đặc điểm này cho phép lựa chọn bài tập nhằm phát triển cân đối cơ thể, phát
triển từng tố chất thể lực hay từng kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản, sửa
chữa các tư thế sai lệch hay bệnh lý, phục hồi các chức năng vận động hoặc
các cơ quan khác của cơ thể.
Việc tổ chức tập luyện các bài tập phát triển thể lực tương đối đơn
giản, có người hướng dẫn hoặc tự tập, không đòi hỏi các trang thiết bị, dụng
cụ phức tạp.
Các bài tập phát triển thể lực dễ điều chỉnh lượng vận động tùy theo
mục đích tập luyện. Việc điều chỉnh lượng vận động dựa trên các yếu tố cơ
bản như: tăng giảm số lần lặp lại động tác, tăng giảm nhịp điệu động tác (
nhanh, chậm) khác nhau, sử dụng các phụ trọng khác nhau như: gậy, bóng
146
đặc, dây cao su, các loại tạ tay… hoặc thay đổi tư thế cơ thể ban đầu hay kết
thúc động tác… tập liên tục hay giãn cách.
Các bài tập phát triển thể lực thường lặp lại dễ gây ức chế và mệt mỏi
nên tùy thuộc mục đích và tính chất bài tập có thể tiến hành dưới các hình
thức trò chơi để tạo hưng phấn, giảm căng thẳng và mệt mỏi hoặc thay đổi các
bài tập mới kết hợp các phương tiện như âm nhạc… giữa các giai đoạn nhằm
nâng cao hiệu quả tập luyện.
4.4. Phân loại và sử dụng các bài tập phát triển thể lực trong thể
dục cổ động.
Cơ sở chính để phân loại và sử dụng bài tập phát triển thể lực là dựa
trên việc tác dụng chọn lựa của các động tác bài tập đó lên từng phần, từng
nhóm cơ hay tố chất riêng biệt của cơ thể người tập để phân chia thành các
nhóm chính như sau:
4.4.1. Các bài tập cho tay và bả vai.
Các bài tập cho bàn tay và ngón tay gồm.
- Các bài tập phát triển sức mạnh.
Ví dụ: Động tác bóp bóng ten nít, bóp lực kế, các tư thế chống đẩy
bằng đầu ngón tay…
- Các bài tập tăng cường độ linh hoạt khớp.
Ví dụ: Các động tác làm kéo căng, gấp, duỗi và xoay tròn bàn tay…
Các bài tập cho cẳng tay gồm:
- Các bài tập phát triển sức mạnh cẳng tay.
Ví dụ: Hai tay cầm tạ tay, dây cao su hoặc lò xo làm động tác gập duỗi
cẳng tay lặp lại, co tay trên xà đơn, chống đẩy trên xà kép hoặc leo dây, nằm
sấp hoặc nằm ngửa chống đẩy tay…
- Các bài tập tăng cường độ linh hoạt khớp khuỷu.
Ví dụ: Các động tác gập duỗi và quay cẳng tay kết hợp cầm các dụng
cụ nhẹ như tạ tay, gậy…
147
Các bài tập cho cánh tay và bả vai gồm:
- Các bài tập phát triển sức mạnh gấp duỗi khớp vai.
Ví dụ: Hai tay vít dây cao su hoặc vật nặng qua ròng rọc từ trên cao
xuống thấp lặp lại hoặc vít ngược lại, bài tập với các vật nặng và lượng đối
kháng khác.
- Các bài tập tăng cường độ linh hoạt khớp vai.
Ví dụ: Động tác đánh tay cao thấp, quay tròn cánh tay và kéo căng
khớp vai theo các hướng khác nhau với thang dóng hoặc với gậy thể dục, dây
cao su…
4.4.2. Các bài tập cho cổ .
Các bài tập tăng cường sức mạnh cổ.
Ví dụ: Hai tay ôm gáy, gắng sức gập đầu về trước, ra sau khắc phục
lực cản của tay, gập đầu các hướng khắc phục lực cản bên ngoài như dây cao
su, lò xo, vật nặng khác…
Các bài tập tăng cường linh hoạt khớp cổ.
Ví dụ: Gập đầu hoặc quay tròn đầu theo các hướng khác nhau lặp lại
nhiều lần…
4.4.3. Các bài tập cho chân.
Các bài tập cho bàn chân và cẳng chân.
Bài tập phát triển sức mạnh như đứng bật nhảy liên tục bằng bàn chân
hoặc nhảy dây, gánh tạ hoặc vật nặng đứng lên ngồi xuống gấp duỗi bàn chân
hoặc bật nhảy liên tục, cố định thân trên làm động tác gấp duỗi bàn chân với
dây cao su hoặc lò xo…
- Bài tập tăng cường độ linh hoạt khớp cổ chân và bàn chân như các
động tác gấp duỗi, quay tròn và ngồi lên bàn chân gấp về sau….
Các bài tập cho cơ đùi.
- Bài tập phát triển sức mạnh như gánh tạ đứng lên ngồi xuống hoặc
khắc phục ngoại lực của dây cao su, lò xo hay các vật nặng khác
148
- Bài tập tăng cường độ linh hoạt của khớp hông như các động tác đá
lăng chân với biên độ lớn theo các hướng, các động tác xoạc dọc hay xoạc
ngang kết hợp ngoại lực kéo căng khớp hông, đứng dạng chân quay tròn thân
giữa…
4.4.4. Các bài tập cho cơ thân mình.
Các bài tập tăng cường sức mạnh cơ phía trước.
Ví dụ: Nằm ngửa gập duỗi thân mình hoặc cố định tay hay chân làm
động tác gấp duỗi thân lặp lại kết hợp vật nặng hay khắc phục lượng đối
kháng bên ngoài.
Các bài tập tăng cường sức mạnh cơ phía sau.
Ví dụ: Nằm ngửa làm động tác gấp duỗi cơ lưng kết hợp khắc phục
ngoại lực khác như dây cao su và vật nặng, đứng gập thân gánh tạ gấp duỗi
lưng…
Các bài tập tăng cường sức mạnh cơ lườn.
Ví dụ: Nằm nghiêng làm động tác gấp duỗi cơ lườn lặp lại và kết hợp
khắc phục các ngoại lực khác.
Các bài tập phối hợp toàn thân.
Bài tập phối hợp toàn thân thường là các bài tập có tác dụng luân
phiên hoặc đồng thời lên các nhóm cơ chính của toàn thân hoặc các động tác
phối hợp ở nhiều tư thế (đứng, ngồi, nằm…) và có biên độ hoạt động lớn.
Ví dụ: - Nằm sấp chống đẩy tay kết hợp nâng và hạ từng chân ra sau.
- Nằm ngửa uốn cầu hoặc đứng ngả sau uốn cầu.
- Chống đẩy trên xà kép kết hợp ke chân vuông góc.
- Các bài tập với vật nặng luân phiên ở các tư thế và các nhóm cơ khác
nhau.
Các bài tập tăng cường linh hoạt cột sống.
Ví dụ:
149
- Gập duỗi và quay thân trên các hướng ở các tư thế đứng, ngồi hoặc
nằm .
- Lặp lại các động tác trên kết hợp khắc phục ngoại lực hay vật nặng
kéo căng phần thân trên.
4.5. Tổ chức tập luyện các bài tập phát triển thể lực.
4.5.1. Nguyên tắc lựa chọn và sắp xếp bài tập.
Nguyên tắc lựa chọn.
Động tác bài tập được lựa chọn phải phù hợp với mục đích và yêu cầu
buổi tập đặt ra.
Bài tập phải có tác dụng toàn diện lên cơ thể người tập (tác dụng lên
các nhóm cơ và phát triển các tố chất thể lực cơ bản).
Bài tập phải phù hợp với lứa tuổi, giới tính và trình độ thể lực của
người tập.
Nguyên tắc sắp xếp các động tác.
Phần đầu là các động tác có tác dụng rèn luyện tư thế cơ bản, đúng,
đẹp để làm nền tảng cho việc thực hiện các động tác sau. Yêu cầu này đặc biệt
cần thiết đối với các lứa tuổi nhỏ đang trưởng thành.
Tiếp sau là những động tác có cấu trúc đơn giản,nhưng có tác động
lên những nhóm cơ lớn và các cơ quan của cơ thể (như các động tác gập
thân kết hợp hoạt động tay vai, động tác chạy bộ nâng cao đùi).
Tiếp theo là các động tác ảnh hưởng trực tiếp đến các nhóm cơ của
từng phần cơ thể như (tay vai, cổ, chân, thân mình) với độ khó và mức độ
dùng sức tăng dần nhằm đảm bảo tăng lượng vận động và luân phiên tác động
lên từng phần của cơ thể, vừa kết hợp nghỉ ngơi tích cực nâng cao hiệu quả
tập luyện.
Tiếp sau là các động tác phối hợp phức tạp và huy động thể lực cao để
phát triển toàn diện cơ thể.
150
Cuối cùng là các động tác có cường độ trung bình để ổn định và rèn
luyện tư thế cơ bản.
Mỗi động tác hoặc bài tập liên hợp có thể lặp lại khoảng 4 lần 8 nhịp
hoặc nhiều hơn. Có thể tập tay không hoặc với các dụng cụ nhẹ như dây nhảy,
gậy thể dục, tạ tay, bóng đặc, dây cao su, tạ cử hay các động tác trên các dụng
cụ.
Hình thức tập luyện có thể tập cá nhân, hai người hay tập thể, tập
đồng loạt hoặc theo nhóm lệch pha kế tiếp nhau 1/2 hay 1/4 nhịp, có thể thực
hiện luân phiên giúp đỡ lẫn nhau, tập tại chổ hoặc di chuyển…
4.5.2. Phương pháp tổ chức lên lớp.
Phương pháp bình thường. Trước lúc thực hiện người tập được xem
làm mẫu hay thị phạm, sau đó giải thích ngắn gọn và nêu yêu cầu thực hiện,
tiếp theo sử dụng khẩu lệnh để chỉ huy và điều khiển tập luyện. Phương pháp
này thường được áp dụng rộng rãi.
Phương pháp liên tục
- Là tất cả các động tác hay bài tập được thực hiện liên tục từ động tác
này đến động tác khác không có dừng lại, nhằm làm tăng mật độ vận động
của bài tập và tăng cường hoạt động của các chức năng trong cơ thể, làm tăng
hiệu quả phát triển thể lực. Phương pháp này áp dụng phù hợp cho đối tượng
đã có trình độ chuẩn bị về thể lực và kỹ thuật nhất định.
- Khi thực hiện phương pháp này cần chú ý sử dụng các động tác
tương đối dễ và quen thuộc và có sự chuyển tiếp dễ dàng giữa các động tác.
Giảng viên kết hợp giữa lời nói, làm mẫu và dẫn dắt động tác mới ngay trong
lúc người tập đang thực hiện các nhịp cuối của động tác trước.
- Đặc điểm về phương pháp này là thực hiện động tác trong quá trình
di chuyển nên có thể tập bình thường hoặc kết hợp với nhảy múa hay nhào
lộn đơn giản, hoặc các hình thức khác để tăng tính hấp dẫn và tác dụng của
bài tập.
151
Chương 5
ĐIỀU LỆ THI ĐẤU GIẢI THỂ DỤC CỔ ĐỘNG
1. Những quy định chung khi tiến hành biên soạn điều lệ giải
1.1. Quy định đối tượng, đăng ký tham gia
Đối tượng tham gia:
Các vận động viên tham gia đội tuyển phải đảm bảo 03 tiêu chuẩn sau:
- Là học sinh, sinh viên hiện đang học tại các trường ở Việt Nam. Có độ
tuổi từ 6 đến 25 tuổi.
- Có đạo đức tốt và học lực từ trung bình trở lên.
- Có xác nhận đủ sức khỏe tham gia hoạt động thể thao của Giải do cơ
quan có thẩm quyền cấp.
- Mỗi vận động viên chỉ được thi đấu cho 01 trường.
Quy định đăng ký tham gia
- Tuỳ thuộc vào các cấp học và phạm vi tổ chức giải.
- Số lượng Vận Động Viên : Tối thiểu tham dự giải là 15 VĐV/trường.
- Bản đăng ký phải theo mẫu do Ban Tổ chức cung cấp (có dấu xác nhận
của Ban Giám hiệu nhà trường), trong đó có:
+ 01 ảnh (10x15cm) chụp chung tất cả các thành viên của đội tham dự.
+ Mỗi vận động viên nộp 03 tấm hình chân dung 3x4cm (ảnh chụp chưa
quá 06 tháng), trong đó 01 ảnh dán trực tiếp vào đơn đăng ký tham dự và có
đóng dấu giáp lai, 02 ảnh còn lại đính kèm hồ sơ; 01 chứng minh nhân dân
photo hoặc thẻ Học sinh, Sinh viên photo (không cần công chứng); 01 bảng
điểm học tập và điểm rèn luyện của học kỳ gần nhất khi tham dự phải có xác
nhận từ nhà trường.
+ Mỗi vận động viên phải nộp 01 giấy xác nhận đầy đủ sức khỏe tham
dự các hoạt động thể thao do cơ quan có thẩm quyền cấp.
2. Nội dung thi đấu
152
2.1. Cấu trúc:
- Có phần mở bài và phần kết thúc.
- Phải có ít nhất 05 đội hình di chuyển, khuyến khích nhiều đội hình
phong phú và đa dạng hơn.
- Phải có 03 động tác bật nhảy bắt buộc trong bài thi: Bật tách chân chữ
V gập thân, bật khép chân gập thân và bật cossack (tất cả các thành viên của đội
đều phải thực hiện).
- Phải có các kỹ thuật sau: Ít nhất 02 lần tung hứng, ít nhất 02 lần nhào
lộn, ít nhất có 03 đội hình xếp tháp trong bài dự thi.
2.1. Hô cổ động (Cheer):
- Hô cổ động ít nhất 10 giây, tối đa 30 giây, các đoạn cổ động phải vui
tươi, lành mạnh, gây được sự chú ý và sự phấn khích của khán giả. Nội dung hô
cổ động cần làm nổi bật lên thông điệp, tên trường, tên đội của mình, tên giải
hoặc tên sản phẩm của nhà tài trợ bằng tiếng Anh hoặc tiếng Việt và phải bằng
giọng thật của các thành viên trong đội.
- Được sử dụng tất cả các dụng cụ mang tính cổ động như bông tua,
bảng chữ, ống loa, cờ,… (tất cả các vật dụng khi mang vào sử dụng phải thông
báo trước cho đại diện Ban Tổ chức trước 3 ngày để đảm bảo an toàn khi thi
đấu).
* Lưu ý: Các đội có thể thực hiện bài thi có hoặc không có dụng cụ.
2.3. Nâng người (Partner stunts)(được sử dụng người bảo hiểm):
- Yêu cầu phải có động tác lên và động tác xuống rõ ràng.
- Kỹ thuật được chấp nhận khi thực hiện với 02 đế (hoặc 01 đế).
- Yêu cầu chuyển đổi các tư thế trên tay bạn diễn liên tục (lưu ý các tư
thế chuyển đổi không được lặp lại quá 02 lần trên 01 động tác nâng người).
2.4. Tư thế cơ bản. Đứng thẳng trên tay đế (Extension/Elevator).
2.5. Tư thế trung bình:
- Một chân thẳng một chân co ngang gối (Liberty).
153
- Thăng bằng trước, ngang.
- Thăng bằng sau (Scale).
2.6. Tư thế nâng cao:
- Tư thế bọ cạp (Scorpion), tư thế giương cung (Bow and Arrow).
- Phải được thực hiện với tất cả các thành viên của đội (đội 20 người
phải có 5 nhóm thực hiện).
2.7. Xếp tháp (Pyramid):
- Yêu cầu trong bài thi phải có tối thiểu 3 lần nâng tháp trở lên.
- Phải thực hiện nhiều chuyển động hoặc thay đổi tư thế khi tạo hình
tháp.
- Tháp được thực hiện với tất cả các thành viên trong đội.
2.8. Tung hứng (Basket Tosses):
- Hành động tung hứng sẽ được tính bằng cách khi chân người được
tung rời khỏi tay của người tung và kết thúc trên tay đồng đội.
- Yêu cầu độ cao khi tung hứng phải vượt qua chiều cao 02 người đứng.
- Khi tung hứng trên không có thể thực hiện các động tác của thể dục
như:
+ Bật thẳng (Straight Ride).
+ Bật tách chân chữ V gập thân ( Toe touch), bật khép chân gập thân
(Pike).
+ Bật căng thân chữ X (X – out).
+ Santo trước, Santo sau.
2.9. Kỹ thuật Nhào lộn (Acrobatic – Jump):
- Nhào lộn cơ bản: lộn chống nghiêng.
- Chống lộn trước (bật cầu trước một chân hoặc hai chân).
- Chống lộn sau (bật chống, santo ôm gối, santo thẳng người).
- Bật căng thân chữ X (X-out).
154
- Bật dạng gập thân, bật gập thân co duỗi 01 chân, bật gập thân kép 02
chân.
2.10. Vũ đạo dance:
- Các bước nhảy mang tính mạnh mẽ của thể dục cổ động và các động
tác chuyển tiếp (có tiết tấu thay đổi phù hợp và khớp với vũ đạo).
- Có thể áp dụng, kết hợp tất cả các loại hình nhảy cho phần dự thi, ví
dụ: Hip-hop, Breakin’, Poppin’, Lockin’, House, Krumpin’, Jazz, dance sport,
belly dance, …
2.11. Thời gian thi đấu: Thời gian bài thi đấu: 4’00’’ ± 15’’ (từ nhịp
nhạc đầu tiên đến nhịp nhạc cuối cùng);
2.12. Âm nhạc: Nhạc phải được ghi trên đĩa CD, USB riêng biệt, sử
dụng nhạc nền có lời hoặc không lời, được ghi âm liên tục (nếu dừng không
được phép quá 30’’). Một đại diện của đội sẽ đưa tín hiệu bắt đầu và dừng nhạc.
Các đội phải nộp bài nhạc cho Ban Tổ chức bằng USB và đĩa CD với chất
lượng âm thanh tốt và chịu trách nhiệm về nội dung và bản quyền.
2.13. Những động tác không được phép:
- Cấm sử dụng hiệu ứng âm thanh để hô cổ động.
- Cấm đeo trang sức và đeo kính cận, sử dụng trợ thính.
- Cấm các chủ đề về bạo lực, tôn giáo, phân biệt chủng tộc, giới tính và
đạo đức.
2.14. Sàn thi đấu: kích thước 15 x 15m
2.15. Trang phục thi đấu:
- Phải là chất liệu thun co giãn dễ cử động, sử dụng giày thể thao mềm
dễ thực hiện bài thi, tung hứng, nâng tháp và đồng phục phải thống nhất trong
toàn đội.
- Bài thi phải thể hiện sự sáng tạo và nội dung đặc trưng của Nhảy và Cổ
động (Cheerdance) thể hiện các động tác khỏe khoắn, phù hợp với khả năng
155
vận động của các thành viên trong đội, phần trình diễn phải mang tính tương
tác, phối hợp của toàn đội.
* Đối với Nam: Quần thun ngắn hoặc dài, áo thun dài tay, ngắn tay hoặc
sát nách.
* Đối với Nữ:
- Quần thun ngắn hoặc dài, váy, áo thun dài tay hoặc ngắn tay hoặc sát
nách (được phép hở bụng).
- Tóc phải được buộc gọn gàng không gây ảnh hưởng trong quá trình
thực hiện bài thi, đặc biệt là tránh gây chấn thương vì tầm nhìn bị che khuất.
- Được phép trang điểm, trang trí với những hình ảnh thể hiện nội dung
lành mạnh, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
3. Hình thức thi đấu
Vòng loại (trường, Quận – huyên, thành phố, khu vực)
Vòng chung kết (trường, Quận – huyên, thành phố, khu vực)
Vòng chung kết toàn quốc:
- Các đội sẽ thể hiện bài dự thi của mình theo thứ tự bốc thăm. Ban Tổ
chức sẽ xét theo tổng số điểm đạt đạt được để xếp thứ hạng.
1. Điều lệ (ví dụ mẫu).
156
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
LIÊN ĐOÀN THỂ DỤC
Số : …/ĐL-LĐTD ……….., ngày … tháng … năm ….
ĐIỀU LỆ GIẢI
THỂ DỤC CỔ ĐỘNG SINH VIÊN & THANH NIÊN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG MỞ RỘNG NĂM …….
CÚP ……………
Điều 1. Mục đích ý nghĩa:
- Tiếp tục đẩy mạnh phong trào rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ
vĩ đại.
- Nhằm xây dựng phong trào tập luyện Thể dục Thể thao và tạo sân
chơi bổ ích cho Học sinh, Sinh viên tại các trường TH phổ thông , Đại học,
Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp. Sở giáo dục và Đào tạo, Liên đoàn
Thể dục Việt nam, Trung tâm TDTT ………………… phối hợp tổ chức với
sự tài trợ của nhãn hàng …………….
Điều 2 : Đối tượng - điều kiện tham dự:
a. Đối tượng:
- Tất cả Học sinh, Sinh viên đang học tập ở các trường Trung học phổ
thông, Đại học, Cao đẳng và Trung học cấp chuyên nghiệp trên địa bàn TP.Đà
Nẵng.
b. Điều kiện tham dự:
- Mỗi đơn vị được quyền đăng ký nhiều đội (VĐV chỉ được đăng ký thi
đấu cho 01 đội )
- Số lượng tham dự: Từ 15 đến 20 VĐV (và 2 VĐV dự bị).
- Danh sách đăng ký tham dự phải có xác nhận của đơn vị chủ quản
(theo mẫu)
157
Điều 3. Tính chất thi đấu:
a. Tính chất:
Khối TH phổ thông : lớp 10 - 12
Khối Đại học,Cao đẳng ,Trung cấp chuyên nghiệp:
Bảng A: Các trường chuyên nghiệp và có thành tích các giải TDCĐ
Bảng B: Các trường không chuyên và chưa có thành tích các giải
TDCĐ
- Vòng loại: mỗi bảng Ban tổ chức chọn 05 đội có số điểm cao nhất
vào thi chung kết
- Chung kết: 05 đội của mỗi khối, bảng sẽ tranh thứ hạng : Nhất, Nhì,
Ba và 02 giải khuyến khích.
b. Luật thi đấu:
Thời gian bài thi: 2 phút 30” ± 10” (từ nhịp nhạc đầu tiên đến nhịp
nhạc cuối cùng)
- Âm nhạc: Sử dụng nhạc nền có lời hoặc không lời, nhạc phải được ghi
liên tục (nếu dừng không được phép quá 10”), được ghi trên một đĩa nhạc riêng
biệt và ghi tên đơn vị.
- Các đội phải nộp bài nhạc cho BTC đĩa CD với chất lượng âm thanh
tốt và tự chịu trách nhiệm về nội dung và bản quyền;
- Trang phục: quần short, Short váy, áo thun dài tay, ngắn tay hoặc sát
nách được phép hở bụng đối với Nữ. Quần dài, áo tay dài hoặc ngắn tay đối
với Nam nhưng phải là chất liệu thun co giãn dễ cử động. Sử dụng giầy thể
thao mềm dễ thực hiện bài thi, tung hứng, nâng tháp và đồng phục phải thống
nhất trong toàn đội;
- Tóc phải được buộc gọn gàng không gây ảnh hưởng trong quá trình
thực hiện bài thi, đặc biệt là tránh gây chấn thương vì tầm nhìn bị che khuất;
158
- Được phép trang điểm, trang trí với những hình ảnh thể hiện nội
dung lành mạnh, phát huy bản sắc nền văn hoá dân tộc truyền thống của Việt
Nam;
* Được phép
- Có mở bài và kết thúc khớp với nhạc nền;
- Hô khẩu hiệu ít nhất 10”, các đoạn Cheer phải vui tươi, lành mạnh.
Nêu bật được nội dung muốn cổ động của đội mình, tên trường, tên đội, tên
Giải hoặc tên sản phẩm của nhà tài trợ cho Giải bằng tiếng Việt và phải bằng
giọng thật của các thành viên trong đội;
- Bài thi phải thể hiện sự sáng tạo và nội dung đặc trưng của thể dục
cổ động thể hiện những động tác khỏe khoắn, phù hợp với khả năng vận động
của các thành viên trong đội, phần trình diễn phải mang tính tương tác, phối
hợp của toàn đội.
- Phải có ít nhất 5 đội hình di chuyển, khuyến khích nhiều đội hình phong
phú và đa dạng;
- Sử dụng các bước nhảy hiện đại, đa dạng như: Hiphop Dance, Break
Dance….
- Phải có 03 động tác bật nhảy bắt buộc trong bài thi: Bật dạng gập
thân, bật dạng chân chữ X và bật cossack (phải được thực hiện tất cả các
thành viên của đội).
- Phải nâng tháp: Đôi, ba, bốn người…. trở lên (cho phép HLV bảo
hiểm).
- Các động tác thể dục nhào lộn như : Lộn xuôi, Lộn chống nghiêng,
Lộn chống ,Xanto trước, xanto sau ….
- Các động tác tung hứng mạo hiểm (Stunt): Hành động tung hứng bạn
diễn sẽ được tính bằng cách chân… rời khỏi tay của đồng đội, tiếp đất hoặc
trên tay đồng đội. Được sử dụng tất cả các dụng cụ mang tính cổ động như
bông tua, lụa, vòng, hoa, cờ, quạt.
159
* Không được phép
- Cấm sử dụng các động tác Ballet.
- Cấm rơi xuống sàn bằng đùi hoặc mông.
- Cấm đeo trang sức và đeo kính cận, dụng cụ trợ thính.
- Cấm các chủ đề về bạo lực, tôn giáo, phân biệt chủng tộc, giới tính
và đạo đức.
* Quy định về chấm điểm:
A. Thang điểm đánh giá bài thi: Tổng điểm: 100 điểm
1. Ấn tượng chung, phong cách biểu diễn lôi cuốn: 20 điểm
- Xuất sắc : 17 - 20 điểm
- Tốt : 13 - 16 điểm
- Khá : 09 - 12 điểm
- Trung bình : 05 - 08 điểm
- Dưới trung bình : 01 - 04 điểm
2. Nghệ thuật cổ động, kỹ năng quảng cáo và thể hiện tinh thần: 20
điểm
- Xuất sắc : 17 – 20 điểm
- Tốt : 13 – 16 điểm
- Khá : 09 – 12 điểm
- Trung bình : 05 – 08 điểm
- Dưới trung bình : 01 – 04 điểm
3. Kỹ năng thực hiện chung và các bước nhảy: 15 điểm
- Xuất sắc : 13 – 15 điểm
- Tốt : 10 – 12 điểm
- Khá : 07 – 09 điểm
- Trung bình : 04 – 06 điểm
- Dưới trung bình : 01 – 03 điểm
4. Bố trí khoảng cách và di chuyển đội hình: 10 điểm
160
- Xuất sắc : 09 – 10 điểm
- Tốt : 07 – 08 điểm
- Khá : 05 – 06 điểm
- Trung bình : 03 – 04 điểm
- Dưới trung bình : 01 – 02 điểm
5. Thực hiện các động tác thể dục: 15 điểm
- Xuất sắc : 13 – 15 điểm
- Tốt : 10 – 12 điểm
- Khá : 07 – 09 điểm
- Trung bình : 04 – 06 điểm
- Dưới trung bình : 01 – 03 điểm
6. Thực hiện các động tác nhào lộn: 20 điểm
- Xuất sắc : 17 – 20 điểm
- Tốt : 13 – 16 điểm
- Khá : 09 – 12 điểm
- Trung bình : 05 – 08 điểm
- Dưới trung bình : 01 – 04 điểm
B. Các điểm bị trừ:
- Trang phục không đúng : Trừ 5 điểm.
- Vi phạm thời gian: Thừa/thiếu thời gian < 10” : Trừ 2 điểm
Thừa/thiếu thời gian > 10” : Trừ 5 điểm
- Thiếu kỹ thuật bật nhảy quy định : Trừ 5 điểm/ động tác
- Độ cao của tháp quá 02 người đứng : Trừ 5điểm/lần
- Thiếu các bước nhảy : Trừ 15 điểm
- Thiếu các động tác thể dục : Trừ 15 điểm
- Các động tác, nội dung bị cấm : Trừ 5 điểm/lần
- Đeo trang sức : Trừ 1 điểm/người
161
- Các đội và HLV không mặc đúng trang phục thể thao và ngồi không
đúng vị trí do BTC quy định : Trừ 5 điểm/đội
Điểm của mỗi đội được tính bằng cách lấy trung bình cộng số điểm
của các thành viên BGK (Tổng điểm các giám khảo chia cho số giám khảo),
lấy từ cao xuống thấp.
Trong trường hợp bằng điểm sẽ căn cứ vào các điểm được xếp theo
thứ tự từ cao xuống thấp như sau để xếp hạng:
1. Thực hiện các động tác nhào lộn.
2. Kỹ năng thực hiện chung và các bước nhảy.
3. Thực hiện các động tác thể dục.
4. Nghệ thuật cổ động, kỹ năng quảng cáo và thể hiện tinh thần.
5. Bố trí khoảng cách và di chuyển đội hình.
Điều 4. Thời gian – Địa điểm thi đấu:
- Hạn chót đăng ký: 04/11/20……
- Họp lãnh đội và bốc thăm xếp lịch: 06/12/20…... (09g00)
- Thi vòng loại 26/12/20… (17g30)
- Thi chung kết 27/12/20… (17g30)
- Địa điểm đăng ký, họp lãnh đội, bốc thăm và thi đấu:
Tại Trung tâm TDTT…………………………………………….
- Nhận hồ sơ đăng ký thi đấu :
Nhà Trung tâm TDTT ……………… : Anh (chị) …………..
– Điện thoại : …………………..
Điều 5. Giải thưởng – Kỷ luật
a. Khen thưởng:
Ban tổ chức sẽ trao giải thưởng Cúp và tiền mặt: Nhất – Nhì – Ba và
02 khuyến khích theo nhóm như sau:
1- Khối : Trung học phổ thông : Nhất ,Nhì , Ba và 02 khuyến khích
2- Khối Đại học , cao đẳng :
162
- Bảng A : Nhất ,Nhì , Ba và 02 khuyến khích
- Bảng B : Nhất ,Nhì , Ba và 02 khuyến khích
Giải thưởng phụ:
* Giải Nam - Nữ khoẻ đẹp (VĐV có gương mặt đẹp, hình dáng khoẻ
mạnh và thực hiện tốt bài thi )
* Giải Cổ động viên trên khán đài: 100 người trở lên (có dụng cụ cổ
động)
b. Kỷ luật:
- Ban tổ chức sẽ đình chỉ việc chỉ đạo của HLV và thi đấu của VĐV
khi phát hiện có thái độ không đứng đắn với Ban tổ chức và Trọng tài.
- Ban tổ chức sẽ hủy kết quả thi đấu khi VĐV không dự lễ trao
thưởng.
Điều 7. Các điều khoản khác :
- Các đơn vị tham dự giải tự túc về kinh phí .
- Các đội không được quyền khiếu nại về kết quả điểm và phải chấp
hành theo sự phán quyết của Hội đồng trọng tài và BTC.
- Chỉ có Ban tổ chức mới có quyền thay đổi điều lệ này./
Nơi nhận:
- Hội Sinh viên Thành phố;
- Liên đoàn Thể dục;
- Đảng ủy, BGH các trường;
- Thành viên Ban Tổ chức;
- Lưu: VP.
163
ĐƠN VỊ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
_______________________ Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
_______________________
DANH SÁCH ĐĂNG KÝ
GIẢI THỂ DỤC CỔ ĐỘNG (CHEERLEADING)
SINH VIÊN & THANH NIÊN MỞ RỘNG NĂM ……………
Lãnh đội : _____________________ Điện thoại :_______________
HLV : _______________________ Điện thoại :_______________
Nhóm : _________________________________________________
ẢNH VĐV HỌ VÀ TÊN NĂM SINH
Họ và tên :____________ Họ và tên :__________ Họ và tên :__________
N.Sinh : ______________ N.Sinh : ____________ N.Sinh : ___________
Họ và tên :___________ Họ và tên :__________ Họ và tên :__________
N.Sinh : _____________ N.Sinh : ____________ N.Sinh : ___________
Họ và tên :___________ Họ và tên :__________ Họ và tên :__________
N.Sinh : _____________ N.Sinh : ____________ N.Sinh : ___________
……………. ,ngày tháng năm
Hiệu trưởng
164
4. Quy tắc cho điểm môn thể dục cổ động
4.1. Cách đánh giá.
4.1.1. Bài biên soạn.
Thể dục cổ động vũ đạo
Động tác phải dựa trên nền nhạc để biên soạn, phải mang đặc thù của
môn thể dục cổ động vũ đạo. Áp dụng hoạt động của tay, hoạt động của chân,
thân mình và bật nhảy kết hợp với nhiều loại nhân tố vũ đạo, đạo cụ, khẩu
hiệu...thông qua biến hóa thay đổi về thời gian, phương hướng, đội hình, nhịp
điệu làm nổi bật rõ nét đặc trưng và phong cách của bộ môn này. Trong thể dục
cổ động vũ đạo nếu xuất hiện nhóm động tác nhào lộn thì cũng không được
đánh giá là có độ khó. Thể dục cổ động vũ đạo cho phép xuất hiện tạo hình tháp
với chủ đề chính là vũ đạo, nhưng không được vượt quá độ cao của 2 người, tạo
hình tháp này chỉ xuất hiện với vai trò là cơ sở của bài qui định.
Thể dục cổ động kỹ xảo
Động tác phải dựa trên nền nhạc để biên soạn, phải mang đặc thù của
môn thể dục cổ động kỹ xảo. Bài qui định phải bao hàm được động tác thuộc 4
nhóm độ khó của thể dục cổ động kỹ xảo, mỗi loại phải xuất hiện ít nhất một
lần, áp dụng các động tác cơ bản của thể dục cổ động kết hợp với yếu tố vũ đạo,
đạo cụ, khẩu hiểu..., tận dụng những chuyển biến về không gian, phương
hướng, đội hình để thể hiện đặc trưng chuyên môn cùng kỹ năng tập thể vượt
trội của thể dục cổ động
4.1.2. Mức độ hoàn thành.
Các động tác trong bài qui định phải được hoàn thành một cách chính
xác và hoàn mĩ, bao gồm chính xác trong cả tư thế cơ thể và vị trí tay, kỹ thuật
kỹ xảo, động tác khó, kết hợp đạo cụ, tính rõ ràng của động tác, lực, tính nhất
quán, khả năng thể hiện, kết hợp với âm nhạc cùng những nội dung khác khi
thực hiện động tác.
4.1.3. Động tác khó
165
Thể dục cổ động vũ đạo
Phân loại độ khó của động tác theo bài trong thể dục cổ động vũ đạo
chia làm 3 nhóm: lần lượt là nhóm thăng bằng quay người, nhóm bật nhảy và
nhóm đá chân. Tiêu chuẩn hoàn thành thấp nhất của 3 nhóm độ khó như sau:
- Nhóm thăng bằng và quay người: Khi kết thúc động tác, góc quay phải
trọn vẹn, trọng tâm ổn định.
- Nhóm bật nhảy: Thực hiện rõ ràng về tư thế, góc độ và độ mở đối với
mỗi một loại động tác bật nhảy.
- Nhóm đá chân: Động tác mở đầu và kết thúc phải hoàn chỉnh, rõ ràng,
cao độ khi đá chân cần đạt được yêu cầu của bảng độ khó, nhóm động tác thăng
bằng phải giữ trong 2 giây.
Thể dục cổ động kỹ xảo
Phân loại độ khó của động tác theo bài trong thể dục cổ động kỹ xảo
chia làm 4 nhóm: lần lượt là nhóm nhào lộn, nhóm lên tháp cơ bản, nhóm tạo
hình kim tự tháp (lên tháp phức tạp) và nhóm tung-bắt. Tiêu chuẩn hoàn thành
thấp nhất của 4 nhóm độ khó như sau:
- Nhóm nhào lộn: Góc quay người khi kết thúc động tác phải hoàn
chỉnh, khi thực hiện động tác nhào lộn cho phép các thành viên khác bảo hiểm.
- Nhóm lên tháp cơ bản: Thể hiện rõ ràng hình dạng của tháp đồng thời
giữ khống chế trong 2 giây, các động tác quá độ khi lên tháp không được tính là
tạo hình mới của tháp, nhưng đối với những động tác quá độ hình thành nên tạo
hình tháp mới và giữ được sau 2 giây sẽ được xem như là tạo hình tháp, vì vậy
vẫn được tính độ khó cũng như cho điểm.
- Nhóm lên tháp phức tạp: Thể hiện rõ ràng hình dạng của tháp phức tạp
đồng thời giữ khống chế trong 2 giây, các động tác quá độ khi lên tháp phức tạp
không được tính là tạo hình mới của tháp, nhưng đối với những động tác quá độ
hình thành nên tạo hình tháp mới và giữ được sau 2 giây sẽ được xem như là tạo
hình tháp, vì vậy vẫn được tính độ khó cũng như cho điểm.
166
- Nhóm tung- bắt: Mở đầu và kết thúc của động tác phải hoàn thiện, rõ
ràng, tư thái của người thực hiện trên không phải đạt được yêu cầu về độ khó.
4.2. Thang điểm đánh giá. (tổng điểm: 100)
4.2.1. Bài biên soạn (50 điểm)
Được cấu thành bởi 6 nội dung, bao gồm: thiết kế động tác, chủ đề và
phong cách kỹ thuật, thực hiện và liên kết, âm nhạc sử dụng, biểu diễn và phục
trang, động tác bắt buộc. Tiêu chuẩn đánh giá như sau:
Rất tốt: 8- 10 điểm
Tốt: 6-7 điểm
Trung bình: 4-5 điểm
Kém: 2-3 điểm
Rất kém: 0-1 điểm
Thiết kế động tác (10 điểm)
Thiết kế động tác theo bài phải thể hiện được tính đa dạng và tính sáng
tạo của chủ đề, nhằm nổi bật tính phức tạp và giá trị nghệ thuật của nhóm động
tác này.
Chủ đề và phong cách kỹ thuật (10 điểm)
Động tác theo bài cần nổi trội sự mới mẻ của chủ đề biểu diễn. Khái
niệm của chủ đề biểu diễn rất rộng, nó có thể là một dạng tinh thần, một kiểu tư
tưởng, hay một màn biểu diễn kinh kịch mang tính tượng trưng.... Động tác
theo bài có thể được thể hiện kết hợp cùng đạo cụ, khi sử dụng đạo cụ phải nổi
bật được giá trị, ví dụ nội dung phong phú hay những gì mà chủ đề yêu cầu.
Phong cách kỹ thuật đặc thù của thể dục cổ động không giống với thể
dục nhịp điệu hay vũ đạo, nó tập trung thể hiện nhiều hơn quá trình chuyển
động của cơ thể thông qua những hoạt động trong thời gian ngắn, tốc độ, có
định vị rõ ràng, nhằm toát lên cảm giác sức mạnh riêng biệt trong thể dục cổ
động, những động tác chậm rãi tương đối có thể được chấp nhận, nhưng lưu ý
chỉ nên xuất hiện với vai trò là động tác quá độ
167
Thực hiện và liên kết (10 điểm)
Thể dục cổ động vũ đạo: Thực hiện và liên kết của mỗi một động tác
hay một nhóm động tác phải thể hiện được tính hợp lý, tính độc đáo, tính tổng
thể của tập thể, nó bao gồm cả thực hiện và liên kết giữa độ khó của động tác
Thể dục cổ động kỹ xảo: Thực hiện và liên kết của mỗi một động tác
hay một nhóm động tác phải thể hiện được tính hợp lý, tính độc đáo, tính tổng
thể của tập thể, nó bao gồm cả thực hiện cùng liên kết của động tác lên và xuống
khi thực hiện lên tháp cơ bản cũng như lên tháp phức tạp
Sử dụng âm nhạc (10 điểm)
Thiết kế động tác theo bài bắt buộc phải ăn khớp với phong cách, nhịp
điệu và chủ đề của nhạc.
Biều diễn và phục trang (10 điểm)
VĐV khi thực hiện động tác theo bài cần thông qua nhiều hình thức
khác nhau thể hiện sự tự tin và sức sống lành mạnh, mỗi một đội dự thi cần có
những cách riêng để tăng sự lôi cuốn khi xuất hiện, từ đó nổi bật lên phong thái
tốt nhất.
Động tác bắt buộc
Động tác bắt buộc là những động tác được qui định đặc biệt trong nhóm
động tác theo bài, nó phải xuất hiện trong bài thi, thiếu một nhóm động tác bắt
buộc sẽ bị trừ một điểm.
Thể dục cổ động vũ đạo.
- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện 1 nhóm động tác tổ
hợp đối chiếu gồm 2 lần 8 nhịp, nếu thiếu sẽ bị trừ 1 điểm.
- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện 1 nhóm tổ hợp động
tác tay cơ bản của thể dục cổ động gồm 4 lần 8 nhịp, nếu thiếu sẽ bị trừ 1 điểm.
- Biến hóa về đội hình trong động tác theo không được dưới 5 lần, nếu
thiếu 1 lần sẽ bị trừ 1 điểm.
168
- Trong động tác theo bài, mỗi một tổ hợp 1 lần 8 nhịp phải xuất hiện 1
lần thay đổi về phương hướng, nếu vượt quá 8 nhịp, mỗi lần sẽ bị trừ 1 điểm.
- Trong động tác theo bài, mỗi một tổ hợp 4 lần 8 nhịp phải xuất hiện 1
lần thay đổi lên xuống trong không trung, nếu vượt quá qui định, mỗi lần sẽ bị
trừ 1 điểm.
- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện một nhóm tổ hợp
động tác vũ đạo có cá tính ít nhất gồm 6 lần 8 nhịp, nếu thiếu sẽ bị trừ 1 điểm.
Thể dục cổ động kỹ xảo
- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện 1 nhóm động tác tổ
hợp đối chiếu gồm 2 lần 8 nhịp, nếu thiếu sẽ bị trừ 1 điểm.
- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện 1 nhóm tổ hợp động
tác tay cơ bản của thể dục cổ động gồm 4 lần 8 nhịp, nếu thiếu sẽ bị trừ 1 điểm.
- Trong thể dục cổ động bắt buộc phải thiết kế một nhóm khẩu hiệu kéo
dài 30 giây, cho phép trước sau có 5 giây mở (không tính), nếu thiếu sẽ bị trừ 1
điểm
- Biến hóa về đội hình trong động tác theo không được dưới 5 lần, nếu
thiếu 1 lần sẽ bị trừ 1 điểm
- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện một nhóm tổ hợp
động tác vũ đạo có cá tính ít nhất gồm 6 lần 8 nhịp, nếu thiếu sẽ bị trừ 1 điểm.
- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện một nhóm động tác tổ
hợp bật nhảy tại chỗ,nếu thiếu hoặc vượt quá sẽ bị trừ 1 điểm.
4.2.2. Mức độ hoàn thành (50 điểm)
Nếu thực hiện nhưng chưa đạt đến tiêu chuẩn thì sẽ căn cứ vào mức độ
hoàn thành thực tế dựa trên những nhân tố dưới đây tiến hành trừ điểm.
169
Thể dục cổ động vũ đạo
Bảng 5.1 Tiêu chuẩn trừ điểm đối với mức độ hoàn thiện
Mức độ lỗi Mô tả lỗi Tiêu chuẩn trừ điểm
Các lỗi nhỏ, khác biệt không đáng Mỗi lần trừ 0.2 điểm Lỗi rất nhỏ kể so với hoàn thành chính xác
Lỗi có sự khác biệt tương đối rõ so Mỗi lần trừ 0.3 điểm Lỗi nhỏ với hoàn thành chính xác
Lỗi có sự khác biệt rõ so với hoàn Mỗi lần trừ 0.4 điểm Lỗi trung thành chính xác
Lỗi nghiêm trọng có sự khác biệt rất Mỗi lần trừ 0.5 điểm Lỗi lớn rõ so với hoàn thành chính xác
Do cơ thể thiếu khống chế nên dẫn Mỗi lần trừ 2 điểm
đến trường hợp rơi tự do, thậm chí là Sai phạm những trường hợp tiếp đất bất bình
thường
Sai phạm trong mỗi một động tác Trừ tối đa: 1 điểm Động tác khó khó
Sai tiết tấu nhạc Động tác không ăn khớp với nhạc Mỗi lần trừ 0.3 điểm
Lỗi đồng bộ Xuất hiện lỗi đồng bộ Mỗi lần trừ 0.3 điểm
Động tác bị dừng trong vòng 8 nhịp Mỗi lần trừ 1 điểm Động tác gián
đoạn Động tác bị dừng trên 8 nhịp Mỗi lần trừ 2 điểm
Nhanh chóng nhặt lại đạo cụ sau khi Mỗi lần trừ 1 điểm
rơi và tiếp tục thực hiện động tác
Rơi đạo cụ Không nhặt lại đạo cụ và tiếp tục Mỗi lần trừ 2 điểm
thực hiện động tác sẽ bị xem là mất
đạo cụ
170
Thể dục cổ động kỹ xảo
Bảng 5.2 Tiêu chuẩn trừ điểm đối với mức độ hoàn thiện
Tiêu chuẩn trừ Mức độ lỗi Mô tả lỗi điểm
Các lỗi nhỏ, khác biệt không đáng kể Mỗi lần trừ 0.2 điểm Lỗi rất nhỏ so với hoàn thành chính xác
Lỗi có sự khác biệt tương đối rõ so Mỗi lần trừ 0.3 điểm Lỗi nhỏ với hoàn thành chính xác
Lỗi có sự khác biệt rõ so với hoàn Mỗi lần trừ 0.4 điểm Lỗi trung thành chính xác
Lỗi nghiêm trọng có sự khác biệt rất Mỗi lần trừ 0.5 điểm Lỗi lớn rõ so với hoàn thành chính xác
Do cơ thể thiếu khống chế nên dẫn Mỗi lần trừ 2 điểm
đến trường hợp rơi tự do, thậm chí là Sai phạm những trường hợp tiếp đất bất bình
thường
Động tác khó Sai phạm trong mỗi một động tác khó Trừ tối đa: 1 điểm
Sai tiết tấu nhạc Động tác không ăn khớp với nhạc Mỗi lần trừ 0.3 điểm
Lỗi đồng bộ Xuất hiện lỗi đồng bộ Mỗi lần trừ 0.3 điểm
Động tác bị dừng trong vòng 8 nhịp Mỗi lần trừ 1 điểm Động tác gián
đoạn Động tác bị dừng trên 8 nhịp Mỗi lần trừ 2 điểm
Nhanh chóng nhặt lại đạo cụ sau khi Mỗi lần trừ 1 điểm
rơi và tiếp tục thực hiện động tác Rơi đạo cụ Không nhặt lại đạo cụ và tiếp tục thực Mỗi lần trừ 2 điểm
hiện động tác sẽ bị xem là mất đạo cụ
Từ ngữ đoạn khẩu hiệu không rõ ràng Trừ 1 điểm Sai khẩu hiệu Âm lượng đoạn khẩu hiệu không đủ Trừ 1 điểm
171
4.3. Động tác khó (điểm cộng dồn/ điểm tích lũy)
4.3.1. Thể dục cổ động vũ đạo
Đối với động tác thể dục cổ động vũ đạo theo bài, trong 3 nhóm động
tác khó, mỗi nhóm bắt buộc phải xuất hiện ít nhất 1 lần. Khi thiếu một nhóm, sẽ
bị trọng tài bắt lỗi độ khó trừ 1 điểm, trong động tác theo bài, tối đa có thể thực
hiện 15 động tác khó, mỗi lần vượt quá một động tác, bị trừ 1 điểm.
4.3.2. Thể dục cổ động kỹ xảo
Đối với động tác thể dục cổ động vũ đạo theo bài, trong 4 nhóm động
tác khó, mỗi nhóm bắt buộc phải xuất hiện ít nhất 1 lần. Khi thiếu một nhóm, sẽ
bị trọng tài bắt lỗi độ khó trừ 1 điểm, trong động tác theo bài, tối đa có thể thực
hiện 15 động tác khó, mỗi lần vượt quá một động tác, bị trừ 1 điểm.
5. Điểm trừ lỗi vi phạm
5.1. Điểm trừ lỗi chung
Vượt qua vạch giới hạn: vạch giới hạn là một phần của sân thi đấu, do
đó, cho phép dẫm lên vạch giới hạn, nhưng bất kỳ bộ phận nào của cơ thể chạm
vào phần sân bên ngoài vạch giới hạn sẽ bị trừ điểm, cơ thể vượt qua vạch giới
hạn nhưng ở giai đoạn trên không sẽ không bị trừ điểm, mỗi lần vượt qua vạch
giới hạn sẽ bị trọng tài đường biên trừ 1 điểm.
5.2. Điểm trừ lỗi kỹ thuật
Trong thi đấu thể dục cổ động vũ đạo và thể dục cổ động kỹ xảo, lỗi vi
phạm kỹ thuật sẽ do trọng tài độ khó căn cứ vào quá trình thực hiện động tác trừ
điểm, mỗi lỗi xuất hiện sẽ bị trừ 1 điểm.
5.3. Điểm trừ từ trọng tài trưởng
- Thời gian thực hiện nhóm động tác theo bài không đủ, trừ 1 điểm.
- Thời gian thực hiện nhóm động tác theo bài vượt quá qui định, trừ 1
điểm.
- Động tác theo bài sai, trừ 5 điểm.
- Thời gian hô khẩu hiệu không đủ, trừ 1 điểm.
172
- Thời gian hô khẩu hiệu vượt quá qui định, trừ 1 điểm.
- Khẩu hiệu trái với luật qui định, trừ 2 điểm.
- Vượt quá 20 giây tính từ thời điểm VĐV được ban trọng tài gọi tên thi
đấu mà không thấy xuất hiện, trừ 1 điểm.
- Vượt quá 60 giây tính từ thời điểm VĐV được ban trọng tài gọi tên thi
đấu mà không thấy xuất hiện, hủy bỏ tư cách thi đấu.
- Trang phục thi đấu của VĐV không đúng qui định, trừ 1 điểm.
- VĐV trang điểm không đúng qui định, trừ 1 điểm.
- Vị phạm điều lệ thi đấu, trừ 1 điểm.
- Các động tác có chủ đề liên quan đến tuyên truyền bạo lực, tín ngưỡng
tôn giáo, phân biệt chủng tộc hay khiêu gợi, trừ 1 điểm.
- Sử dụng đạo cụ không đúng, trừ 1 điểm.
- Âm thanh có chất lượng hiệu quả không cao, trừ 1 điểm.
6. Ban trọng tài
Được xây dựng bởi hai thành phần chính đó là tổ trọng tài cấp cao và tổ
trọng tài. Tổ trọng tài cấp cao gồm: 1 tổng trọng tài trưởng, 2 phó tổng trọng tài
trưởng. Tổ trọng tài gồm: 3 trọng tài nghệ thuật, 3 trọng tài hoàn thành, 2 trọng
tài độ khó, 2 trọng tài đường biên, 1 trọng tài thời gian, trợ lý trọng tài (1 thư kí
trưởng, 2 thư kí, 1 kiểm soát trưởng, 2 kiểm soát viên, 1 nhân viên phụ trách âm
nhạc, 2 phát thanh viên, 3 đến 4 nhân viên chăm sóc y tế). Các trọng tài được
phân công công việc rõ ràng, thực hiện tốt trọng trách và nhiệm vụ của từng cá
nhân, nhằm bảo đảm cho trận đấu diễn ra một cách thuận lợi
7. Cách tính điểm chính thức.( Phương pháp tính điểm)
Sử dụng phương pháp hiển thị điểm công khai, điểm nhỏ nhất mà mỗi
một trọng tài được cho là điểm số có một chữ số ở hàng thập phân, điểm tổng
cộng được phép bảo lưu hai chữ số ở hàng thập phân, điểm chính thức được
phép bảo lưu hai chữ số ở hàng thập phân.
7.1. Tính điểm
173
- Điểm nghệ thuật: Lấy tổng điểm của 3 trọng tài chia cho 3, được điểm
nghệ thuật.
- Điểm thực hiện: Lấy tổng điểm của 3 trọng tài chia cho 3, được điểm
thực hiện
- Điểm độ khó: Điểm độ khó có cùng quan điểm thống nhất sẽ là điểm
cuối cùng, nếu có ý kiến trái chiều, sẽ lấy điểm trung bình cộng ; điểm trừ của
độ khó có cùng quan điểm thống nhất sẽ là điểm trừ cuối cùng, nếu có ý kiến
trái chiều, sẽ lấy điểm trung bình cộng.
- Điểm tổng cộng: Là tổng điểm của điểm nghệ thuật, điểm độ khó và
điểm thực hiện.
- Điểm chính thức: Là hiệu số của điểm tổng cộng và điểm trừ.
7.2. Tính thành tích cuối cùng
Thành tích vòng sơ loại không được tính vào vòng chung kết, thành tích
vòng chung kết được tính là thành tích cuối cùng, VĐV có điểm cao hơn sẽ
được xếp đầu bảng, nếu thành tích tương đồng, sẽ có cùng vị thứ xếp hạng,
nhưng không trừ đi vị thứ xếp hạng kế tiếp
8. Trường hợp đặc biệt
- Lỗi phát âm nhạc.
- Do lỗi thiết bị âm thanh gây hưởng đến chất lượng đoạn băng được
phát.
- Do lỗi thiết bị sân bãi gây ảnh hưởng đến thi đấu như mất điện, lún,
sập sân thi đấu...
- Vật lạ rơi vào khu vực thi đấu.
- Nếu VĐV gặp phải bất kỳ một trường hợp nào trên đây, cần lập tức
dừng thực hiện động tác. Kháng nghị được đưa ra sau khi kết thúc bài thi sẽ
không được chập nhận; Căn cứ vào quyết định của tổng trọng tài trưởng, sau
khi vấn đề được giải quyết có thể thực hiện lại bài dự thi, nhưng điểm cũ không
có hiệu lực.
174
Chương 6
CÁC BÀI TẬP THƯỜNG SỬ DỤNG TRONG THỂ DỤC CỔ ĐỘNG.
1. Các bài tập vũ đạo cơ bản
1.1. Giới thiệu chung
Các bài tập mẫu này tập hợp nhiều động tác mới mẻ, là sự kết hợp lý
tưởng của nhiều loại nhân tố vũ đạo, có thể tạo nên bầu không khí sôi nổi, trở
thành điểm sáng cho buổi thi đấu.
1.2. Giới thiệu động tác
Tư thế chuẩn bị: Cơ thể đứng quay lưng theo hướng 5 giờ, hai chân tách
trước sau, chùng gối chân trái, đồng thời hai tay duỗi thẳng, đan chéo trước
trên, lòng bàn tay hướng ra trước, 5 ngón tay xoè rộng.
Động tác 1. (hình 6-1 )
Hình 6-1
Nhịp 1 đến 4: Thực hiện như tư thế chuẩn bị.
Nhịp 5 đến 6: Xoay hông theo hình số 8, thực hiện 1 lần, sang trái.
Nhịp 7 đến 8: Xoay hông theo hình số 8, thực hiện 1 lần, sang phải.
Động tác 2. (hình 6-2 )
Nhịp 1 đến 4: Quay sang phải 1800, hai chân đan chéo (chân phải ở phía
trước), hai tay buông dọc thân người, cơ thể đứng theo hướng 5 giờ.
175
Hình 6-2
Nhịp 5 đến 6: Bật lên cao theo tư thế hai chân đan chéo, chân trái ở
trước, đầu cúi, hai tay dang ngang, gập khớp khuỷu, lòng bàn tay hướng ra sau.
Nhịp 7 đến 8: Gập gối chân phải quì xuống đất, chân trái đặt phía trước.
Động tác 3. (hình 6-3 )
Nhịp 1: Hai chân rộng bằng vai; tay trái duỗi thẳng lên cao, lòng bàn tay
nắm hờ; tay phải gập cẳng tay sát sườn, lòng bàn tay hướng ra trước.
Nhịp 2: Hai chân chùng, đan chéo nhau, chân trái ở trước, đồng thời gập
khuỷu tay, đan chéo trước ngực, ngón tay xoè.
Nhịp 3: Mặt theo hướng 1 giờ, cơ thể theo hướng 8 giờ, hai chân đứng
yên, hai tay buông dọc thân người, lòng bàn tay hướng xuống dưới, 5 ngón xoè
rộng, đầu ngón tay hướng ra ngoài.
Nhịp 4: Quay phải 3600, khi kết thúc , cơ thể đứng theo hướng 1 giờ.
176
Nhịp 5 : Hai chân sang ngang; tay phải giang ngang, lòng bàn tay hướng
ra sau, đầu nghiêng sang trái.
Nhịp 6: Gập gối chân phải về sau, tay phải nắm hờ, gập ra sau đầu,
trọng tâm cơ thể dồn lên chân trái.
Nhịp 7: Gập gối chân phải về trước, hai tay giang ngang, lòng bàn tay
hướng về sau, xoè rộng các ngón tay, đầu cúi.
Nhịp 8: Chân trái tỳ trước, dựng cổ chân; tay phải gập trước ngực, lòng
bàn tay hướng lên trên, xoè rộng các ngón tay và chĩa ra trước.
Động tác 4. (hình 6-4 )
1-4 5-6 7 8
Hình 6-4
Nhịp 1 đến 4: Chân phải bước về trước sau đó thu chân trái lên;
Nhịp 5 đến 6: Bật xoạc co gối trái, đổng thời vung hai tay từ dưới ra
trước lên cao; đầu ngửa.
Nhịp 7: Chân trái đặt ở trước chùng gối, chân phải duỗi thẳng; tay trái
co trước ngực, lòng bàn tay nắm; tay phải duỗi thẳng, buông dọc thân người,
lòng bàn tay nắm, cơ thể đứng theo hướng 7 giờ.
Nhịp 8: Thu chân phải về thành tư thế nghiêm; tay phải gập trước ngực,
tay nắm hờ, lòng bàn tay hướng ra sau; tay trái buông dọc thân người, bàn tay
nắm.
177
Động tác 5. (hình 6-5)
1 2 3-4 5-6 7-8
Hình 6-5
Nhịp 1: Từ tư thế đứng thẳng (bàn chân phải cao hơn bàn chân trái 1/3)
chùng gối hai chân; đẩy khớp hông về trước, trọng tâm dồn lên chân phải; đồng
thời hai tay chếch trên bên, gập cổ tay, lòng bàn tay hướng ra ngoài (thành hình
giống tay của múa bale).
Nhịp 2: Chuyển trọng tâm từ chân phải sang chân trái, tay trái đặt sau
lưng, tay phải tì lên vai trái, cơ thể theo hướng 5 giờ.
Nhịp 3 - 4: Bước chân trái về trước; chân trái đặt trước, đồng thời tay
trái đặt sau lưng, tay phải đưa về trước, dựng cổ tay, các ngón tay xoè rộng.
Nhịp 5 - 6: Bật nhảy bước xoạc (cắt kéo).
Nhịp 7 - 8: Đá chân trái sang ngang lên cao; thân người nghiêng sang
phải, song song với mặt đất.
Động tác 6. (hình 6-6)
Nhịp 1: Cơ thể đứng theo hướng 8 giờ; chân phải tỳ trước, dựng cổ
chân; tay trái chống hông, tay phải chếch trước trên, xoè rộng ngón tay.
Nhịp 2: Cơ thể theo hướng 1 giờ, hai chân giang ngang, tay trái chống
hông, tay phải để ở sau đầu.
Nhịp 3 đến 4: Chân đứng yên, tay trái chống hông, tay phải để sau đầu,
xoay khớp hông sang trái vòng ra sau và sang phải thành 1 vòng.
178
Nhịp 5: Chân phải đặt trước, hai chân đan chéo vào nhau; tay co trước
ngực, cẳng tay đan chéo nhau, nắm hờ, lòng bàn tay hướng ra sau,
Nhịp 6: Cơ thể đứng theo hướng 5 giờ; hai chân tách rộng trước sau,
chân phải ở trước; tay trái chếch trước dưới, tay phải chếch dưới sau, lòng bàn
tay hướng xuống dưới.
Nhịp 7: Động tác thực hiện giống nhịp 5.
Nhịp 8: Cơ thể đứng theo hướng 5 giờ; chân trái bước về trước một
bước; hai tay chếch trên bên, ngón tay xoè, gập cổ tay, lòng bàn tay hướng ra
ngoài.
Động tác 7. (hình 6-7)
Nhịp 1 - 6: Bật chụm chân sang phải 3 lần.
Nhịp 7 - 8: Bật nhảy cắt kéo dạng chân, chân trái trước, chân phải sau.
Hình 6-7
179
Động tác 8. (hình 6-8 )
Nhịp 1 – 4: Đứng trên chân trái, chân phải tỳ trước, di chuyển mũi chân
hai vòng.
Nhịp 5 - 8: Quay người sang phải một góc 3600
Hình 6-8
Động tác 9. (hình 6-9)
Nhịp 1: Chân đứng trước sau, chân trái ở trước; hai tay co trước ngực,
cẳng tay đan chéo nhau,lòng bàn tay nắm hờ.
Nhịp 2: Chân đứng trước sau, chân phải ở trước; hai tay buông dọc thân
người, lòng bàn tay hướng xuống dưới, xoè rộng ngón tay.
Nhịp 3 - 4: Cơ thể đứng theo hướng 7 giờ; mắt nhìn theo hướng 1 giờ;
tay phải quay 1 vòng ngược chiều kim đồng hồ; tay trái trên cao.
Nhịp 5 - 6: Cổ tay quay 1 vòng theo chiều từ dưới lên trên,
180
Nhịp 7 - 8: Quay người về hướng chính diện; chân đứng trước sau, chân
phải về trước; nâng cẳng tay trái vuông góc trước ngực, tay phải sang ngang.
Động tác 10. (hình 6-10)
Nhịp 1 đến 4: Co gối trái, mở hông; thực hiện quay cẳng chân 2 vòng.
Nhịp 5-8: Hai chân rộng bằng vai, chân phải tỳ trước bên, dựng cổ
chân; tay phải sang ngang; tay trái chếch trên bên, thực hiện xoay cổ tay từ trên
xuống dưới, gập cổ tay; đầu quay sang phải.
Hình 6-10
Động tác 11. (hình 6-11)
Nhịp 1: Bật xoạc co gối phải ( hoặc trái); hai tay chếch trên bên, lòng
bàn tay hướng lên trên.
Nhịp 2: Chùng gối chân trái, chân phải quì; hai tay buông dọc thân
người; đầu cúi.
Nhịp 3 - 6: Quì gối chân phải, hai tay chống về trước; thực hiện động tác
xoay vai từ trái sang phải; sau đó đứng thẳng dậy
Nhip 7 đến 8: Cơ thể đứng theo hướng 2 giờ, chân trái tỳ sau, dựng cổ
chân.
181
Động tác 12. (hình 6-12)
Nhịp 1 đến 4: Thực hiện bật nhảy bước hóp mở sang trái, hai tay chếch
trên bên.
Nhịp 5-8: Bước chân phải về trước thực hiện động bật tách hẹp (dậm
nhảy bằng chân phải).
Hình 6-12
Động tác 13. (hình 6-13)
Nhịp 1: Chân trái tỳ trước, đồng thời đẩy trọng tâm về trước; hai tay
chếch trên bên; lòng bàn tay hướng ra ngoài.
182
Nhịp 2: Hai chân tách rộng trước sau, chân trái phía trước; tay trái đặt
sau lưng; tay phải co trước ngực; đầu cúi.
Nhịp 3- 4: Cơ thể đứng theo hướng 4 giờ, đồng thời di chuyển bước dồn
sang trái 2 bước; tay trái chếch trên bên; tay phải chếch dưới sau; lòng bàn tay
hướng lên trên.
Nhịp 5 - 6: Chân trái đặt trước khuỵu gối; tay phải chếch trước trên; tay
trái chếch dưới sau, hai tay nằm trên một đường thẳng; thân người đổ về trước;
đầu cúi; cơ thể theo hướng 7 giờ.
Nhịp 7 - 8: Hai chân khép, duỗi hông, ngực ưỡn; hai tay chếch trên bên.
Động tác 14. (hình 6-14)
Nhịp 1 - 2: Cơ thể đứng theo hướng 2 giờ; co gối chân trái; tay trái trên
cao; tay phải co trước ngực, ngón tay xoè.
Nhịp 3 - 4: Chân trái di chuyển sang ngang một bước, đồng thời gập
cẳng tay phải, quay một vòng trên đầu
Nhịp 5: Chùng gối chân phải, quay một vòng từ ngoài vào trong; 2 tay
buông dọc thân người
Nhịp 6: Chùng gối chân trái, quay một vòng từ ngoài vào trong, 2 tay
giữ yên
183
Nhịp 7: Cơ thể đứng theo hướng 7 giờ; chân trái ở trước, chùng khớp
gối; hai tay buông dọc thân người; thực hiện hai lần động tác hóp mở ngực
Nhịp 8: Cơ thể đứng theo hướng 7 giờ; quỳ gối chân phải; thân trên gập;
đầu cúi; hai tay chống về trước.
Động tác 15. (hình 6-15)
Nhịp 1 đến 8: Bật nhảy chéo chân co gối lần lượt tiếp đất bằng tư thế
quỳ gối phải và quỳ gối trái; ngực hóp,đầu cúi; hai tay chống về trước.
Hình 6-15
184
Động tác 16. (hình 6-16)
Hình 6 - 16
Nhịp 1: Chùng gối chân trái; kiễng gót chân phải; tay phải về trước; tay
trái duỗi sau; hai tay nằm trên một đường thẳng, lòng bàn tay đối nhau; đầu cúi;
cơ thể quay sang hướng 8 giờ
Nhịp 2: Lùi chân phải về sau, sang phải một bước; chân trái tỳ trước,
dựng cổ chân; hai tay mở sang ngang, gập cẳng tay; lòng bàn tay hướng trước
Nhịp 3: Chân trái tỳ trước, dựng cổ chân, chùng gối; hai tay đan chéo
trước ngực; cơ thể đứng theo hướng 1 giờ
Nhịp 4: Giữ nguyên động tác ở nhịp 3, quay đầu một vòng từ trái sang
phải.
Nhịp 5: Hai tay buông dọc thân người; hai chân đan chéo nhau, chân
phải ở trước.
Nhịp 6 đến 8: Quay người sang trái một góc 3600
Động tác 17. (hình 6-17)
Nhịp 1 - 2: hai tay buông lỏng tự nhiên, lòng bàn tay nắm; chân phải đá
cao trước bên.
Nhịp 3- 4: động tác như nhịp 1-2 nhưng đổi bên.
Nhịp 5 -6: lặp lại động tác nhịp 1-2.
Nhịp 7-8 : lặp lại động tác nhịp 3-4.
185
Hình 6-17
Động tác 18. (hình 6-18)
Hình 6-18
Nhịp 1- 2: Cơ thể đứng theo hướng 1 giờ; chân trái ở trước, chùng gối;
co tay phải, cẳng tay song song với mặt đất; tay trái sang ngang,
Nhịp 3- 4: Quay sang phải một góc 3600; chân phải làm trụ; khi quay
người, chân trái tách rộng sang ngang.
Nhịp 5- 6: Lặp lại động tác nhịp 3-4.
Nhịp 7- 8: Hai tay vòng trước dưới; quay người sang phải một góc 1800;
chân phải làm trụ; co gối chân trái, tỳ trên gối chân phải, mở hông
Động tác 19. (hình 6-19)
Nhịp 1- 2: Tay trái về trước, dựng cổ tay; chân phải ở trước, hơi chùng
gối phải.
186
Hình 6-19
Nhịp 3- 4: Tay phải co trước ngực, lòng bàn tay hướng ra sau, xoè rộng
ngón tay; tay trái chống hông, xoè ngón tay; xoay người sang phải, mắt nhìn
theo hướng 1 giờ
Nhịp 5 đến 8: Hai tay trước ngực, cao ngang vai; xoè rộng ngón tay,
lòng bàn tay hướng xuống dưới, đồng thời rung cẳng tay.
Động tác 20. (hình 6-20)
1-2 3-4 5-8
Hình 6-20
Nhịp 1- 2: Chùng gối chân phải, quay gối sang phải một vòng.
Nhịp 3 -4: Thực hiện động tác giống nhịp 1-2 nhưng đổi chân.
Nhịp 5 đến 8: Hai tay trước ngực, cao ngang vai; xoè rộng ngón tay,
lòng bàn tay hướng xuống dưới, đồng thời rung cẳng tay.
187
Động tác 21. (hình 6-21)
Nhịp 1: Tay phải lên cao, ra sau; tay trái vung ra sau, lòng bàn tay nắm;
chân trái bước về trước, chùng gối.
Nhịp 2: Thực hiện động tác giống nhịp 1 nhưng đổi bên.
Nhịp 3: Hai tay buông lỏng tự nhiên sát thân người, chân phải đặt ở
trước, chùng gối.
Nhịp 4: Chân phải đặt trước, chùng gối; ngón tay xoè rộng, ngang tai;
quay người 1800; thực hiện động tác sóng thân.
Nhịp 5: Hạ hai tay, buông dọc sát thân; xoè rộng ngón tay.
Nhịp 6: Thu chân trái về thành tư thế nghiêm.
Nhịp 7- 8: Quay người, đồng thời chân trái đặt trước, chùng khớp gối;
tay phải trên cao; tay trái sang ngang.
Động tác 22. (hình 6-22)
Nhịp 1: Hai tay buông lỏng tự nhiên dọc thân người, gập gối chân trái,
nâng lên cao.
Nhịp 2: Hạ chân trái; đá chân phải về trước, lên cao; mũi chân duỗi.
188
Nhịp 3: Tay phải chống đất; tay trái đặt trên gối trái; gập gối trái vuông
góc với mặt đất; chân phải duỗi thẳng ra sau.
Nhịp 4: Ngồi tách rộng chân, hai tay đặt về trước, sát thân.
Nhịp 5 đến 8: Thực hiện động tác giống nhịp 4.
Động tác 23. (hình 6-23)
Nhịp 1 đến 4: Ngồi tách rộng chân, hai tay đặt về trước, sát thân.
Nhịp 5 đến 8: Ngồi tách rộng chân, hai tay chếch trên bên, lòng bàn tay
hướng vào trong.
Hình 6-23
Động tác 24. (hình 6-24)
Nhịp 1 đến 4: Ngồi tách rộng chân, hai tay đặt về trước, sát thân.
189
Nhịp 5 đến 8: Tay trái chống đất; quay người sang trái một góc 450; tay
phải lên cao, xoay cổ tay; đồng thời thực hiện sóng thân người; hai chân cùng
lúc co gối sang phải; mắt nhìn theo tay trái.
Hình 6-24
Động tác 25. (hình 6-25)
Nhịp 1: Ngồi hai tay đan chéo trước gối; đầu cúi.
Nhịp 2 đến 4: Quay người sang phải một góc 900, xoạc dọc, chân phải ở
trước; tay phải lên cao; tay trái ngang; mắt nhìn theo hướng 1 giờ.
Nhịp 5 đến 8: Xoay cổ tay một vòng.
Hình 6-25
Động tác 26. (hình 6-26)
Nhịp 1: Quay người sang trái thành tư thế nằm sấp, hai chân duỗi thẳng.
Nhịp 2: Nâng mông lên cao; hơi co gối; hai tay chống xuống đất.
190
Hình 6-26
Nhịp 3 - 4: Giống nhịp 2, nhưng hai tay nâng lên khỏi mặt đất, sát thân
người; lòng bàn tay mở.
Nhịp 5 đến 8: Quay cổ tay, mắt nhìn về trước.
Động tác 27. (hình 6-27)
Nhịp 1- 2: Ngồi trên gót chân; hai tay đan chéo trước ngực, ngón tay
chạm vai; đầu cúi
Nhịp 3 đến 8: Hai tay chếch trên bên; quay cổ tay; mắt nhìn theo tay
trái.
Hình 6-27
Động tác 28. (hình 6-28)
Nhịp 1 đến 4: Chân trái ở trước; lấy chân phải làm trụ, quay sang phải
một góc 2700, sau đó đứng thẳng.
Nhịp 5 đến 8: Về tư thế nghiêm.
191
Hình 6-28
2. Các động tác mẫu kỹ năng cơ bản
Động tác 1 (Hình 6-29 ):
Nhịp 1: Bước chân phải lên trước, tay phải trên cao, bàn tay xoè rộng ,
lòng bàn tay về phía trước, cánh tay trái dưới thả tự nhiên .
Nhịp 2: Thu chân trái lên hai chân chụm vào nhau, hai tay nắm đan
chéo nhau trước ngực hướng vào trong, ngực hóp.
Nhịp 3 - 6 : Dậm chân tại chỗ bắt đầu bước chân trái, rồi đến chân
phải, hai tay nắm thả lỏng dưới bên.
Nhịp 7: Bước chân trái sang trái 450, cơ thể xoay hướng 450, hai tay
nắm thả lỏng dưới bên.
Nhịp 8: Thu chân phải, tay trái co ngang giống động tác chào, tay phải
ngang, lòng bàn tay hướng xuống dưới .
192
Động tác 2 ( hình 6-30)
Hình 6-30
Nhịp 1: Bật nhảy hai chân rộng bằng vai, hai tay qua ngang lên cao rồi
thực hiện chéo trước ngực bàn tay nắm (X thấp).
Nhịp 2: Đẩy hông sang trái, chân phải chùng gối, nghiêng người sang
trái hai tay ngang gập khuỷu cẳng tay vuông góc với cánh tay (W trước).
Nhịp 3 -1: Đẩy hông sang phải, chân trái chùng gối, nghiêng người
sang phải hai tay ngang gập khuỷu cẳng tay vuông góc với cánh tay (W
trước).
Nhịp 3-2: thực hiện giống nhịp 2.
Nhịp 4: Đẩy hông sang phải, chân trái chùng gối, tay trái chếch trước
dưới, gập khuỷu tay phải trước ngực.
Nhịp 5 : Kéo chân trái về phía sau một bước chéo sau chân phải, xoay
người sang trái 360 ° hai tay dưới.
193
Nhịp 6 : Tiếp tục xoay người sang trái 360 ° hai tay dưới.
Nhịp 7 -1: Bật nhẹ hai chân tách rộng bằng vai, hai cánh tay nâng
ngang, cẳng tay gập vuông góc hướng mặt đất, lòng bàn tay hướng sau, bàn
tay xoè rộng.
Nhịp 7-2 : Hai tay đan chéo trước mặt.
Nhịp 8 : Bật thu chân hai tay chếch dưới bên rồi hạ về tư thế đứng
nghiêm.
Động tác 3 (hình 6-31)
1-2 3-4 5-8
Hình 6-31
Nhịp 1- 2: Bước lướt chân trái lên trước, hai tay trên cao, lòng bàn tay
hướng về phía trước .
Nhịp 3 - 4 : Thu chân phải về ngang chân trái chùng gối, hai tay hạ
chếch trước dưới, lòng bàn tay úp xuống.
Nhịp 5- 8 : Bật nhảy dang chân sang ngang, hai tay vung sang ngang
chạm mũi chân. Rơi về tư thế chuẩn bị hoãn xung và đứng nghiêm.
Động tác 4 (hình 6-32)
Nhịp 1: Đứng thẳng, hai tay vung qua ngang lên cao vỗ tay.
Nhịp 2 : Co tay vỗ trước ngực.
194
Nhịp 3 - 6 : Dậm chân tại chỗ, bước chân trái, tay chếch dưới bên
hoặc thả lỏng tự nhiên.
Nhịp 7 : Bật nhẹ xoay người sang trái, chân trái trước chùng gối, tay
dưới thả lỏng tự nhiên.
Nhịp 8 : Bật nhẹ xoay người sang phải, tay trái chống hông, tay phải
nâng lên gập khuỷu giống động tác chào.
Động tác 5 (hình 6-33)
Hình 6-33
Nhịp 1: Chân trái bước chếch phía trước, tay trái nâng ngang cẳng tay
gập trước ngực, tay phải dưới.
195
Nhịp 2: Chân phải bước lên ngang chân trái, tay phải nâng ngang cẳng
tay gập trước ngực, tay trái dữ nguyên.
Nhịp 3: Bật chụm hai chân, hai tay đẩy lên cao chếch trên bên, bàn tay
nắm hướng ra ngoài.
Nhịp 4: Bật nhẹ đưa chân trái về phía trước chùng gối, hai tay co vỗ
tay trước ngực.
Nhịp 5: Xoay người sang phải 1800, chùng chân phải, hai tay chếch
dưới bên.
Nhịp 6: Xoay người sang trái 1800, ngồi quỳ gối trên chân phải, than
người gập, hai tay chống trên thảm.
Nhịp 7: Chân không di chuyển, than người vươn căng, tay phải trên
cao, lòng bàn tay hướng ngoài; tay trái thả lỏng tự nhiên.
Nhịp 8: Giống nhịp 7, tay phải co gập trước ngực.
Động tác 6 (hình 6-34)
Hình 6-34
Nhịp 1 - 2: Đứng nghiêm.
Nhịp 3- 4: Bật nhẹ chân phải trước chùng gối, hai tay ngang, bàn tay
xoè rộng, lòng bàn tay về phía trước.
Nhịp 5: Trọng tâm dồn đều lên hai chân, hai tay vỗ trước ngực.
196
Nhịp 6: Bật thu hai chân lại với nhau, hai tay đẩy lên cao (chữ A).
Nhịp 7: Bật tách chân, tay phải ngang, tay trái co gập trước ngực
(cung tên nhỏ).
Nhịp 8: Đứng chân bên phải, chân trái co sau chân phải, tay hai tay vỗ
trước ngực, nghiêng người sang phải.
Động tác 7 ( hình 6-35)
Hình 6-35
Nhịp 1- 4: Bật nhảy về phía trước thành xoạc dọc, hai tay tay chống
xuống thảm.
Nhịp 5- 6: Đá chân phải về phía trước và khép hai chân thẳng thành tư
thế ngồi, tiếp tục xoay người sang trái 2700, co gối đầu nghiêng sang trái, hai
tay tay chống xuống thảm.
Nhịp 7: Ngồi yên đầu nghiêng sang phải.
Nhịp 8: Đá chân trái về phía trước, đầu trở về tư thế thẳng.
Động tác 8 ( Hình 6-36)
Nhịp 1 - 2: Tiếp theo nhịp 8 tổ hợp 7, chân trái đưa sang phải tiếp tục
di chuyển sang phải chống vuông góc, chân phải chống trên đầu gối chân
phải, trong khi bàn tay trái trên đầu gối, bàn tay phải chống xuống thảm.
197
Hình 6-36
Nhịp 3 - 4: Đứng thẳng lên xoay người sang bên phải 1800, đá chân
phải lên phía trước bên phải, hai tay chếch dưới bên.
Nhịp 5 - 6: Hạ chân phải, chân trái đá ngang lên cao, thân người
nghiêng sang phải, tay trái đặt ở bên cạnh thân, tay phải chống xuống thảm.
Nhịp 7- 8: Đảy tay hạ chân trái về vị trí đứng nghiêm.
Động tác 9 ( hình 6-37)
Hình 6-37
Nhịp 1: Chân phải bước lên phía trước, tay phải ngang, tay trái cao,
hai tay nắm đấm.
Nhịp 2: Chi dưới không di chuyển, tay phải ngang, tay trái chếch
trước dưới, hai tay nắm đấm.
Nhịp 3: Chi dưới không di chuyển, Hai tay thẳng vỗ trước ngực.
Nhịp 4: Đứng trên chân trái, chân phải nâng lên trước vuông góc co
gối hai tay co vỗ trước ngực.
198
Nhịp 5: Hạ chân phải về trước, hai tay chếch trên bên lòng bàn tay
hướng vào trong, bàn tay xoè hoa.
Nhịp 6: Xoay người sang trái 1800, chân trái về phía, hai tay chếch
trên bên lòng bàn tay hướng vào trong, bàn tay xoè hoa.
Nhịp 7 - 8 : Xoay người sang trái 1800 chân phải đưa về phía trước,
cánh tay thẳng tại vỗ tay trên cao, cúi đầu.
Động tác 10 (Hình 6-38)
Hình 6-38
Nhịp 1- 8: Lên tháp hai tầng kết nối một tháp cao đừng trên hai tay
trước ngực, một tháp đứng trên hai tay cao.
Động tác 11 (Hình 6-39)
Hình 6-39
Nhịp 1: Bật tách chân phải sang phải 450, hai tay co gập ngang vai
vuông góc trước mặt, bàn tay nắm đấm.
199
Nhịp 2: Bật thu chân phải và chân trái với nhau, xoay người sang trái
450 hai tay giữ nguyên xoè rộng bàn tay.
Nhịp 3: Bật tách hai chân rộng bằng vai, tay trái chếch trên bên, ngực
ưỡn căng, tay phải gập cánh tay ngang ngực.
Nhịp 4: Bật thu hai chân lại với nhau, tay trái không di chuyển, cánh
tay phải bên nâng cao chếch trên bên, bàn tay nắm.
Nhịp 5 - 8: Bật tách hai chân rộng bằng vai, than người gập xuống, hai
tay đan chéo ở cổ tay, ngón tay mở, lòng bàn tay hướng vào trong.
Động tác 12 (Hình 6-40):
Hình 6-40
Nhịp 1 - 4: Tiếp theo nhịp 8 tổ hợp 11, thân người thẳng lên và xoay
sang trái 900 hơi đổ về phia trước, chân trái phía trước và chân phải phía sau,
di chuyển cánh tay phải trước trên, xoè rộng bàn tay, lòng bàn tay hướng ra
ngoài.
Nhịp 5 - 8: Bật thu hai chân lại với nhau, thân người gập, chân chạy
bước nhỏ tại chỗ, hai tay nắm chếch dưới bên.
Động tác 13 (Hình 6-41)
Nhịp : Bật tách hai chân rộng, hai tay chếch dưới bên, bàn tay nắm.
Nhịp 2: Bước chân trái sang bên phải để sau chân phải, hai tay chếch
dưới bên phía bên phải.
200
Hình 6-41
Nhịp 3: Bước chân trái sang bên trái, hai tay chếch dưới bên, bàn tay
nắm, đầu nghiêng sang trái.
Nhịp 4: Bật thu chân về tư thế chuẩn bị.
Nhịp 5 - 6: Vỗ tay trước ngực, đẩy hai tay lên cao kiễng gót, đầu ngửa.
Nhịp 7 - 8: Thực hiện vung tay chéo trước mặt chùng gối, tiếp tục bật
nhảy bước vượt rào, rơi về tư thế chuẩn bị.
Động tác 14 ( Hình 6-42)
Hình 6-42
3. Kỹ thuật tung và bắt trong thể dục cổ động
Tung và bắt trong thể dục cổ động được xem là một pha nguy hiểm mà
khi thực hiện tung người từ mặt đất hoặc trên tháp. Vì vậy, khi thực hiện kỹ
201
thuật yêu cầu người được tung và người bảo hiểm phải thuần thục kỹ thuật và
luôn đảm bảo an toàn khi thực hiện các kỹ thuật tung và bắt lại.
3.1. Thực hiện tung người trên mặt đất
Một người tung một người. (Hình 6-42)
Người thực hiện: Hai tay nắm vào cổ tay của người tung, phối hợp
nhún nhẹ hai chân chùng gối, thực hiện bật mạnh hai chân, hai tay ấn mạnh
lực vào tay người đỡ thực hiện động tác bay trên không, thân người giữ căng,
hai tay V cao hoặc V thấp.
Khi thực hiện động tác tiếp đất, hai tay nắm lại cổ tay coả người đỡ,
hai chân tiếp đát từ mũi bà chân qua cung bàn chân và cả bàn chân, tiếp tục
chùng gối hoàn xung. Khi ổn định thì thực hiện duỗi căng kết thúc động tác.
Người giúp đỡ: Hai tay bám chắc vào hông của người thực hiện phối
hợp tạo đà cùng người lên tháp, khi ngời lên tháp bật lên cao thì hai tay tiếp
lực tung người thực hiện lên trên. Khi đỡ người thực hiện xuống thì hai tay
theo sát người thực hiện từ trên cao, khi ngang tầm đỡ thì nắm lại hông của họ
và thực hiện hoãn xung xuống đất và bỏ tay khỉ người thực hiện.
Hình 6-42
3.2. Thực hiện tung người trên tháp.
Người thực hiện: Bắt đầu thực hiện trên tháp, luôn thực hiện kỹ
thuật động tác với sự ổn định cao của các kỹ thuật và cố gắng không bay ra
202
khỏi vị trí người tung tháp, khi xuống thân người luôn căng và mở rộng hai
tay và rơi vào vị trí của ngời đỡ.
Người giúp đỡ: Nhún hai chân tạo đà, khi bạn duỗi lên tung người
thực hiện lên cao, nhớ phối hợp nhịp nhàng với các người đỡ khác. Giữ cánh
tay của bạn trên cao. Khi người thực hiện rơi xuống đi xuống, các người đờ
tay đan so le không nắm vào nhau tạo thành hình như cái võng hoãn xung lực
đỡ vào lưng, hông, mông và đùi của người thực hiện.
Tung người gập thân chụm chân tay chếch (Hình 6-43 )
Hình 6-43
Tung người gập thân chụm chân tay trước (Hình 6-44 )
Hình 6-44
Tung người gập thân dạng chân tay chếch (Hình 6-45 )
203
Hình 6-45
Tung người chữ X (Hình 6-46 )
Hình 6-46
Tung người quay 1800 (Hình 6-47 )
Người đỡ tháp: Từ tư thế chuẩn bị duỗi thẳng, chùng gối đến duỗi
thẳng cánh tay và khống chế, đón lấy cơ thể người lên tháp bằng động tác tạo
hình giống cái giá đỡ.
Người lên tháp: Đợi pha tung người của người đỡ tháp, đồng thời hai
tay đan chéo đặt trước ngực chạm vào phần đầu và vai. Khi thực hiện chuyển
động, mở tay thành tư thế tiêu chuẩn theo yêu cầu.
Người bảo hiểm: Người bảo hiểm thứ nhất đỡ vào vị trí xương bả vai
của người lên tháp. Tay phải người bảo hiểm ở phía trước nắm vào cổ chân
phải người lên tháp. Khi người lên tháp xoay sang trái, thì đặt tay trái ở phía
dưới, khi xoay sang phải, tay phải sẽ đặt xuống dưới.
Những sai lầm thường mắc:
204
- Người lên tháp tiếp xúc bằng bụng.
Cách khắc phục: Người đỡ tháp luôn nhìn theo vai của người lên tháp
cho đến khi đón được họ rơi vào vị trí cần thiết.
- Trước khi rơi vào vị trí đỡ, người lên tháp không có thời gian dừng
trên không.
Cách khắc phục: Người đỡ tháp phối hợp chùng gối sâu, kéo dài thời
gian trên không cho người thực hiện.
- Người lên tháp không thể thực hiện động tác quay.
Cách khắc phục: Trong quá trình xoay người, người lên tháp cần bảo
đảm mông phải và vai nằm trên một đường thẳng.
Hình 6-42
205
Chương 7
TỔNG QUAN VỀ THỂ DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN KHÁN ĐÀI
1. Nguồn gốc và sự phát triển của thể dục cổ động trên khán đài
1.1. Sơ lược lịch sử
Nhằm mục đích hưởng ứng không khí thi đấu trên sân, người hâm mộ
luôn nghĩ ra nhiều hình thức cổ vũ đa dạng và phong phú. Ngoài reo hò, hát
múa, đánh trống….thì hình thức được xem là hoành tráng nhất, thu hút được
nhiều sự chú ý của các tuyển thủ trên sân nhất đó là biểu diễn “sóng người
kiểu Mexico” . Năm 1986, tại giải Cúp Bóng Đá Thế Giới lần thứ 13 tổ chức
tại Mexico, một nhóm người hâm mộ sau khi giơ thẳng hai tay lên rồi hạ
xuống, nhóm bên cạnh liền nối tiếp thực hiện tương tự giơ tay lên cao rồi hạ
xuống, từ đó, màn biểu diễn “sóng người kiểu Mexico” ra đời.
Thể dục cổ động khán đài thuộc thể dục cổ động, do đó lịch sử của nó
cũng có những nét riêng so với thể dục cổ động trên sân, nó thực sự được mọi
người chú ý đến đó là vào khoảng thời gian diễn ra Cúp Bóng Đá Thế Giới
năm 2002, tổ chức tại Hàn - Nhật, khung cảnh hoành tráng nhất được thể hiện
đó là màn cổ vũ của đội “quỷ đỏ” do chính những người hâm mộ nước Hàn
lập nên.
Đội cổ động “quỷ đỏ” của Hàn Quốc được giới hâm mộ bóng đá chính
thức biết đến và tôn trọng kể từ khi diễn ra mùa giải, phương thức cổ vũ mới
mẻ, động tác đồng đều cùng hành vi văn minh không vứt bỏ bất kỳ một mảnh
rác nào trên khán đài sau khi xem thi đấu đều được đông đảo người xem tán
thưởng và ngưỡng mộ. Đội cổ động “quỷ đỏ” với trang phục quen thuộc màu
đỏ, đeo mặt nạ thiên vương đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn
hóa bóng đá xứ sở kim chi này.
Ngày 20 tháng 12 năm 2004, trong khuôn khổ vòng thi đấu cọ sát của
đội tuyển bóng đá Đức tại Châu Á, đội tuyển Hàn Quốc với ưu thế của độ chủ
206
nhà đã đánh bại đội tuyển Đức với tỉ số thuyết phục 3-1, trong trận đấu đó có
5000 người của đội “quỷ đỏ” đến tận sân để cổ vũ cho đội nhà. Năm 2006, tại
giải Cúp Bóng Đá Thế Giới diễn ra ở Đức, tiếng cổ vũ reo hò của 5000 người
đội “quỷ đỏ” đã áp đảo được tinh thần của 30 nghìn người hâm mộ nước
Pháp, thậm chí đây còn được ví là kiệt tác kinh điển của thể dục cổ động trên
thế giới.
Olympic Bắc Kinh năm 2008 cần một đội ngũ khán giả mang màu sắc
Trung Quốc, am hiểu văn hóa, có ý thức văn minh, có tác phong chuyên
nghiệp, đây là những người được xem là “khán giả nòng cốt”. Những “khán
giả nòng cốt” này là đại diện tiêu biểu nhất và bắt đầu tạo được sức chú ý trên
đấu trường quốc tế, phải kể đến trước tiên chính là đội cổ động “quỷ đỏ” được
những người hâm mộ bóng đá Hàn Quốc lập nên trong mùa thi đấu Cúp Bóng
Đá Thế Giới được tổ chức tại Hàn Quốc và Nhật Bản. Đội cổ động này đã để
lại ấn cho những tín đồ đam mê bóng đá trên khắp thế giới, nhưng điều thực
sự làm cho cả thế giới phải cảm động đằng sau những màn cổ vũ mãnh liệt đó
chính là ý thức vệ sinh và kỷ cương trật tự của họ trên khán đài.
1.2. Xu hướng phát triển của thể dục cổ động trên khán đài
Thể dục cổ động trên khán đài được xem là một trong những môn thể
thao mới nổi, tính đến thời điểm này, những hoạt động thể dục cổ động triển
khai dưới hình thức có qui mô trên thế giới vẫn chưa nhiều. Ở Trung Quốc, chỉ
có hoạt động thể dục cổ động trên khán đài của Bắc Kinh được xem là phát triển
nổi trội nhất.
Tháng 12 năm 2005, dưới sự hướng dẫn của thầy Châu Quốc Anh,
Trung Tâm Quản Lý Hoạt Động Sinh Viên Thành Phố Bắc Kinh phối hợp cùng
Hiệp Hội Thể Thao Đào Tạo Nghề Bắc Kinh tổ chức cuộc thi thể dục cổ động
trên khán đài học sinh Bắc Kinh lần thứ nhất, nhằm chuẩn bị cho sự kiện
Olympic sắp đến. Mặc dù số học sinh tham dự giải lúc đó chỉ có 1500 em đến từ
207
15 trường trong thành phố, nhưng nét đặc sắc trong màn dự thi của các đội vẫn
tạo được sức hấp dẫn và lôi cuốn với người xem.
Tháng 10 năm 2006, Sở Thể Thao Thành Phố Bắc Kinh cùng Ủy Ban
Giáo Dục Thành Phố Bắc Kinh là đơn vị chính, với sự đồng tài trợ của Trung
Tâm Quản Lý Thể Thao Xã Hội Thành Phố Bắc Kinh, Trung Tâm Quản Lý
Hoạt Động Sinh Viên Thành Phố Bắc Kinh, Hiệp Hội Thể Thao Sinh Viên Bắc
Kinh tổ chức Giải Thể Dục Cổ Động Văn Minh Lần Thứ Nhất Thành Phố Bắc
Kinh, buổi lễ khai mạc được tổ chức tại Cung Thể Thao Thạch Cảnh Sơn. Khi
đó, Ban Tổ Chức đã bắt đầu phân chia nội dung thi đấu thành 2 mảng lớn đó là
thể dục cổ động trên sân và thể dục cổ động trên khán đài, với 4 nhóm khác
nhau là nhóm học sinh tiểu học, nhóm trung học, nhóm đại học và nhóm xã hội,
có hơn 6000 VĐV đến từ 110 đội, thuộc 80 đơn vị khác nhau cùng về tham dự
mùa giải. Trong đó, nhóm thể dục cổ động trên sân có 81 đội và 35 đội thuộc
nhóm thể dục cổ động trên khán đài. Phần cho điểm đối với các nội dung tham
gia giải sẽ căn cứ vào thời gian thi đấu, yêu cầu động tác, phục trang, sân bãi,
âm nhạc, khẩu hiểu chủ đề cùng các tiêu chuẩn khác của động tác theo bài
nhóm thể dục cổ động trên sân và trên khán đài để đánh giá.
Ngày 18 tháng 7 năm 2007, mùa giải Thể Dục Cổ Động Văn Minh Lần
Thứ Hai Thành Phố Bắc Kinh Cúp Kim Long Ngư chính thức bắt đầu, giải chia
thành 5 nhóm đối tượng tham gia gồm: nhóm tiểu học, nhóm trung học, nhóm
đại học, nhóm nghề và nhóm xã hội, độ tuổi VĐV tham dự giải trải rộng từ
thiếu niên nhi đồng đến trung niên. Khác với mùa giải lần thứ nhất, tại Cúp Kim
Long Ngư lần thứ hai này, Ban Tổ Chức chú trọng nhiều hơn đến thể dục cổ
động trên khán đài dành cho mọi đối tượng trong xã hội, thực hiện cải cách, gia
tăng đáng kể đối với số lượng các đội tham gia dự thi thể dục cổ động trên khán
đài. Trong điều kiện đảm bảo số lượng đội dự thi thể dục cổ động trên sân
không thay đổi, số đội dự thi thể dục cổ động trên khán đài từ hơn 20 đội ban
đầu đã tăng vọt lên thành hơn 130 đội, vượt qua so với con số 80 đội tham gia
208
thể dục cổ động trên sân. Thông qua giải sơ tuyển, đã phần nào xây dựng được
ý thức và hành vi văn minh khi xem thi đấu cho khán giả, đồng thời cũng mang
lại tác dụng thúc đẩy đối với sự phát triển của thể dục cổ động trên khán đài.
2. Khái niệm và đặc điểm của thể dục cổ động trên khán đài
2.1. Khái niệm
Thể dục cổ động trên khán đài được xây dựng bởi yếu tố thành viên,
phục trang, đạo cụ, khẩu hiệu, chỉ huy cùng các nội dung khác. Nếu xét theo ý
nghĩa tên gọi, thì thể dục cổ động trên khán đài ý chỉ các màn biểu diễn của
hoạt náo viên trên khán đài. Mặc dù sức lôi cuốn của thể dục cổ động trên
khán đài hạn chế hơn so với thể dục cổ động trên sân, song với ưu điểm áp
đảo về quân số, thể dục cổ động trên khán đài lại chiếm ưu thế hơn ở phương
diện tạo bầu không khí sôi nổi.
Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có khái niệm cụ thể dành cho thể dục
cổ động trên khán đài, thông qua quá trình phỏng vấn những huấn luyện viên
thể dục cổ động và Aerobic chuyên nghiệp, chúng tôi mạnh dạn đưa ra khái
niệm như sau: Thể dục cổ động trên khán đài là hệ thống các hoạt động reo hò
trợ uy có tổ chức được thực hiện trên hàng ghế khán giả khi xem thi đấu.
2.1.1. Đặc điểm của thể dục cổ động trên khán đài
Tính đơn giản
Động tác biên đạo của thể dục cổ động trên khán đài đơn giản hơn so
với thể dục cổ động trên sân, do đó các trường học, đơn vị hoặc khu phố đều
có thể tổ chức được những đội thể dục cổ động trên khán đài. Mặt khác, thể
dục cổ động trên khán đài không đưa ra yêu cầu quá cao đối với người tham
gia, biên độ động tác, hoạt động của chi dưới cũng không phức tạp như của
thể dục cổ động trên sân.
Tính quần chúng
Do cường độ động tác không lớn, động tác thực hiện đơn giản, nên
không giới hạn độ tuổi là đặc điểm nổi bật của thể dục cổ động trên khán đài,
209
có thể nói, thể dục cổ động trên khán đài thích nghi được với mọi độ tuổi.
Trải qua quá trình phát triển, thể dục cổ động trên khán đài ngày nay đã phát
triển rộng khắp từ khu phố, đoàn thể đến các đơn vị xí nghiệp, bội đội, thậm
chí là cả khu vực nông thôn. Cùng với tinh thần thể thao, phong trào thể dục
cổ động trên khán đài ngày càng được động đảo toàn dân hưởng ứng
Tính sôi động
Thể dục cổ động trên khán đài thông qua các động tác gập duỗi, quay
vòng của tay kết hợp với di chuyển biên độ nhỏ của các động tác co gối chi
dưới xen kẽ với đạo cụ cùng khẩu hiệu, mang lại hiệu quả ngay ngắn, đồng
đều hóa về thị giác, sôi động hơn so với các hoạt động trợ uy khác của thể dục
cổ động trên sân, tạo thêm được hiệu quả mạnh mẽ về bầu không khí náo
nhiệt.
Tính linh hoạt
Thể dục cổ động trên khán đài phát triển dựa trên sự tự giác tình
nguyện của khán giả, do đó những qui định bắt buộc và giới hạn của bộ môn
này không khắt khe như đối với thể dục cổ động trên sân, mà chỉ mang ý
nghĩa tương đối. Điều này đem lại sự phổ biến và linh hoạt hơn cho quá trình
triển khai hoạt động thể dục cổ động trên khán đài.
Tính văn minh
Thể dục cổ động trên khán đài không những có thể lôi cuốn được khán
giả, tham gia trợ uy cho VĐV thi đấu trên sân, mà nó còn góp phần xây dựng
hình ảnh văn hóa trên sân thi đấu. Không chỉ có tác dụng thể hiện nét văn
minh khi xem thi đấu, tại các hoạt động qui mô lớn nhỏ khác nhau khác, thể
dục cổ động trên khán đài còn phát huy tác dụng làm đầu tầu dẫn đường, trở
thành bộ phận quan trọng không thể thiếu của quá trình truyền tải văn minh.
3. Phân loại và qui mô của thể dục cổ động trên khán đài
3.1. Phân loại
210
Căn cứ vào dụng cụ cầm trên tay của hoạt náo viên tham gia cổ động,
có thể chia thành thể dục cổ động trên khán đài tay không và thể dục cổ động
trên khán đài có đạo cụ nhẹ. Ở loại thứ hai, hoạt náo viên có thể sử dụng các
đạo cụ như: kèn, còi, trống, chai nhựa rỗng, bóng bay, quat…
3.2. Qui mô
Căn cứ vào số người tham gia, có thể chia thể dục cổ động trên khán
đài thành 3 đẳng cấp qui mô nhỏ, trung bình và lớn. Thông thường, qui mô
nhỏ sẽ từ 30 - 60 người, từ 61-100 người sẽ thuộc qui mô trung bình và trên
100 người sẽ xếp vào qui mô lớn.
4. Nhiệm vụ, ý nghĩa và tầm quan trọng của thể dục cổ động trên
khán đài
4.1. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của thể dục cổ động trên khán đài đó là thông qua hoạt
động reo hò trợ uy có tổ chức của khán giả, nhằm đạt được mục đích cổ động,
khích lệ tinh thần cho VĐV thi đấu và hoạt náo bầu không khí trên sân.
4.2. Ý nghĩa và tầm quan trọng
4.2.1. Thể hiện văn hóa dân tộc và nội hàm tinh thần
Ở những giải đấu qui mô lớn như Đại Hội Olympic, hoạt động biểu
diễn trợ uy của thể dục cổ động trên khán đài không chỉ được giới hạn trong
một trận đấu, ý nghĩa của nó cón nâng lên đến tầm thể hiện nét văn hóa dân
tộc của cả một quốc gia. Không chỉ nổi bật tinh thần đoàn kết, đồng tâm hiệp
lực, thể hiện tự hào, năng lực và thực lực dân tộc, thể dục cổ động còn có tác
dụng tăng thêm lòng tự tôn, khích lệ tinh thần thi đấu, thể hiện sức mạnh tập
thể của một đất nước.
4.2.2. Tạo môi trường thi đấu văn minh, hòa bình
Thể dục cổ động trên khán đài góp phần thể hiện vai trò tích cực trong
xây dựng nét văn minh, tạo bầu không khí hòa bình trên sân thi đấu, khởi
xướng cho trào lưu văn minh khi xem thi đấu.
211
4.2.3. Tăng cường xây dựng văn hóa trường học
Xét từ khía cạnh xu hướng phát triển của xã hội, bản chất cuộc sống
của nhân loại được xây dựng dựa trên sự thoả mãn về vật chất và ngày càng
chú trọng hơn đến nhu cầu cuộc sống tinh thần. Điều này khiến chúng ta cần
không ngừng khởi sướng trào lưu xây dựng văn hóa tinh thần, tăng cường bồi
dưỡng giáo dục tinh thần nhân văn trong cuộc sống, nhằm phong phú hơn nội
hàm của cuộc sống. Trong khi đó xây dựng văn hóa trường học được xem là
bộ phận cấu thành quan trọng của xây dựng văn hóa hiện đại, là đối tượng
chính của xây dựng văn hóa trong thanh thiếu niên. Các nhà tâm lý học giáo
dục đã chỉ ra: học sinh lứa tuổi thanh thiếu niên đang ở trong giai đoạn sinh
trưởng và phát dục nhanh chóng về tâm lý lẫn sinh lý, tư duy hoạt bát, rất dễ
đón nhận những sự việc mới mẻ, rất dễ phá vỡ và hình thành nên tư tưởng
quan niệm mới. Do đó, lựa chọn các môn thể thao đúng đắn và lành mạnh là
nhiệm vụ vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của các
em. Môn thể dục cổ động trên khán đài bắt nguồn từ những âm thanh reo hò
đơn giản phát triển đến hoạt động có tổ chức, có qui mô và trở thành môn thi
đấu chính thức như ngày hôm nay, không chỉ đơn thuần là do môn thể thao
này nổi bật được sức sống của tuổi trẻ, thời thượng, kịch tính, mà quan trọng
hơn cả, nó bồi dưỡng được cho VĐV tinh thần hợp tác tập thể, xây dựng lối
sống lành mạnh tích cực.
212
Chương 8
YẾU TỐ CẤU THÀNH THỂ DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN KHÁN ĐÀI
1. Thành viên và người điều khiển cổ động trên khán đài
1.1. Thành viên
Là những người thông qua ngôn ngữ cơ thể hay đạo cụ trên tay tham
gia cổ vũ trợ uy trên khán đài dưới sự bố trí có tổ chức của đoàn thể, đồng
thời họ góp phần tạo nên bầu không khí sôi động cho trận đấu. Yêu cầu đối
với thành viên đội cổ động trên khán đài:
Ý thức hợp tác cùng tinh thần tập thể cao
Thể dục cổ động trên khán đài yêu cầu rất cao đối với ý thức hợp tác
đoàn thể và tinh thần tập thể, yêu cầu sự phối hợp ăn ý giữa các thành viên
trong đội với cả người điều khiển, nhằm đạt được hiệu quả mỹ quan chỉnh
thể, chứ không phải chỉ yêu cầu hiệu quả của một cá nhân. Vì vậy, yêu cầu
các thành viên phải có tinh thần trách nhiệm cao, quan niệm tập thể cùng ý
thức cá nhân tốt
Có hiểu biết về văn hóa xem thi đấu cùng luật thi đấu
Mục đích hình thành của môn thể dục cổ động trên khán đài đó là xây
dựng và khởi sướng cho trào lưu văn hóa, tạo bầu không khí hòa bình khi xem
thi đấu, thành viên trong đội chính là những hạt nhân sức mạnh thúc đẩy sự
phát triển của nét văn hóa này. Do đó, với vai trò là thành viên của đội cổ
động trên khán đài, cần phải được bồi dưỡng kỹ càng về văn hóa khi xem thi
đấu, tìm hiểu luật thi đấu, từ đó nâng cao tu dưỡng phẩm chất cá nhân.
Có thể lực và ý chí
Theo dõi suốt toàn trận đấu, đồng thời reo hò trợ uy vào những thời
điểm thích hợp, điều này đòi hỏi rất cao về thể lực của cá nhân. Đối với môn
thể dục cổ động trên khán đài, hoạt động chi trên của các thành viên đội cổ
động tương đối nhiều, do đó, cần có thêm yêu cầu về sức mạnh chi trên, đồng
213
thời, phải có khả năng khống chế cơ thể tốt. Trong giai đoạn thi đấu, một khi
xuất hiện thể lực giảm sút, thành viên đội cổ động cần phải có ý chí để tiếp
tục tham gia cổ vũ, vì vậy, trong quá trình tập luyện thường ngày, VĐV cần
phải chú trọng trên cả 2 phương diện đó là tăng cường thể lực và phẩm chất ý
chí.
Thái độ tích cực và nhiệt huyết
Thể dục cổ động trên khán đài có tác dụng trực tiếp đối với xây dựng
và điều động bầu không khí sôi nổi đến khán giả trực tiếp xem thi đấu. Vì
vậy, là thành viên của đội cổ động, cần có thái độ tích cực cùng bầu nhiệt
huyết, mới có thể khơi dậy không khí cho người xem. Ngoài ra, còn phải thân
thiện, có sức khỏe, luôn mỉm cười, thông qua ngôn ngữ cơ thể cùng tinh thần
sôi động truyền cảm hứng đến cho người xem.
Khả năng cảm nhịp tốt
Khẩu hiệu và đạo cụ sử dụng trong thể dục cổ động đều có nhịp phách
nhất định, vì vậy yêu cầu VĐV phải có khả năng cảm nhịp tốt.
Phát âm chuẩn và giọng vang, rõ
VĐV thể dục cổ động thông qua sức mạnh ngôn ngữ để truyền tải, thể
hiện nhiệt huyết khi xem thi đấu, do đó, yêu cầu VĐV đội thể dục cổ động
cần phải phát âm chuẩn và giọng vang, rõ.
1.2. Người điều khiển.
Là người đóng vai trò chỉ huy chủ đạo trong suốt quá trình vận hành
của thể dục cổ động trên khán đài. Ngoài những yêu cầu cơ bản của một thành
viên đội thể dục cổ động ra, cần phải có thêm năng lực lãnh đạo tốt. Yêu cầu
đối với người điều khiển thể dục cổ động trên khán đài:
Có khả năng hiệu triệu, thân thiện và có sức khỏe
Người điều khiển là hạt nhân nòng cốt của đội thể dục cổ động trên
khán đài, phải chỉ huy một đội ngũ từ vài chục người đến hàng trăm người,
phải có nhiệm vụ truyền nhiệt huyết cho các thành viên trong đội, thậm chí là
214
điều động không khí sôi nổi trong suốt trận đấu. Do đó, người điều khiển còn
cần phải được trang bị khả năng hiệu triệu, thân thiện và có sức khỏe.
Có tinh thần trách nhiệm cao và năng lực tổ chức tốt
Để điều hành được toàn cục diện, người điều khiển cần hiểu rõ về
chính bản thân cũng như những thành viên khác trong đội. Để thể hiện được
màn biểu diễn một cách có trật tự, đồng đều trên khán đài, người điều khiển
cần có năng lực tổ chức tốt. Người điều khiển phải căn cứ vào tình hình thực
tế để điều động và làm trỗi dậy không khí sôi nổi trên sân, có trách nhiệm đối
với đội cổ động, đối với từng thành viên trong đội.
Chỉ huy quyết đoán, giọng vang, từ ngữ rõ ràng, điều động được
không khí toàn đội một cách hiệu quả
Trong quá trình chỉ huy, người điều khiển cần nắm bắt nhanh nhạy và
hợp lý thời cơ phát khẩu lệnh. Giọng của người điều khiển phải vang, nhả chữ
rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu. Người điều khiển còn có thể phát huy triệt để cá
tính, tạo sức hút riêng, lôi cuốn mọi người cùng tham gia cổ vũ , khích lệ tinh
thần, tận hưởng niềm vui do trận đấu mang lại.
Chỉ huy linh hoạt, nhạy bén, có sáng tạo
Người điều khiển cần linh hoạt và nhạy bén sử dụng các bài thể dục
cổ động có sẵn, trước khi vào trận đấu, trong quá trình thi đấu, căn cứ vào tình
hình thức tế, mới lựa chọn tiếp các bài thể dục cổ động trợ uy khác. Còn cần
căn cứ vào các tình huống chuyển biến bất ngờ trên sân để biên soạn các động
tác hay khẩu hiểu mang tính ngẫu hứng và sáng tạo, do đó người điều khiển
cần luôn giữ cho đầu óc minh mẫn, tư duy nhạy bén và có khả năng sáng tạo
trong biên soạn.
2. Khẩu hiệu và âm nhạc cổ động trên khán đài
2.1. Khẩu hiệu
Là những câu ngắn có tác dụng tuyên truyền bằng miệng mang tính
cương lĩnh. Khẩu hiệu là những câu nói ngắn gọn, xúc tích, có thể truyền tải
215
cảm xúc, tốt nhất nên mang tính đại diện và có ngôn từ sâu sắc. Cần sử dụng
ngôn từ chính xác để biểu đạt tư tưởng lành mạnh, khẩu hiệu thường sử dụng
các từ ngữ thông dụng, không dùng các từ khó hiểu, có ẩn ý, thiếu văn hóa;
dùng từ có ý nghĩa rõ ràng, trực tiếp, sử dụng đoản ngữ, câu ngắn, hạn chế
hoặc không dùng các câu dài có nhiều biện pháp tu từ khác nhau. Như vậy,
mới có thể truyền tải được nội dung một cách đơn giản và rõ ràng.
2.1.1. Tác dụng của khẩu hiệu
Khẩu hiệu có vai trò vô cùng quan trọng trong màn biểu diễn của thể
dục cổ động trên khán đài, là một trong những phương pháp làm tăng tính tích
cực có hiệu quả nhất, trực tiếp nhất.
2.1.2. Giới thiệu một số khẩu hiệu thường dùng
Những giải thi đấu trước đây và trên khán đài thường xuất hiện các
khẩu hiệu như: “ 1,2, Đập bóng”, “Việt Nam…
2.1.3. Yêu cầu đối với khẩu hiệu
Khẩu hiệu nên rõ ràng, dễ nhớ, khẩu hiệu biểu ngữ bắt buộc phải có
tiết tấu, nhịp điệu, như vậy mới dễ hô và truyền tải, mang lại hứng thú cho
người nghe, nhằm thu về hiệu quả như mong đợi. Dưới đây là một số yêu cầu
đối với khẩu hiệu:
- Khi chọn lựa khẩu hiệu, cần chọn những khẩu hiệu lành mạnh, tích
cực.
- Khi chọn từ ngữ, cần chú ý âm điệu phải tương đương, như vậy mới
dễ hô và hấp dẫn người nghe.
- Khẩu hiệu được chọn phải phục vụ cho một mục đích nhất định, phải
cổ vũ được tinh thần, thôi thúc người nghe hành động theo, vì vậy cần mang
tính khích lệ cao.
- Khi biên soạn khẩu hiệu, cần chú ý sáng tạo, phản chiếu được văn
minh của thời đại. Khẩu hiệu tuyên truyền cần phù hợp với môi trường và
hoàn cảnh, tránh những ngữ khí khô cứng, lạnh lùng.
216
2.1.4. Tập hô khẩu hiệu
Những điểm cần lưu ý khi tập khẩu hiệu:
Chú ý kỹ thuật phát âm: cũng giống như lúc luyện thanh, khi mới bắt
đầu, rất nhiều người không hiểu phải phát âm, khẩu hình, trọng âm và dừng
như thế nào. Lấy phát âm làm ví dụ, đa phần đều sử dụng âm cổ để hô khẩu
hiệu, như thế âm thanh không những không lớn, thời gian dài, cổ họng còn dễ
bị tổn thương. Cách hô khẩu hiệu đúng đó là phát âm từ khoang bụng, âm
phát ra trong trường hợp này sẽ to, hơn nữa còn bảo vệ được cổ họng.
Chú ý âm lượng, âm điệu và tốc độ từ trong khẩu hiệu: thể dục cổ
động căn cứ vào âm lượng, âm điệu và tốc độ từ để truyền tải ý nghĩa khác
nhau. Khẩu hiệu chúng ta thường dùng có tốc độ đều hoặc biến tốc, có khẩu
hiệu âm thanh cao vút, lại có khẩu hiệu âm thanh trầm xuống. Do đó, khi tập
luyện cần chú ý phối hớp âm thanh cao thấp, nhe, nặng hay sử dụng các âm
lượng, âm điệu, tốc độ khác nhau để biểu đạt những ý nghĩa riêng.
Chú ý kết hợp giữa khẩu hiệu với âm nhạc, tiếng vỗ tay, đạo cụ: khẩu
hiệu phải đồng nhất với tiếng vỗ tay, đạo cụ và nhịp điệu của âm nhác mới đạt
được hiệu quả hoàn mỹ, nếu không sẽ phản tác dụng.
2.2. Âm nhạc
2.2.1. Tác dụng của âm nhạc
Thể dục cổ động trên khán đài chia thành 2 nhóm lớn: một loại là
không kèm theo âm nhạc, chỉ có động tác tay, tiếng vỗ tay, khẩu hiệu hoặc
phối hợp cùng đạo cụ, hình thức này được sử dụng rất phổ biển trong thực tế,
chủ yếu dùng cho các hoạt động cổ vũ trợ uy cho thi đấu trên sân. Loại thứ
hai là sử dụng kết hợp với âm nhạc, được dùng chủ yếu cho thể dục cổ động
trên khán đài khi xem thi đấu
Đối với thể dục cổ động trên khán đài có phối hợp với âm nhạc, ý đồ
và phong cách âm nhạc chính là điểm nhấn tạo nên sắc màu cho màn biểu
diễn, dưới tiết tấu của nền nhạc, cả hai kết hợp thành một khối thống nhất,
217
mang lại hiệu quả càng cao. Âm nhạc sử dụng thích hợp nhất đối với thể dục
cổ động trên khán đài đó là các bản nhạc kịch tính, phong phú và có sức kêu
gọi, nó đạt đến giới hạn của sự ăn ý, khiến mọi người quên hết mệt nhọc, dồn
tập trung vào hoạt động thể thao đầy kịch tính này, đạt được hiệu quả lên đến
đỉnh điểm của một tinh thần thoải mái cùng một cơ thể hưng phấn. Thông qua
ảnh hưởng của âm nhạc, nâng cao khả năng tập trung chú ý cho các thành
viên trong đội, kích thích óc sáng tạo và trí tưởng tượng. Thay đổi đa dạng
của giai điệu kéo theo sự biến hóa tương ứng về tiết tấu động tác của thể dục
cổ động trên khán đài, tao nên sức hấp dẫn đặc biệt trong thế giới tinh thần ở
mỗi người
2.2.2. Yêu cầu đặc biệt đội với âm nhạc
Lựa chọn nhạc nền dựa trên luật thi đấu của thể dục cổ động.
Cần căn cứ vào luật thi đấu để chọn nhạc, ví dụ như thời gian, loại
nhạc, nhịp điệu, hiệu quả âm thanh, cách thu thanh....tốt nhất nên chọn các bài
có giai điệu lên xuống, tiết tấu rõ ràng, dễ để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng
người nghe.
Lựa chọn nhạc nền dựa trên khẩu hiệu và động tác biên soạn.
Tốc độ của bài nhạc phải phù hợp với khẩu hiệu và động tác đã biên
soạn, tiết tấu quá nhanh sẽ ảnh hưởng đến động tác của VĐV không chuẩn
xác, biến hóa của động tác cũng không rõ ràng, tiết tấu quá chậm khiến động
tác uể oải, thiếu dứt khoát và kịch tính. Do đó, lựa chọn nền nhạc cần phù hợp
với đặc điểm của môn thể dục cổ động trên khán đài, tiết tấu âm nhạc phải rõ
ràng, dứt khoát, có hiệu quả về thính giác và sức lôi cuốn nhất định trên sân.
Khẩu hiệu và âm nhạc, giai điệu cũng cần phối hợp ăn ý, như vậy mới có thể
tạo nên sự đồng cảm cho khán giả, cảm nhận được nhiệt huyết và sức hấp
dẫn.
218
Lựa chọn nhạc nền dựa trên đặc điểm của đạo cụ.
Căn cứ vào đặc điểm đạo cụ lựa chọn nhạc nền giúp thể hiện tối ưu
chủ đề và ưu thế của thể dục cổ động, dựa trên độ tuổi, nghề nghiệp và sở
thích của VĐV, chọn lựa đạo cụ sao cho phù hợp, sau đó kết hợp với trình độ
kỹ thuật và ưu điểm của VĐV, lựa chọn nhạc nền.
Lựa chọn nhạc nền dựa trên nhân tố điểu kiện tác động bên ngoài.
Đối với những trận thi đấu khác nhau, lựa chọn nhạc nền và động tác
cũng khác nhau. Sự khác biệt về bố cục của sân thi đấu, diện tích không gian
xung quanh, thiết kế đạo cụ biểu diễn tạo nên sự khác biệt trong biên đạo
động tác và nhạc nền. Tốc độ bài nhạc nền không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi
diện tích sân thi đấu, nhưng cùng một giai điệu, cảm giác nghe trên sân thi
đấu với diện tích lớn sẽ chậm hơn so với trên sân diện tích nhỏ, như vậy sẽ
phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả âm thanh vốn có, đồng thời cũng ảnh
hưởng đến hiệu quả biểu diễn chung, cần chú trọng vừa nhấn mạnh được tính
hiệu quả, mới mẻ nhưng vẫn phải nổi bật đặc sắc của âm nhạc cùng động tác
3. Đạo cụ và trang phục
3.1. Đạo cụ
Đạo cụ là những vật dụng đa dạng được sử dụng trong quá trình thực
hiện màn biểu diễn thể dục cổ động trên khán đài.
3.1.1. Tác dụng của đạo cụ
Đạo cụ trong thể dục cổ động có thể hâm nóng bầu không khí thi đấu
trên sân, nó không chỉ ảnh hưởng đến cảm xúc của VĐV và khán giả, mà còn
ảnh hưởng đến xây dựng hình ảnh văn hóa trên khán đài. Vì vậy, đạo cụ góp
phần mang lại nét phong phú cho văn hóa trên khán đài.
3.1.2. Giới thiệu một số đạo cụ thường sử dụng
Những đạo cụ được sử dụng thường xuyên trong thể dục cổ động trên
khán đài đó là: Khăn tay, cờ, cầu hoa, còi, kèn, bảng biểu ngữ, trống, bóng
219
bay, cây nhựa, vòng tay....cũng có thể dựa trên văn hóa địa phương để lựa
chọn đạo cụ.
3.1.3. Những điểm cần lưu ý khi lựa chọn đạo cụ
Đạo cụ phải bắt mắt, rực rỡ, thay đổi đa dạng, phong phú, dựa vào
màu sắc nổi trội gia tăng hiệu quả thị giác. Như thế sẽ tăng hiệu quả khi thực
hiện các động tác biên đạo cũng như nổi bật khí thế tập thể.
Màu sắc của đạo cụ phải phù hợp với màu sắc của trang phục, tạo nên
hiệu quả về thị giác.
Hình thức của đạo cụ không có giới hạn, có thể phong phú và đa sắc
màu, nhưng cần chú ý đến yếu tố an toàn khi sử dụng.
3.2. Trang phục
3.2.1. Sử dụng trang phục
Trang phục đồng bộ có thể góp phần hâm nóng thêm bầu không khí
thi đấu trên sân, tạo nên sức mạnh lây lan cực kỳ hiệu quả. Do thể dục cổ
động trên khán đài không có bất kỳ yêu cầu bắt buộc nào đối với qui cách của
trang phục, nên trang phục của các cổ động viên chủ yếu được thể hiện thông
qua thiết kế về màu sắc và mẫu mã. Cùng với những phong cách chung khác
của thể dục cổ động trên khán đài, trang phục của bộ môn này cũng mang đặc
điểm về sức sống mới, sự tươi trẻ. Các trang phục được thiết kế đa phần là sự
phối hợp của các nhóm màu nổi, bắt mắt, nhằm mang lại cảm giác tuổi trẻ,
năng động, tươi sáng cho người xem.
3.2.2. Những điểm cần lưu ý khi lựa chọn trang phục
Nguyên liệu của trang phục
Chủ yếu sử dụng các sợi tự nhiên, sợi nhân tạo hoặc là những lạo vải
tổng hợp giữa sợi tự nhiên với sợi nhân tạo. Bởi vì độ đàn hồi, cảm giác khi
tiếp xúc với da, màu sắc, tính hút ẩm, độ thông khí của các dạng sợi này rất
tốt, hơn nữa giá thành lại hợp lý, do đó đây là một trong những nguyên liệu
được ưa chuộng trong thiết kế trang phục của thể dục cổ động trên khán đài.
220
Kiểu dáng của trang phục
Mẫu mã của trang phục thi đấu thể dục cổ động không bị giới hạn.
Song, màu sắc và mẫu mã của kiểu dáng của trang phục cần bám sát với chủ
đề cổ vũ của cả đội. Xét về kiểu dáng, trang phục của thể dục cổ động trên
khán đài nên đáp ứng được nhu cầu về tính kinh tế, sự đơn giản; mẫu thiết kế
nên rộng rãi, có độ co dãn, để phù hợp với các hoạt động của cơ thể khi VĐV
tham gia cổ vũ. Nhưng trong thi đấu, nhằm tăng thêm hiệu quả, khuyến khích
thể bổ sung thêm một số phụ kiện trang sức khác. Do đặc điểm đa dạng hóa
của bộ môn thể thao này, cho nên chủng loại về trang phục cũng khá phong
phú, thể hiện được nhiều phong cách khác nhau.
Màu sắc của trang phục
Khi lựa chọn màu sắc có thể ưu tiên nổi bật phong cách dân tộc. Sử
dụng các gam màu mạnh nhằm tăng thêm hiệu quả về thị giác. Màu sắc trang
phục được lựa chọn còn cần phù hợp với đạo cụ cũng như khung cảnh smôi
trường thi đấu trên sân.
4. Động tác cơ bản trên khán đài
4.1. Động tác tay không
4.1.1. Tư thế chuẩn bị
Tư thế ngồi: Ngẩng đầu ưỡn ngực, vai mở căng ra sau, hóp bụng,
thẳng lưng, hai tay đặt tự nhiên trên đùi, hai chân khép, cẳng chân vuông góc
với mặt đất, đầu gối và mũi chân cùng hướng về một phía (hình 8-1)
Hình 8-1 Hình 8-2
221
Tư thế đứng: Ngẩng đầu ưỡn ngực, xương bả vai mở căng ra sau, hóp
bụng, thẳng lưng, hai tay buông dọc thân người, hai chân khép (hình 8-2)
4.2.2. Các động tác tay
Nâng tay:
Các động tác nâng tay thường gặp trong thể dục cổ động gồm: tay
trước ngực, tay trên cao, tay sang ngang (hình 8-3)
Hình 8-3
Vỗ tay
Các động tác vỗ tay thường gặp trong thể dục cổ động gồm: vỗ tay
trước ngực, vỗ tay trên đầu, vỗ tay ngang tai (hình 8-4)
Hình 8-4
222
Phương pháp vỗ tay: Khép 4 ngón tay của một bàn tay đặt lên bàn tay
kia ở vị trí hổ khẩu.
Rung tay
Các động tác rung tay thường gặp trong thể dục cổ động gồm: rung
tay trước ngực, rung hai tay trên cao, rung một tay trên cao(hình 8-5).
Hình 8-5
Gập duỗi cánh tay
Các động tác gập duỗi cánh tay thường gặp trong thể dục cổ động
gồm: nâng đồng thời hai tay từ vị trí gập trước ngực thành duỗi trên cao, hai
tay đan chéo từ vị trí trước ngực thành duỗi trên cao, đẩy đồng thời hai tay từ
từ vị trí gập trước ngực thành duỗi trước, đẩy đồng thời hai tay từ từ vị trí đan
chéo trước ngực thành duỗi trước (hình 8-6).
1 2 3 4 5 6 7 8
Hình 8-6
223
Vung tay (đánh tay)
Các động tác gập duỗi cánh tay thường gặp trong thể dục cổ động
gồm: hai tay ngang vai, giữ yên cánh tay, cẳng tay lần lượt vung (đánh )sang
hai bên; hai tay trên cao, lần lượt vung (đánh) sang hai bên; thân trên lần lượt
di chuyển (đánh) sang hai bên, đồng thời hai tay gập cao trước ngực, cẳng tay
chồng lên nhau; một tay trên cao, một tay trước ngực, lần lượt vung (đánh)
hai tay lên xuống. (hình 8-7)
1 2 3 4 5 6 7 8
Hình 8-7
Quay và xoay tròn cánh tay
Các động tác quay và xoay tròn cánh tay thường gặp trong thể dục cổ
động gồm: hai tay hoặc một tay quay hoặc xoay tròn trước ngực, trên cao, hai
bên (hình 8-8).
1 2 3 4 5 6 7
Hình 8-8
224
Sóng người
Là động tác có biên độ lên xuống rõ rệt được cổ động viên thực hiện
lần lượt, giống nhau, theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ,
hình thành cảm giác như các làn sóng về thị giác.
Các hình thức thực hiện sóng người:
- VĐV lần lượt đứng lên hoặc giữ nguyên tư thế ngồi, đồng thời đánh
hai tay lên cao, VĐV kế tiếp ngồi xuống theo, đống thời cũng thực hiện hai
tay đánh trên cao.
- VĐV lần lượt đứng lên hoặc giữ nguyên tư thế ngồi, đồng thời quay
hoặc xoay vòng hai tay từ trái sang phải (hoặc ngược lại), tiếp đó xoay hoặc
quay vòng từ phải sang trái (hoặc ngược lại) .
- Các VĐV trên cùng một hàng ngang tay sang ngang, đặt lên vai của
người bên cạnh hoặc đan chéo hai tay trước ngực, nắm vào tay người bên
cạnh, lần lượt đứng lên, ngồi xuống.
Các động tác tay khác
Ngoài những động tác giới thiệu ở trên, còn có một số động tác tay
khác như: hai tay đan chéo trước ngực, hai tay gập trước ngực, cẳng tay
chồng lên nhau.... (hình 8-9)
Hình 8-9
225
Các tư thế tay của thể dục cổ động trên khán đài gồm có: Xoè rộng
các ngón tay, khép sát các ngón tay, giơ ngón cái lên cao, các ngón còn lại
nắm hờ, nắm đấm (hình 8-10)
Hình 8-10
226
Chương 9
PHƯƠNG PHÁP BIÊN SOẠN THỂ DỤC CỔ ĐỘNG.
1. Nguyên tắc biên soạn bài thể dục cổ động
Bất kỳ một hoạt động nào cũng cần đến những nguyên tắc cơ bản phù
hợp với qui định đặc thù vốn có của hoạt động đó. Muốn biên soạn thành
công bài biểu diễn, chỉ tìm hiểu về mục đích cùng những kiến thức liên quan
trực tiếp là hoàn toàn chưa đủ, cần phải nắm bắt tư tưởng chỉ đạo và nguyên
tắc của những loại hình thể dục cổ động khác nhau, đồng thời trên thực tế còn
phải tập trung xoay quanh đến tư tưởng này xuyên suốt quá trình biên soạn.
1.1. Tư tưởng chỉ đạo trong biên soạn
Là hình thức nghệ thuật mang tính biểu diễn và tính thưởng thức cao,
kèm theo các tôn chỉ khác là trợ uy, khích lệ tinh thần, đây chính là bản chất
của thể dục cổ động trên khán đài, cũng là tư tưởng chỉ đạo cho những người
làm công tác biên soạn nội dung này.
Cũng như các bộ môn thể thao khác, thể dục cổ động trên khán đài
cũng có yêu cầu đối với vấn đề an toàn, sức khỏe, tạo sức hấp dẫn đến người
xem.
1.2. Nguyên tắc trong biên soạn
Không có nguyên tắc, sẽ không thành khuôn khổ. Tuân thủ qui luật và
nguyên tắc đặc thù trong hoạt động biên soạn là điều kiện bắt buộc giúp bảo
đảm người biên soạn cho ra đời những sản phẩm chất lượng. Trong quá trình
biên soạn động tác thể dục cổ động cần tuân thủ những nguyên tắc sau:
1.2.1. Tính mục đích
Khi biên soạn động tác thể dục cổ động, trước tiên cần nắm rõ mục
đích và nhiệm vụ của biên soạn. Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ khác nhau,
kéo theo sự khác biệt đối với yêu cầu về phân bố tỷ lệ nội dung thành phần.
227
Mục đích chính của biên soạn động tác thể dục cổ động trên khán đài
gồm:
- Biên soạn bài với mục tiêu đoạt được thắng lợi.
- Biên soạn bài phù hợp với từng nội dung biểu diễn.
- Biên soạn bài phục vụ cho từng hoạt động cổ vũ, trợ uy.
1.2.2. Tính hợp lý
Kết cấu của thể dục cổ động trên khán đài gồm hai thành phần đó là
khẩu hiệu và động tác thực hiện. Về động tác, cần chú trọng đến hình thức thể
hiện cùng hoạt động của chi trên; về đạo cụ, trang phục cùng những phụ kiên
nghệ thuật khác, cần phù hợp với đặc điểm đối tượng cùng phong cách của
toàn bài. Bất luận là kết cấu tổng thể của toàn bài hay chỉ là một động tác đơn
lẻ hoặc một phụ kiện nhỏ kèm theo, đều cần tuân thủ đặc điểm của thể dục cổ
động trên khán đài. Nguyên tắc tuân thủ mang tính hợp lý chủ yếu thể hiện ở
những điểm sau:
- Hợp lý trong biên soạn động tác: kết cấu, phát lực, quĩ đạo, đường đi
của động tác cần phù hợp với đặc điểm sinh lý và giải phẫu cơ thể.
- Hợp lý trong sử dụng đạo cụ: cách đặt, bỏ, sử dụng đạo cụ, liên kết
đạo cụ với động tác cũng cần thiết kế hợp lý.
- Hợp lý trong kết cấu của động tác: thứ tự động tác phải hợp lý, động
tác theo bài phải liền mạch, có tính liên hoàn, động tác quá độ không cứng
nhắc, phối hợp phải linh động
- Hợp lý về khối lượng: cường độ động tác, mật độ động tác phải phù
hợp với qui luật vận động của cơ thể, đồng thời động tác cần phù hớp với đặc
điểm kết cấu sinh lý và giải phẫu cơ thể.
1.2.3. Tính mục tiêu
Biên soạn động tác thể dục cổ động cần phù hợp với đặc điểm của mỗi
một lứa tuổi, giới tính, năng lực cùng những điều kiện thực tế khác, có như
vậy mới tạo nên những động tác phong phú và có hồn. Khi biên soạn bất kỳ
228
động tác thể dục cổ động nào cũng cần nghiên cứu kỹ lưỡng và tỉ mỉ, hòng
đáp ứng được yêu cầu về tâm sinh lý lứa tuổi, thời gian, điều kiện sân bãi,
dụng cụ cho từng cá nhân
1.2.4. Tính sáng tạo
Trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ và đạt được mục tiêu, tính sáng tạo là
điểm sáng, là cơ hội ghi điểm cho quá trình biên soạn động tác. Sự sáng tạo
đối với những nhân tố cấu thành thể dục cổ động như: khẩu hiệu, âm nhạc,
đạo cụ, trang phục, trình tự động tác... quyết định đến phong cách của chính
bộ môn này, phản ánh được chủ đề của bài biểu diễn. Do đó, sáng tạo là một
nguyên tắc nữa cần phải tuân thủ trong quá trình biên soạn thể dục cổ động.
Nội dung các động tác thể dục cổ động trên khán đài rất phong phú,
thông qua quá trình gia công tỉ mỉ có thể sáng tạo ra vô số những động tác
mới mẻ, nhiều màu sắc, phù hợp với đặc điểm thời đại. Động tác của thể dục
cổ động trên khán đài cần không ngừng sáng tạo, như vậy mới có thể duy tri
sức sống mãnh liệt, thiết kế của động tác phải bảo đảm hai tiêu chí quan trọng
đó là mới mẻ và độc đáo.
1.2.4.1. Sáng tạo trong thiết kế động tác
Thiết kế động tác cần dựa trên đặc điểm của thể dục cổ động trên khán
đài, kết hợp và sáng tạo những động tác nhóm thể dục cổ động với động tác
nhóm vũ đạo. Do thể dục cổ động trên khán đài đặc biệt chú trọng đến đặc
điểm vận động của động tác tay, nên có thể kết hợp với thay đổi tư thế ban
đầu, hướng vận động, biên độ, tốc độ, tiết tấu, quĩ đạo của động tác, thậm chí
là cả đối tượng, nhằm sáng tạo ra những động tác mới có kết cấu hợp lý, có
hiệu quả. Ngoài ra, liên kết giữa các động tác với nhau cũng có thể khơi
nguồn sáng tạo, liên kết cần tinh tế, mang lại cảm giác liên hoàn, mới mẻ cho
người xem.
229
1.2.4.2. Sáng tạo trong thiết kế khẩu hiệu
Khẩu hiệu cần mang đặc điểm đơn giản, dễ nhớ, dễ hiểu, hùng hồn,
mang sức hiệu triệu cao, dễ lôi cuốn người nghe. Có thể kết hợp thực tế với
đặc điểm nghề nghiệp của đối tượng, thiết kế những khẩu hiệu sinh động và
không kém phần sôi nổi.
1.2.4.3. Sáng tạo trong đội hình
Lựa chọn đội hình phải dựa trên mục đích, đối tượng và đạo cụ.
Thông thường, sẽ ưu tiên sử dụng các đội hình đường thẳng, đường chéo,
hình quạt, hình vòng cung, hình trái tim, hình ngôi sao, hình tròn, biểu tượng
5 vòng tròn Olympic.
1.2.5. Nhất quán giữa động tác với âm nhạc
Giai điệu, phong cách của âm nhạc phải kết hợp ăn ý với tiết tấu,
phong cách động tác và cảm xúc của người biểu diễn, nếu không sẽ làm mất
đi tính nghệ thật của thể dục cổ động trên khán đài.
Không ngừng đổi mới, hoàn thiện đối với nhóm động tác theo bài, cố
gắng hài hòa giữa âm nhạc với động tác.
Điểm cần lưu ý đó là khi cắt nhạc phải làm sao vẫn giữ được tính hoàn
chỉnh của giai điệu, tránh việc cắt ráp, lắp ghép tùy ý, tự tiện.
1.2.6. Bảo đảm trình tự động tác
Cùng một động tác, không cùng trình tự xuất hiện hay những động tác
khác nhau với tổ hợp trình tự xuất hiện khác nhau tất nhiên đều mang lại
những hiệu quả khác nhau. Trình tự thực hiện động tác là một trong những
nguyên tắc bắt buộc cần tuân thủ khi tiến hành biên soạn động tác.
1.2.6.1. Cùng một động tác nhưng trình tự xuất hiện khác nhau
Thực hiện tập thể: Tất cả những người tham gia cùng hoàn thành động
tác.
Thực hiện lần lượt: Trong quá trình lần lượt từng người hoàn thành,
lại có thể căn cứ vào sự bố trí khác nhau để tiến hành theo tuần tự. Có thể một
230
người thực hiện một động tác từ phải sang trái xong mới đến người kế tiếp,
cũng có thể chia thành nhiều nhóm lần lượt hoàn thành; những nhóm riêng
biệt có thể căn cứ vào yêu cầu của đội hình, hoàn thành động tác theo thứ tự.
Ví dụ lấy động tác sóng người làm ví dụ, có thể thực hiện động tác
theo thứ tự sau: cá nhân đứng lên – ngồi xuống; tập thể cùng đứng lên- ngồi
xuống, từng cá nhân đứng lên nhưng tập thể cùng ngồi xuống, chia nhóm lần
lượt đứng - ngồi, xen kẽ giữa đứng với ngồi.
Thực hiện xen kẽ: Căn cứ vào yêu cầu đội hình hoặc yếu tố hiệu quả
khác nhau, chia VĐV thành từng nhóm riêng, lần lượt thực hiện xen kẽ các
động tác giống hoặc khác nhau, tạo sức mạnh đột phá, hiệu quả về phần nhìn
cho người xem.
1.2.6.2. Động tác khác nhau, trình tự xuất hiện khác nhau
Những nhóm khác nhau cùng lúc thực hiện các động tác khác nhau.
Những nhóm khác nhau lần lượt thực hiện các động tác khác nhau.
Thực hiện xen kẽ các động tác khác nhau.
1.2.7. Bảo đảm tính nghệ thuật
Là một loại của hình thức biểu diễn, thể dục cổ động trên khán đài gắn
liền với tính nghệ thuật. Trong quá trình biên soạn động tác, tính nghệ thuật
thể hiện ở nét đẹp khác nhau, nét đẹo trong động tác, nét đẹp trong tạo hình,
nét đẹp trong đạo cụ, trong sự phối hợp và ngay cả trong chủ đề cần nổi bật,
gửi đến người xem một thông điệp, một hàm ý nhất định. Vì vậy, bảo đảm
tính nghệ thuật là một trong những yêu cầu cần theo đuổi đến cùng của quá
trình biên soạn động tác tham gia thi đấu.
2. Các yêu cầu về biên soạn bài biểu diễn thể dục cổ động
2.1. Người biên soạn và đối tượng biên soạn
Bất kỳ một ai am hiểu về thể dục cổ động trên khán đài đều có thể tiến
hành biên soạn động tác, nhưng hiệu quả và chất lượng thu về lại có sự khác
biệt vô cùng to lớn. Thực tế các hoạt động của thể dục cổ động trên khán đài
231
lại luôn lấy sự tham gia của tập thể làm đặc trưng chính, xuyên suốt quá trình
biên soạn, người biên soạn và đối tượng biên soạn gắn kết rất chặt chẽ. Quá
trình biên soạn là quá trình tích lũy về trí tuệ mang tính bổ trợ, tính tập thể và
tính sáng tạo của người biên soạn với đối tượng biên soạn, là quá trình ma sát
liên tục nhằm truyền tải thông tin đến đối tượng biên soạn một cách sáng tạo
phản ảnh được tư tưởng của chủ đề theo những nguyên tắc chủ đạo đã có. Vì
vậy, người biên soạn và đối tượng biên soạn đều có những yêu cầu khác nhau.
2.1.1. Người biên soạn
Là người đóng vai trò chủ đạo trong suốt quá trình biên soạn động tác,
do đó, người biên soạn không chỉ cần có kiến thức chuyên môn tinh thông,
đồng thời còn phải am hiểu về những môn nghệ thuật và thể thao liên quan
khác. Một người biên soạn cần phải trang bị cho mình những khả năng bắt
buộc sau:
Khả năng quan sát nhạy bén: yêu cầu người biên soạn không chỉ có
cái nhìn tỉ mỉ đối với những sự vật bên ngoài, mà còn đòi hỏi ở họ khả năng
quan sát nhạy bén đối bản chất bên trong của vấn đề.
Có khả năng phân tích và lĩnh hội tốt: chủ yếu dựa vào nền tảng kiến
thức vốn có của người biên soạn tiến hành phân tích đối với sự vật, sự việc,
chuyển hóa và lĩnh hội những kiến thức mới.
Có khả năng biểu đạt chính xác, tràn đầy nhiệt huyết: trong quá trình
biên soạn và thi đấu của thể dục cổ động, khả năng biểu đạt là mắt xích quan
trọng giúp truyền tải thông tin, sự việc dù tốt đến đâu nhưng quá trình truyền
đạt thông tin gặp trở ngại, sẽ dẫn đến sự sai lệch so với mục đích mà chúng ta
muốn đạt đến.
2.1.2. Đối tượng biên soạn
Là người biểu diễn trực tiếp trong quá trình biên soạn cũng như thi
đấu, là chủ thể biểu đạt hình thức, chủ đề, phong cách của bài thể dục cổ
232
động. Với vai trò là người tham gia thi đấu, đối tượng biên soạn cần có những
phẩm chất và khả năng sau:
- Có niềm đam mê đối với môn thể dục cổ động trên khán đài.
- Có tính thần tham gia tích cực và chủ động, tinh thần này chính là
liều thuốc kích thích cho quá trình phát triển đi lên theo xu hướng “ nhiều,
nhanh, tốt, tiết kiệm” của sự vật.
- Có khả năng thao tác và chấp hành tốt, nếu thiếu hai yếu tố này, biên
soạn và biểu diễn trong thể dục cổ động sẽ trở nên vô nghĩa.
2.2. Động tác, âm nhạc và khẩu hiệu
Thể dục cổ động trên khán đài là nội dung thi đấu mang tính biểu diễn
tập thể dưới nền nhạc có qui luật và nguyên tắc nhất định, thông qua các bài
tập của cơ thể nhằm đạt được mục đích đã đề ra. Vì vậy, động tác và âm nhạc
là hai thành phần cấu thành chính của thể dục cổ động, hai thành phần này
vừa tồn tại độc lập, lại vừa có mối tương quan, tức là mỗi một thành phần đều
có hình thức biểu đạt độc đáo nhưng vẫn tương tác lẫn nhau. Người biên soạn
cần phân biệt rõ hình thức biểu hiện cơ bản của hai mặt kể trên cũng như phải
nắm vững mối liên kết giữa chúng.
2.2.1. Động tác
Động tác là nhân tố quan trọng hàng đầu của thể dục cổ động trên
khán đài. Các động tác bắt mắt, hợp lý, phù hợp với yêu cầu của bộ môn này,
càng dễ tiếp cận thậm chí là đạt được mục tiêu đã đưa ra. Các động tác đẹp
thường cuốn hút và mang lại cảm giác vui vẻ cho người xem, ngược lại sẽ dễ
hình thành tâm lý nhàm chán khi xem biểu diễn. Động tác có rất nhiều nhân
tố hợp thành, trong đó 3 đặc điểm dưới đây là rất quan trọng.
Vị trí: Bao gồm cả vị trí không gian tương đối của cơ thể, hay vị trí
tương đối giữa tứ chi với thân người.
Tiết tấu: Chủ yếu dùng để chỉ mối quan hệ về thời gian giữa những
động tác với nhau.
233
Quá trình: Gồm 2 phương diện: Trước hết là đường đi và phương
hướng, ý chỉ quĩ đạo vận động của cơ thể trong quá trình tiếp nói giữa các
động tác. Trên thực tế, có thể dựa trên lối tư duy như sau tiến hành thay đổi từ
một động tác đơn giản trở thành động tác khó: Căn cứ vào phong cách và yêu
cầu chọn một động tác cơ bản; biến hóa về đường đi; biến hóa về tiết tấu; biến
hóa về phương hướng; phụ kiện (đạo cụ, tư thế tay...); biến hóa về thứ tự thực
hiện động tác; trình tự số lần hoàn thiện đội hình của toàn đội.
Vận dụng động tác có khoa học, sẽ nảy sinh ra vô số động tác khác,
mang lại hiệu quả cao. Nắm rõ qui luật động tác là yếu tố bắt buộc cần có của
người biện soạn, bởi vì nó chính là then chốt của thể dục cổ động trên khán
đài.
Trong thể dục cổ động, đa phần động tác được hoàn thành ở tư thế
ngồi, hoạt động chi trên chiếm vị trí chủ đạo, với các bài tập tay không là
chính, động tác đơn giản, biên độ lớn kết hợp với vỗ tay là xu hướng phong
cách đang được ưa chuộng. Các ví dụ dưới đây sẽ lấy đường đi của đạo cụ
làm chính.
Biểu diễn với quạt: Sử dụng các động tác có bản của quạt như: mở
quạt, thu quạt, điểm quạt, rung quạt, xoay quạt làm chính
Biểu diễn với cây cổ vũ (giống bong bóng, nhưng có kích thước hình
khối dài): Sử dụng các động tác tay không kết hợp với vỗ cây làm chính
Biểu diễn với cờ: Sử dụng các động tác tay không cơ bản kết hợp với
phất cờ, vẫy cờ làm chính.
2.2.2. Âm nhạc:
Tiết tấu nhạc nhanh hay chậm có liên quan trực tiếp đến tốc độ của
động tác, lực thực hiện động tác, biên độ của động tác, khối lượng của động
tác.....Giai điệu của âm nhạc với động tác đạt được sự đồng nhất, sẽ có tác
dụng khơi nguồn cảm hứng cho người biểu diễn. Có ba cách lựa chọn nhạc:
234
- Chọn nhạc trước, căn cứ vào tiết tấu, đặc điểm, phong cách của bài
nhạc thiết kế động tác.
- Biên soạn động tác trước, sau đó mời chuyên gia hay người viết nhạc
căn cứ vào tiết tấu, phong cách, cao trào của động tác biên soạn sáng tác nhạc
nền cho phù hợp. Tiến hành theo trường hợp này sẽ mang lại hiệu quả rất lý
tưởng.
- Biên soạn động tác trước, sau đó mới chọn nhạc nền. Căn cứ vào
động tác đã soạn, lựa chọn nhạc nền tương ứng. Thông thường với cách lựa
chọn này sẽ khó tránh khỏi trường hợp giai điệu của nhạc và tiết tấu động tác
không khớp.
2.2.3. Khẩu hiệu
Khẩu hiệu là nội dung cấu thành quan trọng của thể dục cổ động, là
yếu tố điển hình để phân biệt với những môn biểu diễn khác. Khẩu hiệu thông
thường cần bảo đảm các yêu cầu như đơn giản, rõ ràng, có thể truyền tải chủ
đề một cách chính xác nhất, thuyết phục nhất, đồng thời nó còn có tác dụng
gia tăng nhiệt huyết, tinh thần cổ vũ , ý chí cho VĐV.
3. Phương pháp biên soạn thể dục cổ động
3.1. Các bước biên soạn
3.1.1 Chuẩn bị trước khi biên soạn
Trước khi biên soạn, cần xác định mục đích, nhiệm vụ, yêu cầu; tìm
hiểu tình hình đối tượng biên soạn gồm: độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình
độ văn hóa, tình trạng sức khỏe, khả năng vận động....; nắm rõ lịch thi đấu,
thời gian, điều kiện sân bãi, thiết bị của sân biểu diễn; trang bị những kiến
thức liên quan đến biên soạn thể dục cổ động trên khán đài.
3.1.2. Xây dựng phương án tổng thể
Trên cơ sở đã nắm bắt tình hình, xác định nội dung cơ bản (ví dụ như
tay không hay có dụng cụ), phong cách (sôi động hay nhẹ nhàng), độ khó
235
(lớn, trung bình hay nhỏ) của bài biên soạn, trình tự kết cấu động tác thiết kế,
nhóm động tác chính hay số nhịp chính, nhịp trùng của động tác toàn bài.
Nếu cần kết hợp nhạc, sau khi hình thành khung cơ bản, lựa chọn cắt
ghép nhạc. Âm nhạc có thể kích thích tư duy, bổ sung hay sửa chữa cho
phương án chung. Sau khi xác định được phương án tổng thể, thông qua bảng
thiết kế phương án tổng kết và qui nạp lại, nhằm kiểm tra tính hợp lý và hoàn
chỉnh cho kế hoạch, đồng thời lấy đó làm đại cương chính tiến hành thiết kế
động tác cụ thể. Có thể sử dụng 2 dạng phương án sau:
- Phương án 1: Xác định nhiệm vụ mục đích; xây dựng khung cơ bản;
lựa chọn nhạc nền , động tác; thu thập chủ đề động tác; biên soạn theo từng
phân đoạn (khẩu hiệu + động tác); tổ hợp thành bài; sửa chữa định hình.
- Phương án 2: Xác định nhiệm vụ mục đích; thu thập chủ đề động
tác; lựa chọn nhạc nền , động tác; xây dựng khung cơ bản; biên soạn theo
từng phân đoạn (khẩu hiệu + động tác); tổ hợp thành bài; sửa chữa định hình.
3.1.3. Chọn nhạc nền, định hình phong cách
Âm nhạc là linh hồn của động tác. Âm nhạc vốn dĩ một loại hình thức
nghệ thuật, động tác chỉ khi ăn khớp với âm nhạc mới có thể lột tả và truyền
tải được cảm xúc.
Phong cách âm nhạc, âm điệu cơ bản của bài nhác sẽ trực tiếp quyết
định đến phong cách động tác, thể loại của bài biểu diễn; lựa chọn âm nhạc
thích hợp hoặc căn cứ vào yêu cầu để sáng tác nhạc đều là nền tảng cơ bản
quyết định đến hiệu quả động tác của toàn bài. Lựa chọn nhạc nền là khâu vô
cùng quan trọng của quá trình biên soạn động tác
3.1.4. Biên soạn động tác, đội hình
Căn cứ vào phương án đã xây dựng, từng bước biện soạn động tác,
thiết kế đội hình, hoàn thành biên soạn động tác toàn bài.
3.1.5. Thử nghiệm và sửa chữa
236
Sau khi thiết kế xong bài hoàn chỉnh, thông thường sẽ mất một khoảng
thời gian trưng cầu ý kiến chuyên gia và ý kiến liên quan khác, sau đó tiến
hành sửa chữa thêm một lần nữa đối với đã dựng ban đầu.
Đối tượng thử nghiệm có thể là người biểu diễn hoặc cúng có thể là
người biện soạn hay những người tham gia tập luyện khác, tiến hành ghi
chép, nghiên cứu đối với quá trình thử nghiệm, nhằm cung cấp cơ sở cho quá
trình sửa chữa sau này. Trong quá trình thử nghiệm cần giải quyết được các
vấn đề sau:
- Động tác toàn bài có phù hợp hay không với phương án tổng thể, có
thể hiện được hay không nhiệm vụ mục đích của quá trình biên soạn.
- Độ khó, dễ của động tác ra sao.
- Lượng vận động và tiết tấu của toàn bài có hợp lý, khoa học hay
không.
- Đường đi, phương hướng của động tác, tư thế động tác kết thúc có
qui phạm ( chuẩn mẫu) hay không.
3.1.6. Mô tả và vẽ hình
Trên cơ sở trưng cầu ý kiến, tiến hành sửa chữa và đúc kết lại phương
án cuối, sau đó mô tả bằng chữ và vẽ hình giải thích. Khi mô tả cần chuẩn
xác, rõ ràng, phù hợp với yêu cầu đối với thuật ngữ động tác. Như vậy người
thực hiện mới hiểu rõ đường đi, phương hướng, yêu cầu cụ thể của toàn bộ
động tác, thuận lợi cho quá trình phổ biến và phổ cập. Ghi chép bằng chữ cần
thể hiện đầy đủ các nội dung: tên động tác, tư thế chuẩn bị, động tác từng
nhịp, động tác kết thúc, những điểm lưu ý (yêu cầu động tác).
Khi vẽ hình, phải căn cứ vào ghi chép bằng chữ để vẽ, thông thường
sẽ chỉ thể hiện hình vẽ chính diện động tác kết thúc ở mỗi nhịp, nếu hình vẽ
chính diện không phản ánh được hết động tác, có thể sử dụng thêm hình bên
để bổ trợ, đồng thời dùng mũi tên chú thích đường đi của động tác. Hình vẽ
237
thường bao gồm các nội dung như tư thế chuẩn bị, tư thế động tác kết thúc
của mỗi nhịp.
3.2. Phương pháp biên soạn
3.2.1. Phương pháp thu thập chủ đề động tác
Thu thập chủ đề động tác là tiền đề của quá trinh biên soạn động tác
bài thể dục cổ động. Chỉ khi có được số lượng lớn chủ đề động tác, mới có thể
biên soạn thành các bài phong phú, đa dạng. Phương pháp thu thập chủ đề
động tác bao gồm các dạng dưới đây:
- Phương pháp ghi hình: Ý chỉ người biên soạn thông qua quan sát
những đoạn băng ghi hình có sẵn để tìm chủ đề tương thích. Đây là cách thu
tập thông tin đơn giản nhất, dễ thao tác nhất.
- Phương pháp quan sát: Ý chỉ người biên soạn thông qua quá trình
quan sát tỉ mỉ những hoạt động trong cuộc sống thường ngày, chuyển những
động tác đó thành động tác thể dục cổ động trên khán đài.
- Phương pháp thử nghiệm: Ý chỉ người biên soạn tự mình thử nghiệm
tổ hợp, gia công đối với những kỹ năng đã đạt được thành phương pháp biên
soạn trong thể dục cổ động.
- Phương pháp ghi chép: Ý chỉ người biên soạn thông qua những hình
thức khác nhau thu thập được đề tài liên quan, sau đó dùng bằng chữ hay hình
vẽ ghi chép lại.
3.2.2. Biên soạn động tác đối với từng vị trí trên cơ thể
Biên soạn động tác chi trên
Động tác chi trên của thể dục cổ động trên khán đài bao gồm đồn tác
tay và các động tác biến hóa khác, phương pháp biên soạn chính gồm:
- Phương pháp thay đổi biên độ động tác chi trên.
- Phương pháp thay đổi quĩ đạo động tác chi trên.
- Phương pháp thay đổi tiết tấu động tác chi trên.
- Phương pháp đối xứng động tác chi trên.
238
- Phương pháp thay đổi trình tự động tác chi trên.
Biên soạn động tác thân người và chi dưới
Xuất phát từ đặc điểm vốn có của thể dục cổ động trên khán đài, đa
phần động tác đều được hoàn thành trong tư thế ngồi, do đó động tác của thân
người và chi dưới khá ít, phương pháp biên soạn giống với phần biên soạn
dành cho động tác chi trên.
Biên soạn phối hợp giữa động tác đầu cổ, chi trên, thân người với chi
dưới: Trong quá trình biên soạn động tác thể dục cổ động, ngoài những động
tác chi trên, thì sự phối hợp giữa động tác đầu cổ, chi trên, thân người với chi
dưới cũng là nội dung quan trọng cần được xem xét, chỉ khi có sự kết hợp của
toàn thành phần trên cơ thể, động tác thể dục cổ động mới liên hoàn, an toàn,
đạt được mục đích của biểu diễn. Phương pháp biên soạn phối hợp giữa động
tác đầu cổ, chi trên, thân người với chi dưới gồm:
Phương pháp bảo đảm trọng tâm hợp lý. Phương pháp phù hợp với
nguyên lý kéo dãn cơ.
3.3. Quá trình biên soạn
Là các bước và qui trình thực hiện khi biên soạn động tác thể dục cổ
động. Thực hiện thứ tự các bước dưới đây có thể nâng cao hiệu quả sáng tạo
và chất lượng động tác, đồng thời còn giúp ích cho chúng ta trong quá trình
phân tích kết cấu động tác, thuận lợi cho công đoạn sửa chữa động tác sau
này. Quá trình biên soạn có nhiều dạng, nhưng chủ yếu bao gồm:
3.3.1. Căn cứ vào yêu cầu xác định mục tiêu
Trên cơ sở xác định nhiệm vụ mục tiêu của biên soạn, sau khi tìm hiểu
tình hình chung về đối tượng cũng như đạo cụ và thiết bị sân bãi, thiết lập
mục tiêu tổng thể, hình thành tư tưởng mang tính mục đích cho cả quá trình
biên soạn
Xác định rõ nhiệm vụ, mục đích của biên soạn: do mục đích khi tham
gia thể dục cổ động của các đối tượng có sự khác biệt về độ tuổi, nghề nghiệp,
239
tình trạng sức khỏe, có người tham gia để cỗ vũ cho VĐV mình yêu thích, có
người tham gia với mục đích thi đấu đoạt giải, chính vì vậy người biên soạn
cần phải tìm hiểu rõ ràng, cụ thể tình hình trước khi biên soạn.
Nắm rõ điều kiện trang thiết bị sân bãi: nắm rõ tình hình sân bãi cùng
đạo cụ sẽ giúp ích cho quá trình thiết kế động tác
3.3.2. Lựa chọn và gia công âm nhạc
Âm nhạc đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình biên soạn.
Khi lựa chọn âm nhạc, cần phù hợp với đặc điểm môn thể dục cổ động trên
khán đài, trùng khớp với chủ đề biểu diễn, tiết tấu mới mẻ, sôi động. Tiếp
đến, căn cứ vào mục tiêu biên soạn, đối tượng biên soạn, chốt lại phong cách
âm nhạc, nổi bật đặc điểm của đối tượng biên soạn. Sau khi xác định nhạc
nền, có thể thực hiện xử lý, gia công đối với bài nhạc, nếu cần có thể cắt bỏ,
lắp ghép hay ngắt lời...., nhưng nguyên tắc chung đó là phải bảo đảm được
tính hoàn chỉnh của bài nhạc.
3.3.3. Chọn lựa chủ đề, xác định phong cách
Thông thường, khi xây dựng được khung tổng thể, chọn xong nhạc
nền, thu thập đề tài liên quan, sẽ xác định được phong cách của toàn bài. Thu
thập chủ đề cần dựa trên kinh nghiệm và kiến thức của người biên soạn, vì
vậy đây là quá trình tích lũy lâu dài.
3.3.4. Xây dựng kết cấu chung
Kết cấu chính là khung xương, nó nâng đỡ cho toàn bài. Sau khi xác
định phong cách, thu thập chủ đề, tiếp đến đó là xây dựng khung bao gồm
phần mở đầu, cơ bản, kết thúc, khẩu hiệu, đạo cụ, phối hợp đạo cụ, đội hình di
chuyển...sau đó liệt kê đề cương, bắt đầu biên soạn động tác và khẩu hiệu.
3.3.5. Biên soạn phân đoạn, động tác tổ hợp
Động tác là đơn vị cấu thành cơ bản của bài, là cơ sở của động tác
theo bài. Cùng một phong cách, động tác kết hợp theo thứ tự nhất định sẽ hình
thành động tác tổ hợp, sau đó hình thành nên bài.
240
3.3.6. Điều chỉnh, định hình bài
Sau khi hoàn thành tổ hợp động tác, trước tiên cần luyện tập thử
nghiệm, đưa ra đánh giá và điều chỉnh, từ đó động tác hoàn thiện động tác.
Tập luyện liên tục, xử lý kịp thời những vấn đề xuất hiện trong quá
trình diễn tập, đánh giá hiệu quả toàn diện đối với bài biểu diễn, cuối cùng
xác định động tác và định hình bài.
4. Những lưu ý khi biên soạn thể dục cổ động trên khán đài
4.1. Bảo đảm an toàn
Các động tác dùng trong thể dục cổ động rất an toàn, tốt cho sức khỏe,
tuân theo qui luật phát triển tự nhiên của cơ thể. Do khi biểu diễn, khoảng
cách với người bên cạnh rất gần, lại sử dụng đạo cụ, nên trường hợp này
thường dễ xảy ra xô xát gây chấn thương, vì vậy trong khoảng cách cho phép,
nên tránh xảy ra va chạm với thành viên khác để bảo đảm an toàn.
4.2. Sử dụng đạo cụ hợp lý
Căn cứ vào mục đích biên soạn và tình hình sân bãi thực tế để lựa
chọn đạo cụ sử dụng cho phù hợp. Các đạo cụ thường dùng đó là cây cổ vũ,
quạt, trống, kèn, biểu ngữ, cờ....nên chọn đạo cụ có màu sắc nổi bật và phù
hợp với trang phục.
4.3. Khẩu hiệu phải lành mạnh, có sức hiệu triệu
Thể dục cổ động trên khán đài không thể tách rời với khẩu hiệu,
những khẩu hiệu hay sẽ mang tác dụng kích thích tích cực đến toàn trận đấu.
Khi biên soạn khẩu hiệu, cần bám sát chủ đề, nội dung phải tích cực, mang lại
tác dụng cổ vũ trợ uy đích thực.
4.4. Trình tự động tác và đội hình phải hợp lý
Biên soạn động tác và đội hình rất quan trọng, cần phải xem xét một
cách toàn diện. Căn cứ vào vị trí ngồi và số người tham gia để biên soạn trình
tự thực hiên của động tác và đội hình.
4.5. Nội dung biểu diễn phải mới mẻ
241
Căn cứ vào yêu cầu để thể hiện chủ đề, để đạt được hiệu quả nổi bật,
để lại ấn tượng với người xem. Khi biên soạn nội dụng biểu diễn động tác
phải mới mẻ, tận dụng tối đa đội hình, đạo cụ và khẩu hiểu làm nổi bật chủ đề
yêu cầu trên sân thi đấu.
242
Chương 10
HUẤN LUYỆN THỂ DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN KHÁN ĐÀI
1. Đặc điểm huấn luyện môn thể dục cổ động trên khán đài
VĐV tham gia cổ động trên khán đài khá đông, hơn nữa đa phần các
động tác đều được thực hiện ở tư thế ngồi, nên huấn luyện đối với bộ môn này
nổi bật đặc điểm về tính qui mô, tính kế hoạch, tính tổng thể và tính tư tưởng
1.1. Tính qui mô
Một trong những đặc điểm tiêu biểu của thể dục cổ động trên khán đài
đó là số người tham gia đông, trong giới hạn quân số nhất định, lực lượng này
sẽ cùng thực hiện các động tác, khẩu hiệu, biểu diễn một cách hệ thống, nên
cần tính qui mô cao.
1.2. Tính kế hoạch
Thể dục cổ động trên khán đài là môn thể thao tập thể, huấn luyện thể
dục cổ động trên khán đài là một quá trình có hệ thống. Xác định rõ ràng
nhiệm vụ tổng thể, xây dựng kế hoạch huấn luyện chi tiết, cặn kẽ là mục tiêu
của huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài, là căn cứ bào đảm đạt được
hiệu quả như đã dự đoán. Sau khi xây dựng kế hoạch huấn luyện, cần nghiêm
khắc chấp hành, bố trí hợp lý số người, vị trí, thời gian, bảo đảm cả về chất
lượng, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc. Ngoài ra, kế hoạch công tác còn cần độ
linh động nhất định nhằm bào đảm ứng phó kịp thời với những tình huống
phát sinh bất ngờ, để không ảnh hưởng đến tiến độ huấn luyện của toàn đội.
1.3. Tính tổng thể
Là môn thể thao mang tính tập thể, tính đồng đều tổng thể là mục tiêu
cuối cùng khi huấn luyện các môn này, cũng là tiêu chí đánh giá hiệu quá
huấn luyện đạt hay không đạt và huấn luyện cũng là một quá trình mang đầy
đủ các đặc điểm của tính tổng thể, tính hệ thống. Huấn luyện là một quá trình
có thứ tự của các khâu khép kín, các khâu thành phần cần lấy cái tổng thể vừa
243
làm mục tiêu xuất phát, vừa làm đích cuối cùng hướng đến, trở thành một
tổng thể thống nhất và hài hòa. Người điều khiển trong quá trình huấn luyện
cần chú trọng đến điều này, hướng dẫn người thực hiện với thái độ nhẫn nại,
tận tình và tỉ mỉ.
1.4. Tính tư tưởng
Do thời gian tập luyện dài, quá trình tập sẽ khó tránh khỏi nảy sinh
mệt mỏi, đơn điệu, nhàm chán hay những trạng thái tâm lý khác, nên người
điều khiển phải không ngừng tiến hành công tác tư tưởng trong suốt quá trình
tập, cổ vũ, khích lệ kịp thời, tăng tính tích cực cho người tham gia, khiến buổi
tập được diễn ra dưới bầu không khí vui vẻ, giúp mọi người khắc phục khó
khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của buổi tập.
2. Quá trình huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài
Huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài tương đối phức tạp, nhưng
lại là quá trình có hệ thống và có thứ tự. Thông thường, quá trình huấn luyện
bao gồm những nội dung sau:
2.1. Xác định rõ ràng nhiệm vụ huấn luyện
Xác định rõ nhiệm vụ và mục tiêu là tiền đề và cơ sở để hoàn thành
bất kỳ một công việc nào. Khi tiến hành tập luyện các bài thể dục cổ động,
xác định rõ nhiệm vụ cũng được xem là một trong những yếu tố đầu tiên cần
đáp ứng.
Trước tiên, cần xác định nhiệm vụ tổng thể. Nhiệm vụ tổng thể của thể
dục cổ động trên khán đài là gì? là biểu diễn, thi đấu hay đơn thuần chỉ là hoạt
động cổ vũ cho những VĐV yêu thích, cần phải đạt được mục đích gì hay
hiệu quả như thế nào? quá trình huấn luyện sẽ triển khai các hoạt động xung
quanh vấn đề vừa nêu. Chỉ khi xác định rõ ràng nhiệm vụ, mới có thể xây
dựng được một kế hoạch huấn luyện hiệu quả. Khi đó, người tổ chức, người
thi đấu mới có thể phối hợp ăn ý, cùng nhau hoàn thành kế hoạch, cùng tiến
244
bộ sau mỗi buổi tập, mỗi một giai đoạn, nhằm đạt được hiệu quả huấn luyện
như mong muốn.
2.2. Xác định số người
Căn cứ vào nhiệm vụ thi đấu tổng thể, lựa chọn và xác định điều kiện
của đối tượng tham gia. Căn cứ vào yêu cầu cụ thể của từng bài thi đấu (ví dụ
như giới tính, độ tuổi, tác phong tư tưởng, điều kiện sức khỏe, trình độ kỹ
thuật,...) lựa chọn và xác định số người tham gia, nhằm thuận lợi hơn trong
quá trình tổ chức huấn luyện. Điểm cần chú ý đó là: lựa chọn thêm một số
lượng người tham gia dự bị nhất định, để bổ sung kịp thời với những tình
huống thiếu người bất ngờ xảy ra trên sân.
2.3. Xây dựng kế hoạch huấn luyện
Huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài là quá trình phức tạp và đa
dạng. Với đặc điểm số người tham gia đông nên cần một kế hoạch chi tiết, tỉ
mỉ. Tăng cường khâu lãnh đạo, tổ chức, khơi dậy tính tích cực trong mỗi một
thành viên tham gia cổ động, kịp thời tổng kết, trao đổi kinh nghiệm, nâng
cao hiệu quả huấn luyện là cơ sở vững chắc giúp hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ thi đấu. Kế hoạch huấn luyện thường được chia thành: giai đoạn chuẩn bị,
giai đoạn huấn luyện và giai đoạn thi đấu.
2.3.1 Giai đoạn chuẩn bị
Giai đoạn chuẩn bị là giai đoạn tổ chức huấn luyện, nhằm tạo nền tảng
vững chắc cho giai đoạn huấn luyện sau này. Nhiệm vụ của giai đoạn chuẩn
bị gồm có:
Xây dựng cơ cấu lãnh đạo cấp cơ sở
Xác định rõ ràng nhà tổ chức chính, nhà tài trợ chính, xây dựng tổ
chức đoàn thể nòng cốt, bảo đảm công tác huấn luyện các nội dung triển khai
suôn sẻ.
Chỉ định người phụ trách các nhóm
245
Căn cứ vào nhiệm vụ biên soạn và thiết kế của bài thể dục cổ động
trên khán đài, chỉ định người phụ trách các nhóm, hình thành hệ thống quản lý
cấp cơ sở, nhằm thuận lợi hơn cho quá trình truyền tải thông tin về nhiệm vụ
huấn luyện hay thời gian tập luyện từ cấp trên xuống, đồng thời cũng tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình quản lý, giúp tăng hiệu quả huấn luyện.
Thực hiện công tác tư tưởng
Tiến hành công tác tư tưởng trong tập luyện là khâu quan trọng giúp
hoàn thành nhiệm vụ thi đấu cũng như bảo đảm công tác huấn luyện. Khi mới
bắt đầu tập luyện, đa phần mọi người đều rất hưng phấn nhưng chưa hiểu rõ
hết nhiệm vụ cụ thể của hoạt động lần này, do đó sau khi tiến hành khởi động
chung xong, rất dễ hình thành tâm lý sợ mệt, sợ khổ. Sau một thời gian tập
luyện, lại cảm thấy đơn điệu, chán nản. Vì vậy, công tác tư tưởng là rất quan
trọng và cần thiết. Giới thiệu rõ ràng, cụ thể về nội dung, nhiệm vụ cùng yêu
cầu của buổi tập sẽ giúp người tập xác định rõ nhiệm vụ mình phải đảm nhận,
hiểu được tính tất yếu của sự khó khăn và gian khổ khi tham gia tập luyện
Giai đoạn bồi dưỡng huấn luyện đối với những VĐV nòng cốt, có
kỹ thuật vượt trội
Do số người tham gia đông, rất khó chú ý được đến từng thành viên
trong quá trình tập luyện, vì vậy, bồi dưỡng, chỉ đạo huấn luyện đối với
những VĐV nòng cốt, có kỹ thuật vượt trội là rất quan trọng. Việc bồi dưỡng
này có vai trò nhất định đối với cả quá trình huấn luyện, mang lại tác dụng
thúc đẩy tích cực đối với hiệu quả huấn luyện tổng thể
Làm tốt công tác hậu cần
Bố trí sân bãi, thiết bị âm thanh, đạo cụ, thời gian huấn luyện, đội ngũ
y bác sĩ theo đội..., bảo đảm cho buổi tập được diễn ra suôn sẻ, thuận lợi.
2.3.2 Giai đoạn huấn luyện
246
Giai đoạn huấn luyện là giai đoạn chính của công tác huấn luyện, dựa
trên kế hoạch huấn luyện, điều chỉnh sao cho phù hợp. Giai đoạn huấn luyện
gồm những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Duy trì tập luyện kỹ thuật động tác cơ bản, căn cứ vào nội dung thi
đấu chia thành từng đoạn nhỏ để tập, trước khi tập mỗi đoạn nhỏ, cần bồi
dưỡng cho các VĐV nòng cốt, nắm vững yếu điểm.
- Bồi dưỡng VĐV nòng cốt theo những bước qui định, giúp VĐV nắm
vững và thành thạo phương pháp tập
- Triệu tập các buổi họp, thảo luận theo định kỳ, trao đổi kinh nghiệm
huấn luyện, phản hồi hiệu quả huấn luyện, điều chỉnh kịp thời kế hoạch huấn
luyện.
- Căn cứ vào nhu cầu huấn luyện, lấy huấn luyện theo nhóm làm hình
thức chính, bố trí, sắp xếp huấn luyện sao cho phù hợp, có kế hoạch.
- Thực hiện công tác tư tưởng: đối với giai đoạn này, sau khi bước vào
tập luyện động tác cho thi đấu, người tham gia thông thường sẽ rất tích cực,
nhưng sau khi đã nắm vững được động tác, lại rất dễ hình thành tâm lý mệt
mỏi,; đối với những động tác có yêu cầu cao, hoặc khi phát hiện ra vấn đề cần
sửa đổi động tác mới, họ rất dễ phát sinh tâm lý chán nản; khi có một chút
thành tích, có người sẽ kiêu ngạo, tự mãn; khi bị phê bình kém hơn những
đơn vị khác, lại nảy sinh thái độ bi quan, tiêu cực, thất vọng. Đối với những
tình huống kể trên cần có biện pháp sử lý kịp thời, làm tốt công tác cổ vũ
tuyên truyền khi tập luyện, kích thích, khơi dậy tình cảm tư tưởng của người
tập, biểu dương đối với những người thực hiện tốt, chỉnh sửa đối với những
trường hợp chưa đạt yêu cầu. Người tổ chức cũng cần sâu sát từ tập luyện đến
sinh hoạt hằng ngày của VĐV, giải quyết các vấn đề thực tế, cố gắng xây
dựng một môi trường tập luyện, sinh hoạt lành mạnh cho những người tham
gia thi đấu.
247
2.3.3 Giai đoạn thi đấu
Giai đoạn thi đấu là giai đoạn hoàn thiện của nhiệm vụ huấn luyện,
nhiệm vụ chính của nó đó là phát huy trình độ tốt nhất, đạt được mục đích thi
đấu.
Trước khi thi đấu cần mở một cuộc họp, hội ý, tiến hành phân công và
kiểm tra đối với các khâu chuẩn bị, bao gồm xác định thời gian thi đấu, địa
điểm tập kết, vị trí chỉ huy của từng nội dung, đồng phục thi đấu, phân phát và
bảo quản dụng cụ, bố trí sân bãi, giao thông, vệ sinh an toàn....Sau khi kết
thúc trận đấu, phải tổng kết và chuẩn bị cho công tác tiếp theo.
2.4. Thực thi kế hoạch huấn luyện
Chấp hành nghiêm chỉnh đối với kế hoạch huấn luyện đã đề ra, thực
hiện có thứ tự đối với từng giai đoạn, hoàn thành nhiệm vụ của mỗi giai đoạn,
từng bước rút ngắn khoảng cách đến mục tiêu cuối cùng.
Trong quá trình tiến hành huấn luyện chắc chắn sẽ nảy sinh một số
vấn đề không nằm trong dự kiến, cần có biện pháp xử lý thời, điều chỉnh sao
cho phù hợp với kế hoạch của giai đoạn đang thực hiện cũng như kế hoạch
của giai đoạn kế tiếp, kiểm nghiệm hiệu quả ngay trong thực tiễn, có phản hồi
kịp thời đối với hiệu quả huấn luyện, đưa ra những sửa đổi hợp lý đối với kế
hoạch huấn luyện. Trong tình huống thực tế này, cần điểu chỉnh, không ngừng
đưa ra các thay đổi để phù hợp hơn với thực tiễn huấn luyện, từ đó tiếp tục
thực thi kế hoạch, mang về hiệu quả huấn luyện tốt nhất.
3. Nội dung và phương pháp huấn luyện thể dục cổ động trên
khán đài
Thể dục cổ động trên khán đài được hợp thành từ các yếu tố: khẩu
hiệu, động tác, âm nhạc, đạo cụ, người điều khiển...quá trình huấn luyện cũng
được triển khai xung quanh những nội dung đó, đồng thời kết hợp các phương
pháp giảng giải, thị phạm, sửa sai, tổng thể và phân chia, lặp lại...tiến hành
huấn luyện.Nhưng điểm khác biệt so với các nội dung thể dục cổ động khác ở
248
chỗ: động tác, khẩu hiệu hay sử dụng đạo cụ đều được hoàn thành dưới sự chỉ
huy của người điều khiển, bất luận là trong tập luyện hay thi đấu, điều này
đều được thể hiện rõ nét trong phương pháp huấn luyện.
3.1. Huấn luyện động tác
Động tác là đơn vị cơ bản cấu thành bài, là cơ sở của bài, huấn luyện
động tác cũng được xem là khâu quan trọng của quá trình huấn luyện. Trong
quá trình huấn luyện động tác thể dục cổ động trên khán đài, chủ yếu sử dụng
các phương pháp giảng giải, thị phạm, lặp lại, phân chia, tập trung để tập các
động tác đơn lẻ, từng phần và toàn bài.
Để nắm rõ động tác, thường sử dụng theo trình tự các bước như sau:
tiến hành tập luyện đối với các động tác của thể dục cổ động trên khán đài,
sau đó mô tả cụ thể từng phương pháp tập
3.1.1. Tập động tác cơ bản và động tác riêng lẻ
Trong quá trình tập động tác cơ bản và động tác riêng lẻ của thể dục
cổ động trên khán đài, hình thức tập luyện chính thường sử dụng đó là huấn
luyện tập thể và huấn luyện theo nhóm, sử dụng kết hợp với phương pháp
giảng giải, thị phạm, lặp lại, từ đó nâng cao kỹ thuật động tác cơ bản, xây
dựng nền tảng vững chắc cho khâu hoàn thành động tác riêng lẻ sau này.
Phương pháp tập động tác riêng lẻ cơ bản tương tự như tập động tác
cơ bản, nhưng căn cứ vào động tác giống hay khác nhau để sử dụng phương
pháp huấn luyện thị phạm cá nhân hay thị phạm tập thể. Đối với quá trình
giảng giải động tác, đặc biệt đối với những động tác khác nhau, cần giải thích
rõ ràng yêu cầu động tác của từng cá nhân, bao gồm phương hướng, quá trình
động tác, yếu lĩnh, qui cách và nhịp phách của động tác. Sau khi giải thích cặn
kẽ mới từng bước thực hiện. Sau đó, chủ yếu là thành thục động tác và huấn
luyện củng cố, ở giai đoàn này sử dụng kết hợp với nhịp hô bình thường,
nhanh, chậm hoặc động tác chậm để chỉnh sửa, mục đích cuối cùng là đạt đến
yêu cầu cần có của động tác, hình thành tự động hóa của động tác.
249
Các ví dụ đối với động tác cơ bản:
Động tác cơ bản tay không: Tay trên cao, một tay chếch trên bên, tay
về trước...yêu cầu động tác mạnh mẽ, dứt khoát, thông qua tập luyện nâng cao
kỹ thuật khống chế cơ thể.
Động tác cơ bản với đạo cụ: Điểm quạt, mở quạt, đóng quạt, nâng cao
khả năng vận dụng quạt, nhằm thuận lợi cho việc nắm bắt động tác riêng lẻ.
3.1.2. Động tác thành phần và động tác toàn bài
Tập các động tác thành phần và động tác toàn bài đa phần sử dụng kết
hợp với phương pháp huấn luyện tập trung, khi muốn nâng cao chất lượng
động tác, có thể sử dụng phương pháp phân chia.Trong các buổi tập hằng
ngày, cần duy trì thực hiện theo số lần đã qui định.
Tập luyện đối với động tác và khẩu hiệu cần thực hiện đều đặn mỗi
ngày, tiến hành kiểm tra định kỳ đối với chất lượng huấn luyện, nhằm thúc
đẩy huấn luyện, nâng cao chất lượng động tác
Tóm lại, bất luận là đang tập ở giai đoạn nào, tập động tác cơ bản hay
động tác toàn bài, đều phải đưa ra yêu cầu cụ thể đối với động tác, từ đó nâng
cao khả năng thành thục động tác, qui cách động tác, chất lượng hoàn thành
động tác, nhằm đạt được hiệu quả hoàn thiện bài biểu diễn một cách hoàn mĩ,
đó cũng chính là mục đích của huấn luyện động tác.
3.2.Tập hô khẩu hiệu
Khẩu hiệu là thành phần không thể thiếu của thể dục cổ động trên
khán đài, nó không chỉ trực tiếp phản ánh được chủ đề, mà còn là nguồn động
lực trực tiếp giúp cổ vũ, trợ uy cho các VĐV. Do đó tập hô khẩu hiệu cũng vô
cùng quan trong trong huấn luyện các động tác theo bài. Xuất phát từ những
những nhiệm vụ huấn luyện khác nhau trong từng giai đoạn, các phương pháp
tập luyện chính thường dùng bao gồm:
250
3.2.1. Giai đoạn sơ cấp
Đối với giai đoạn sơ cấp, chỉ yêu cầu mọi người nhớ kỹ khẩu hiệu, do
đó chủ yếu sử dụng phương pháp huấn luyện lặp lại, không ngừng nhấn mạnh,
giúp VĐV nhanh chóng thành thục và nắm vững khẩu hiệu. Đồng thời, cũng
cần có yêu cầu đói với nhịp điệu, ngữ âm và âm điệu của khẩu hiệu.
3.2.2. Giai đoạn trung cấp
VĐV đã rất thành thục với khẩu hiệu, lúc này chủ yếu sử dụng
phương pháp tập với tốc độ chậm và nhịp điệu bình thường, chú trọng đến các
dấu ngắt câu, điểm dừng sao cho hợp lý, không ngừng nâng cao hiệu quả về
sức vang và sự đồng đều của khẩu hiệu.
3.2.3. Giai đoạn cao cấp
Sau khi VĐV nắm vững nội dung, ngữ âm, nhịp điệu của khẩu hiệu,
quá trình huấn luyện cần nâng cao được khí phách cũng như sức hiệu triệu
của khẩu hiệu, đạt được hiệu quả lay động người nghe.
Đặc biệt cần chú ý: khẩu hiệu một là phải đều, hai là phải vang, ba là
phải có khí thế, yêu cầu người tham gia phải có bầu nhiệt huyết mãnh liệt. Do
đó, khi tập hô khẩu hiệu, quan niệm của người điều khiển cần quán triệt trước
sau như một, đây cũng chính là cái gốc vững chắc giúp bảo đảm mang về hiệu
quả huấn luyện như mong đợi. Nhưng do đặc điểm khẩu hiệu được phát thanh
từ cổ họng, nên người điều khiển cần chú ý song song với quá trình theo đuổi
hiệu quả huấn luyện, vẫn phải bảo đảm không gây tổn thương đến cổ họng
của người tham gia, không nên chỉ vì thành tích, mà không màng đến tình
hình sức khỏe của VĐV. Đối với vấn đề này, người chỉ huy cần thực hiện
được 2 điểm dưới đây: Thứ nhất, yêu cầu VĐV phát thanh từ đan điền
(khoang bụng), cố gắng tránh trường hợp sử dụng cổ họng để hô, từ đó giảm
bớt tổn thương cho cổ họng; thứ hai, phải chú ý nghỉ ngơi đầy đủ. Cần điều
chỉnh lượng vận động thích hợp, khiến VĐV có thể tập trung đầu tư cho tập
luyện từ đó đạt được hiệu quả, mà lại không gây tổn thương đến cổ họng.
251
3.3. Tập phối hợp giữa động tác với âm nhạc, người điều khiển
Trong động tác toàn bài thể dục cổ động trên khán đài, ngoài thi đấu
thực hiện động tác dưới nền nhạc ra, một kiểu khác đó là reo hò khẩu hiệu
dưới sự chỉ huy của người điều khiển. Do đó, trong toàn bộ quá trình tập
luyện, tiết tấu của nhạc nền cùng sự chỉ huy của người điều khiển vô cùng
quan trọng. Trong giai đoạn sơ cấp của huấn luyện, hầu hết các khâu của quá
trình tập đều được thực hiện dưới khẩu lệnh của người điều khiển. Cùng với
sự nâng cao tính thành thục của động tác, một số động tác theo nhạc được
phối hợp thực hiên cùng nhạc nền, yêu cầu VĐV phải học thuộc các giai điệu,
tiết tấu của từng đoạn nhạc, sử dụng phương pháp vừa hát vừa thực hiện động
tác để thay cho khẩu lệnh của người điều khiển, sau đó dưới sự kết hợp của
nhạc nền, từng bước hoàn thành các động tác theo nhạc một cách độc lập, có
cảm xúc, chất lượng cao.
Người điều khiển có vị trí cực kỳ quan trọng trong màn biểu diễn thể
dục cổ động trên khán đài, họ trực tiếp khống chế đối với điểm ngắt, nghỉ của
khẩu hiệu; đối với cách sử dụng, cầm nắm, đặt để của đạo cụ; đối với sự liên
hoàn của phần nhỏ các động tác. Do đó, động tác nào biểu thị cầm đạo cụ,
động tác nào biểu thị thu đạo cụ, động tác nào biều thị bắt đầu của khẩu hiệu
hay nhắc nhở chuẩn bị đến động tác theo nhạc...đều cần được lặp lại liên tục
suốt quá trình tập luyện, hình thành định hình, khi người điều khiển ra dấu
hiệu, người tham gia phải nhanh chóng thực hiện động tác một cách đều đặn,
một khi cả hai nhập thành một, sẽ đạt được hiệu quả phối hớp cực kỳ ăn ý
Dưới đây là ví dụ cụ thể của “ một đoạn nhạc + một đoạn khẩu hiệu”,
giới thiệu khái quát về những phần cần sự chỉ huy của người điều khiển.
Tư thế chuẩn bị:
Khi trên sân đã bày sẵn đạo cụ, các công tác chuẩn bị trước thi đấu
cũng sẵn sàng, người điều khiển ra dấu hiệu, có tác dụng tập trung sự chú ý
của những người tham gia, báo cho VĐV biết cuộc thi sắp sửa diễn ra.
252
Bắt đầu mở nhạc
Khi chuẩn bị bắt đầu, người điều khiển ra dấu hiệu cho người bật nhạc,
nhắc nhở mở nhạc.
Bắt đầu thực hiện động tác
Khi nhạc vang lên, người điều khiển ra dấu hiệu, biểu thị chuẩn bị
thực hiện động tác.
Chuẩn bị phần khẩu hiệu
Phần nhạc sẽ tự động kết thúc theo nhạc nền đã chọn, người điều
khiển ra dấu hiệu, biểu thị chuẩn bị phần hô khẩu hiệu, ở thời gian này, người
tham gia có thể thay đổi đạo cụ, chuẩn bị cho phần khẩu hiệu sắp bắt đầu.
Bắt đầu phần khẩu hiệu
Người điều khiển ra dấu hiệu, người tham gia bắt đầu thực hiện động
tác theo khẩu hiệu đồng thời kết hợp hô khẩu hiệu.
Kết thúc hô khẩu hiệu và bỏ đạo cụ xuống
Khi phần hô khẩu hiệu kết thúc, người điều khiển ra dấu hiệu, người
tham gia cùng nhau bỏ đạo cụ xuống.
Trong thi đấu chính thức, các đội tham gia thường thiết kế chia động
tác có nhạc và khẩu hiệu thành nhiều phần khác nhau, thực hiện xen kẽ. Do
đó, nhiệm vụ của người điều khiển cũng hết sức quan trọng, kết hợp giữa
động tác với nhạc, thậm chí là kết hợp giữa ra dấu hiệu của người điều khiển
với động tác cũng cần thực hiện lặp lại liên tục, cuối cùng hình thành nên một
khối thống nhất, nhịp nhàng và liên hoàn.
3.4. Tập đội hình và động tác phối hợp
Tập đội hình và động tác phối hợp được xây dựng trên nền tảng các
động tác cơ bản, những người tham gia cùng nhau phối hớp thực hiện thực
hiện. Vì vậy, về phương pháp tập cần chú trọng hơn đối với tinh thần hợp tác,
quá trình hợp tác này bao gồm phối hợp thay đổi xen kẽ giữa các đạo cụ, phối
hợp của tạo hình động tác, phối hợp của động tác đứng lên, ngồi
253
xuống....Trong quá trình tập thường sử dụng phương pháp lặp lại có mục đích.
Ví dụ như lần lượt đứng lên ngồi xuống hình thành nên sóng từ phải sang
trái.Yêu cầu mọi người lần lượt đứng lên, ngồi xuống, thấy người phía trước
đứng lên, người kế tiếp sẽ tự động ngồi xuống, cứ như vậy thực hiện tuần tự
cho đến hết.
4. Tổ chức huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài
Cùng với mức độ tiến triển của công tác huấn luyện, căn cứ vào yêu
cầu giải quyết của từng nhiệm vụ, nên sử dụng các hình thức tổ chức tập
luyện khác nhau, chủ yếu gồm những loại sau:
4.1. Tập theo nhóm nhỏ
Tập theo nhóm nhỏ là hình thức tập động tác theo từng nhóm trên một
phạm vi nhất định, đây là hình thức tập luyện cơ bản nhất. Khi tập luyện theo
hình thức này, cần thực hiện tất cả các động tác mà nhóm sẽ tham gia trong
quá trình biểu diễn, giúp ích cho VĐV nắm vững động tác và nâng cao chất
lượng động tác.
4.2. Tập theo từng khu
Tập theo từng khu ý chỉ tiến hành tập luyện kết hợp trong một phạm
vi nhất định giữa 2 hoặc 2 nhóm nhỏ trở lên. Kiểu tập này chủ yếu để giải
quyết những động tác mà một đơn vị riêng lẻ không thể hoàn thành hoặc
những động tác cần sự phối hợp của các nhóm với nhau. Phương pháp này
được sử dụng trong khi tập phối hợp, tạo hình cho động tác
4.3. Tập phối hợp
Tập phối hợp ý chỉ trên cơ sở của tập tập theo nhóm và theo từng khu,
phối hợp liên kết một phần nào đó của các nhóm lại với nhau. Mục đích chính
nhằm giải quyết tất cả phối hợp và tạo hình của một phần nào đó, kiểm tra
hiệu quả của tập luyện với biểu diễn, từng bước hoàn thiện phương án, cùng
nhau quan sát, cải tiến, nâng cao.
254
4.4. Tập phối hợp với chỉ huy
Chỉ huy trong thể dục cổ động trên khán đài bao gồm chỉ huy của âm
nhạc và chỉ huy của người điều khiển. Tập phối hợp với chỉ huy chủ yếu giải
quyết vấn đề phối hợp giữa động tác với âm nhạc, giữa người tham gia với
người điều khiển. Thông qua quan sát, học hỏi, khích lên khiến động tác với
âm nhạc, người điều khiển với người thực hiện đạt được sự phối hợp ăn ý, tạo
thành một thể thống nhất.
4.5. Tập liên kết
Tập liên kết ý chỉ tập kết nối từng phần của động tác với khẩu hiệu
căn cứ theo phương án biên soạn đã có, chủ yếu giải quyết vấn đề về thứ tự và
liên kết giữa các phần với nhau. Đây là sự nổi bật hiệu quả của tổng thể, trong
quá trình tập luyện cần điều chỉnh, cải tiến, từ đó thể hiện được hiệu quả tối
ưu của thể dục cổ động trên khán đài.
255
Chương 11
TỔ CHỨC THI ĐẤU, QUI TRÌNH VÀ QUI TẮC CHẤM ĐIỂM THỂ
DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN KHÁN ĐÀI
1. Tổ chức thi đấu
1.1. Cơ cấu tổ chức thi đấu môn thể dục cổ động trên khán đài
1.1.1. Trù bị nội dung hội nghị liên tịch
Sau khi xác định tính chất và qui mô của giải thi đấu, đơn vị tổ chức
hoặc người đại diện chính sẽ triệu tập hội nghị liên tịch các đơn vị và thành
viên liên quan. Nội dung chính của hội nghị sẽ là thương lượng và xác thực
những vấn đề cụ thể liên quan đến giải đấu, bao gồm xác định đơn vị tổ chức
chính và nhà tài trợ, nguồn kinh phí, thời gian, địa điểm thi đấu và qui mô giải
đấu. Thành lập ban trù bị, xác định thành viên, phân công cụ thể nhiệm vụ
cho từng thành viên.
1.1.2. Xây dựng cơ cấu tổ chức
Căn cứ vào qui mô của giải đấu, thành lập cơ cấu tổ chức tương ứng.
Thông thường sẽ do đơn vị tổ chức chính và đơn vị thực hiện cùng thương
lượng xác định thành viên Ban Tổ Chức, bao gồm người phụ trách của đơn vị
tổ chức, người phụ trách của nhà tài trợ, người phụ trách của đơn vị thực hiện,
các nhà chức trách liên quan cùng tổng trọng tài trưởng. Ban tổ chức thường
bố trí 1 chủ nhiệm, 2 phó chủ nhiệm, một số nhân viên. Đây là cơ cấu lãnh
đạo cao nhất của đại hội thi đấu, dưới đó là các cơ cấu ban ngành liên quan
khác. Căn cứ vào qui mô của giải đấu, thành lập thêm một vài bộ phận khác.
Đối với các giải đấu có qui mô lớn hoặc mang giải đấu mang tính tổng hợp,
các bộ phận sẽ được phân công rõ ràng với từng nhiệm vụ cụ thể. Đối với
những giải đấu có qui mô nhỏ hơn, có thể chỉ cần bố trí một vài người phụ
trách từng mảng riêng biệt.
256
1.2. Triệu tập buổi họp của trưởng đoàn và huấn luyện viên
1.2.1. Buổi họp của trưởng đoàn và huấn luyện viên
Triệu tập buổi họp dành cho trưởng đoàn và huấn luyện viên là nội
dung quan trọng của giải đấu, là một trong những phương pháp trao đổi trực
tiếp giữa những đội tham gia với nhà tổ chức cùng trọng tài, cả hai bên đều
cần đặc biệt chú trọng. Thông thường sẽ do nhà tổ chức chủ trì, những người
phụ trách liên quan và trọng tài trưởng sẽ cùng tham gia, thường được bố trí
trước các trận đấu
1.2.2. Nội dung buổi họp
Giới thiệu động thái phát triển mới nhất hiện nay của giải đấu, phương
hướng phát triển cũng như tính hình chuẩn bị của giải lần này.
Giới thiệu người phụ trách và nhân viên chính của các bộ phận.
Tuyên bố các qui định liên quan và lịch trình thi đấu.
Giải đáp và giải quyết các vấn đề liên quan do đội tham dự đề xuất. Ví
dụ như vấn đề sinh hoạt, sắp xếp lịch thi đấu cùng các qui định khác. Nếu vấn
đề liên quan đến luật và phương diện kỹ thuật quá nhiều, có thể triệu tập thêm
một cuộc họp kỹ thuật khác dành cho trưởng đoàn và huấn luyện viên, trong
trường hợp đó, trọng tài trưởng là người giải đáp mọi thắc mắc liên quan.
Rút thăm xác định thứ tự ra sân thi đấu. Nếu thời gian cho phép, nên
sr dụng phương pháp rút thăm công khai, do các đội tự tiến hành. Nếu thời
gian không cho phép, có thể tiến hành rút thăm trước, nhưng bắt buộc phải
được thực thi dưới sự giám sát của thành viên ban tổ chức cùng những người
phụ trách liên quan, chỉ định người rút thăm thay. Sau giải đấu cũng có thể tổ
chức buổi họp dành cho trưởng đoàn và huấn luyện viên, nội dung chính bao
gồm trao đổi kinh nghiệm và các vấn đề liên quan sau giải.
2. Qui trình thi đấu của thể dục cổ động trên khán đài
2.1. Khái niệm qui trình thi đấu
257
Qui trình thi đấu là văn kiện mang tính chỉ đạo quan trọng đối với tổ
chức giải đấu, là cơ sở của công tác trù bị cho giải đấu, cũng là tiêu chuẩn mà
đơn vị tham gia thi đấu, VĐV, huấn luyện viên cùng trọng tải bắt buộc phải
tuân thủ. Qui trình thi đấu do đơn vị tổ chức xây dựng, thông thường phải
phát cho các bô phận liên quan ít nhất là 3 tháng trước ngày thi đấu, nhằm tạo
thời gian chuẩn bị cho các đội tham gia.
2.2. Nội dung của qui trình thi đấu thể dục cổ động trên khán đài
Bao gồm:
- Đơn vị tổ chức: Chú thích rõ ràng đơn vị tổ chức.
- Đơn vị thực hiện: Chú thích rõ ràng đơn vị thực hiện.
- Đơn vị tài trợ: Chú thích rõ ràng đơn vị tài trợ.
- Thời gian thi đấu: Xác định thời gian thi đấu cụ thể.
- Địa điểm thi đấu: Xác định địa điểm tổ chức thi đấu.
- Nội dung thi đấu: Xác định nội dung thi đấu (chia thành động tác qui
định và động tác tự chọn).
- Tư cách đối tượng tham gia giải:Xác định tư cách đối tượng tham gia
giải (số người, phạm vị, tỉ lệ nam, nữ...).
- Cách thức thi đấu:Tình hình phân nhóm: Như các nhóm cơ quan,
đoàn thể xã hội, bộ đội, công nhân, nông dân, học sinh...
- Căn cứ vào tình hình đăng kí của các đội quyết định vòng đấu loại
hay chung kết, thứ tự thi đấu có thể dùng hình thức rút thăm.
- Điểm biểu diễn tối đa: 10 điểm hoặc 100 điểm.
- Thời gian biểu diễn: 2 phút đến 2 phút 30 giây hoặc căn cứ vào tình
hình thực tế quyết định.
- Yêu cầu biểu diễn: Người biểu diễn phải có nhiệt huyết, động tác
phải đều, khẩu hiệu vang rõ, phối hợp ăn ý, biểu diễn phong phú đa dạng, có
sức lôi cuốn.
258
- Yêu cầu đạo cụ: Đạo cụ phải bắt mắt, rực rỡ, nổi bật trọng điểm, nổi
bật chủ đề đồng thời phù hợp với tinh thần giải đấu.
- Yêu cầu phục trang: Màu sắc và kiểu cách của phục trang không giới
hạn, chủ yếu sản sinh được hiệu quả thị giác tốt, có tác dụng bổ trợ cho bài
biểu diễn.
- Yêu cầu khẩu hiệu: Có thể tự biên soạn khẩu hiệu và bài hát của thể
dục cổ động, nội dung cần lành mạnh, tích cực, không được dùng còi, trống
hay các nhạc cụ dân tộc và phương tây khác.
- Hình thức khen thưởng: Căn cứ vào điểm số của các đội tham dự thi
đấu, quyết định số lượng các đội đạt điểm dẫn đầu.
- Cách thức ghi danh: Qui định thời gian, địa điểm và yêu cầu khi ghi
danh
- Các trường hợp liên quan khác:Các trường hợp liên quan khác nếu
có thay đổi sẽ được ban tổ chức thông báo sau.
3. Qui tắc cho điểm môn thể dục cổ động trên khán đài
3.1. Nhân tố đánh giá
3.1.1 Biên soạn tổng thể
Nội dung biên soạn động tác toàn bài lành mạnh, tích cực, kết hợp đạo
cụ hợp lý, thiết kế động tác đẹp, có sức sáng tạo, tính thưởng thức , thể hiện
rõ nét tinh thần tập thể, có sức lôi cuốn và hiệu triệu. Nghiêm cấm các động
tác biên soạn chủ đề bạo lực, tín ngưỡng tôn giáo, kỳ thị chủng tộc...
3.1.2. Mức độ hoàn thành
Tổng thể hoàn mĩ, tiết tấu rõ ràng, diện mạo tinh thần tốt, khẩu hiệu
vang rõ, động tác đều, phối hợp giữa các thành viên ăn ý, nổi bật tinh thần tập
thể, đạt được mục đích tăng bầu không khí sôi động trên sân.
3.1.3. Biểu diễn và ấn tượng chung
259
Biên soạn và biểu diễn liên hoàn, chủ đề tươi mới, phong cách biểu
diễn và yêu cầu thi đấu đồng nhất, biểu diễn có sức lôi cuốn nhất định, diện
mạo tinh thần của đội cao, có nét đặc sắc, điều động được không khí trên sân.
3.1.4. Tác phong người điều khiển
Chỉ huy của người điều khiển cần dứt khoát, quyết đoán, điều động
được không khí cua toàn đội, có sức hiệu triệu.
3.2. Thang điểm đánh giá (tổng điểm: 100)
3.2.1 Điểm biên soạn tổng thể (điểm tối đa: 30 điểm)
Biên soạn tổng thể bao gồm thiết kê động tác, đội hình, tính sáng tạo,
hợp lý trong nội dung biểu diễn cũng như tính hợp lý trong kết hợp đạo cụ.
- Thiết kế động tác, đội hình (10 điểm).
Thiết kế đội hình phù hợp với tình hình thực tế trên sân và yêu cầu
giải đấu. Tuyên truyền tinh thần của giải, có thể cổ vũ, trợ uy cho hoạt động
thi đấu trên sân, tạo bầu không khí sôi động.
- Nội dung biểu diễn có sáng tạo, hợp lý (10 điểm).
Nội dung biểu diễn cần mới mẻ, có tính sáng tạo, biểu diễn trên sân
cần hợp lý, có nội dung lành manh, tích cực
-Phục trang , kết hợp của đạo cụ hợp lý (10 điểm).
Kết hợp giữa đạo cụ với phục trang biểu diễn cần hài hòa, đơn giản,
tay cầm đạo cụ phải bắt mắt, vận dụng và thay đổi đạo cụ phong phú, đa dạng.
3.2.2. Điểm hoàn thành (điểm tối đa: 30 điểm)
Gồm hai thành phần chính đó là: quá trình hoàn thành động tác đều,
âm thanh khẩu hiệu vang, rõ; phối hợp giữa các đồng đội ăn ý, thể hiện tinh
thần hợp tác tập thể.
- Âm thanh khẩu hiệu vang rõ, động tác hợp lý, đều (15 điểm).
- Các VĐV phối hợp ăn ý, ý thức hợp tác tập thể cao (5 điểm).
3.2.3. Điểm thể hiện và ấn tượng chung (điểm tối đa: 30 điểm)
Gồm 3 thành phần chính sau:
260
- Sức mạnh, sức lôi cuốn, sức hiệu triệu (10 điểm): động tác hết biên
độ, có lực, màn biểu diễn có sức lôi cuốn và sức hiệu triệu cao.
- Tổng thể bài biểu diễn liên hoàn, chủ đề tươi trẻ, có nét đặc sắc ( 10
điểm): toàn bài biểu diễn thông suốt, liên hoàn, nổi bật được tư tưởng và tinh
thần của giải đấu.
- Ý thức văn minh của toàn đội (10 điểm): sân thi đấu sạch sẽ, có văn
hóa, đoàn kết, coi trọng lễ nghi, có đạo đức.
3.2.4. Điểm cho tác phong người điều khiển (10 điểm)
Gồm hai thành phần chính sau:
- Người điều khiển chỉ huy có thứ tự, quyết đoán (5 điểm): trong quá
trình biểu diễn, động tác chỉ huy của người điều khiển cần dứt khoát, chỉ huy
một cách có thứ tự các bài biểu diễn, sử dụng đạo cụ cũng như biến hóa đội
hình.
- Điều động được không khí toàn đội (5 điểm) : khi biểu diễn, người
điều khiển thông qua khẩu lệnh và ngôn ngữ cơ thể để điều chỉnh kịp thời tinh
thần của toàn đội, khiến toàn đội phát huy được trình độ kỹ thuật tốt nhất.
3.2.5. Tổng điểm
Là tổng của các điểm thành phần nêu trên.
3.3. Thành phần ban trọng tài
Ban trọng tài làm việc dưới sự điều hành của ban tổ chức, nhiệm vụ
chính đó là giám sát và đôn đốc các trọng tài chấp hành nghiêm chỉnh theo
điều lệ và luật thi đấu, xử lý các tình huống liên quan khác. Ban trọng tài
thường có 10-12 người, trong đó có 1 trọng tài trưởng, 5-7 trọng tài, 1 người
bấm giờ, 1 người phất cờ, 2 thư kí.
3.4. Tình hình thi đấu khác
3.4.1. Cảnh cáo
Đưa ra cảnh cáo đối với các trường hợp dưới đây:
- VĐV trên khán đài không nghe theo sự chỉ huy của giải.
261
- VĐV có hành vi thiếu văn hóa, biểu ngữ và khẩu hiệu không phù
hợp với tinh thần giải đấu.
- Không tôn trọng trọng tài và những người phụ trách liên quan khác.
- Phục trang không phù hợp với yêu cầu của giải.
3.4.23. Xử phạt
Xử phạt đối với những người có những hành vi đạo đức trái với tinh
thần thể thao, không công nhận thành tích và có thông báo đến các bộ phận
liên quan khác.
3.4.3. Tình huống đặc biệt
Do thiết bị sân bãi hay những tình xảy ra trên sân khác dẫn đến ngừng
thi đấu hoặc hiện tượng tạm nghỉ không thuộc phạm trù trách nhiệm của VĐV,
trong trường hợp này sẽ do trọng tài trưởng quyết định bắt đầu lại trận đấu.
262
Chương 12
CÁC ĐỘNG TÁC MẪU TRONG THI ĐẤU THỂ DỤC CỔ ĐỘNG
1. Bài tập 1
1.1. Giới thiệu chung
Bài thể dục cổ động trên khán đài này lấy bông tua làm đạo cụ, động
tác đơn giản, nhanh, khẩu hiệu to rõ, có thể điều động được không khí thi đấu
trên sân, góp phần vào hoạt động cổ vũ, trợ uy cho các cầu thủ.
1.2. Giải thích động tác
Tư thế chuẩn bị: Ngồi, hai tay cầm bông tua đặt trên khớp gối, mắt
nhìn thẳng về trước.
Động tác 1. (hình 12-1)
1-2 7-8
Hình 12-1
Nhịp 1-2: Gập hai tay trước ngực, cẳng tay song song với mặt đất, lần
lượt quay cẳng tay 2 vòng về trước
Nhịp 3-4: Tay trên cao, rung mỗi tay một lần
Nhịp 5-6: Động tác giống nhịp 1-2
Nhịp 7-8: Động tác giống nhịp 3-4
Khẩu hiểu: Olympic cố lên, Việt Nam cố lên!
263
Động tác 2. (hình 12-2)
Hình 12-2
Nhịp 1-2: Gập tay phải trước ngực,cẳng tay vuông góc với mặt đất,
đồng thời tay trái duỗi trước, rung tay 2 lần
Nhịp 3-4: Động tác giống nhịp 1-2 nhưng đổi bên
Nhịp 5-6: Gập cẳng tay vuông góc với mặt đất đồng thời đưa tay ra
trước rung 2 lần
Nhịp 7-8: Hai tay trên cao và rung tay 1 lần
Khẩu hiểu: Oai phong đấu trường, thuộc người cừ nhất!
Động tác 3 và 4: Giống động tác của động tác thứ nhất và hai.
Động tác 5. (hình 12-3)
Hình 12-3
264
Nhịp 1 đến 4: Tay phải cầm bông tua, buông dọc thân người, tay trái
cầm bông tua đặt phía trước, thực hiện động tác sóng nhỏ 4 lần từ trái sang
phải.
Nhịp 5 đến 8: Động tác giống nhịp 1đến 4 nhưng đổi bên
Động tác 6. (hình 12-4)
Hình 12-4
Nhịp 1-2: Hai tay chếch trên phải ,rung tay 2 lần
Nhịp 3-4: Hai tay chếch trên trái, rung tay 2 lần
Nhịp 5-6: Hai tay chếch dưới phải, rung tay 2 lần
Nhịp 7-8: Hai tay chếch dưới trái, rung tay 2 lần
Khẩu hiểu: Oai phong đấu trường, thuộc người cừ nhất !
Động tác 7 và 8: Giống động tác của 8 nhịp thứ năm và sáu.
Động tác 9 và 10: (hình 12-5)
Hai người gần nhau lần lượt đưa hai tay quay một vòng từ trái sang
phải, đồng thời mắt nhìn theo tay, tạo sóng người.
265
Hình 12-5
Động tác 11 và 12: Giống động tác của 8 nhịp thứ 9 và mười, nhưng
đổi bên.
Động tác 13. (hình 12-6)
Hình 12-6
Nhịp 1 đến 8: Hai tay trên cao, rung tay 4 lần
Khẩu hiệu: Olympic cố lên, Việt Nam cố lên!
Động tác 14 (Hình 12-7)
Giống động tác thứ 13
Khẩu hiệu: Oai phong đấu trường, thuộc người giỏi nhất !
266
Hình 12-7
Động tác 15.
Nhịp 1-2: Tay trái chống hông, tay phải đưa lên cao, hạ xuống 2 lần.
Nhịp 3-4: Hai tay quay tròn trước ngực.
Nhịp 5-6: Tay phải chống hông, tay trái đưa lên cao, hạ xuống 2 lần.
Nhịp 7-8: Thực hiện lặp lại giống nhịp 3 – 4.
Động tác 16.
Nhịp 1-2: Hai tay trên cao.
Nhịp 3-4: Hai tay xuống dưới.
Nhịp 5-6: Hai tay đan chéo trước bụng.
Nhịp 7-8: Hai tay chếch dưới bên.
2. Bài tập số 2
2.1. Giới thiệu chung
Bài thể dục cổ động trên khán đài này có động tác đơn giản mang tính
sử dụng cao, lấy khẩu hiệu cộng với vỗ tay làm điểm nhấn nổi bật, cảm giác
nhịp điệu mạnh mẽ, có ích cho quá trình nâng cao hiệu quả của hoạt động cổ
vũ, trợ uy trên sân.
2.2. Giải thích động tác
Tư thế chuẩn bị: Ngồi, hai tay đặt trên khớp gối, ngón tay hướng ra
trước, mắt nhìn thẳng về trước.
267
Động tác 1. (hình 12-8)
Hình 12-8
Nhịp 1-2: Vỗ tay trước ngực 1 lần.
Nhịp 3-4: Động tác giống nhịp 1-2.
Nhịp 5-6: Vỗ tay trước ngực 2 lần.
Nhịp 7-8: Hai tay về trước, dựng ngón tay cái.
Khẩu hiểu: Olympic cố lên, Việt Nam cố lên!
Động tác 2. (hình 12-9)
1-2 3-4 5-8
Hình 12-9
Nhịp 1-2: Vỗ hay tay lên đùi 2 lần, ngón tay hướng về trước.
Nhịp 3-4: Động tác giống nhịp 1-2.
Nhịp 5 đến 8: Hai tay trên cao, rung tay 4 lần.
Khẩu hiểu: Hey hey, tất thắng, tất thắng, tất thắng, tất thắng !
Động tác 3 và 4: Giống động tác của 8 nhịp thứ nhất và hai.
268
Động tác 5. (hình 12-10)
Hình 12-10
Nhịp 1-2: Hai tay trên cao, di chuyển cẳng tay từ phải sang trái, lòng
bàn tay hướng về trước
Nhịp 3-4: Động tác giống nhịp 1-2 nhưng đổi bên
Nhịp 5: Tay trái chếch trên bên, tay phải gập ngang vai
Nhịp 6: Tay phải chếch trên bên, tay trái gập ngang vai
Nhịp 7-8: Giống động tác nhịp 5 và 6
Khẩu hiểu: Olympic cố lên, Việt Nam cố lên!
Động tác 6. (hình 12-11)
Hình 12-11
Nhịp 1-2: Gập tay trái trước ngực, cẳng tay vuông góc với mặt đất, tay
phải chếch dưới trước, lòng bàn tay đối nhau.
269
Nhịp 3-4: Động tác giống nhịp 1-2 nhưng đổi tay.
Nhịp 5 đến 8: Giống động tác nhịp 1 đến 4.
Khẩu hiểu: Hey hey, tất thắng, tất thắng, tất thắng, tất thắng !
Động tác 7 và 8: Động tác giống 8 nhịp thứ năm và sáu.
Động tác 9 và 10. (hình 12-12)
Hình 12-12
Đứng lên, hai chân dang ngang, hai tay trên cao, hai tay di chuyển liên
tục sang trái, sang phải, mỗi chuyển động thực hiện 2 nhịp.
Động tác 11 và 12. (hình 12-13)
Hình 12-13
Ngồi xuống, thực hiện đông tác sóng người từ phải sang trái
Động tác 13 đến 16: Động tác giống 8 nhịp thứ chín đến mười hai
Động tác 17. (hình 12-14)
270
Hình 12-14
Nhịp 1-2: Vỗ tay trước ngực 1 lần
Nhịp 3-4: Động tác giống nhịp 1-2
Nhịp 5 đến 8: Hai tay về trước, dựng ngón tay cái
Khẩu hiểu: Olympic cố lên, Việt Nam cố lên!
Động tác 18 : Động tác giống 8 nhịp thứ mười bảy (Hình 12-15).
Hình 12-15
3. Bài tập số 3
3.1. Giới thiệu chung
Bài thể dục cổ động trên khán đài này tăng thêm tiết tấu thay đổi khi
vỗ tay, hình thành nên phong cách thể dục cổ động trên khán đài vốn có, đồng
thời kết hợp với phần điệp khúc cao trào của bài hát, nhằm tăng không khí
trên sân, khơi giậy tinh thần yêu nước, từ đó tạo hiệu quả cổ vũ, trợ uy, khích
lệ tinh thần cho VĐV thi đấu trên sân
271
3.2. Giải thích động tác
Tư thế chuẩn bị: Ngồi, chân khép, hai tay đặt trên đùi, ngón tay hướng
về trước.
Động tác 1đến 4. (hình 12-16)
Hình 12-16
Nhịp 1đến 8: Vỗ tay trước ngực 12 lần, nhịp điệu vỗ tay như sau:
1 2 3 4 / 5 6 7 8
Động tác 5. (hình 12-17)
Hình 12-17
Nhịp 1: Hai tay trên cao, nắm hờ, lòng bàn tay hướng vào nhau.
Nhịp 2: Gập cẳng tay, nằm hờ, lòng bàn tay áp sát bên tai.
Nhịp 3-4: Hai tay trên cao, xoè rộng ngón tay, lòng bàn tay hướng về
trước.
Nhịp 5-6: Gập cẳng tay, đan chéo trước ngực, thực hiện sóng cẳng tay
một lần.
272
Nhịp 7-8: Hai tay trên cao, nắm hờ, lòng bàn tay hướng vào nhau.
Động tác 6. (hình 12-18)
Hình 12-18
Nhịp 1: Tay phải chếch trên bên, tay trái gập cao ngang tai, xoè rộng
ngón tay, lòng bàn tay hướng về trước.
Nhịp 2: Giống động tác nhịp 1 nhưng đổi bên.
Nhịp 3: Giống động tác nhịp 1.
Nhịp 4: Giống động tác nhịp 2.
Nhịp 5-6: tay phải đặt trước ngực, tay trái buông dọc thân người.
Nhịp 7- 8: Tay phải trên cao, đưa ngón tay trỏ lên, tay trái buông dọc
thân người.
Khẩu hiểu: 1,2,3,4,5, 6, 7, Đội chúng ta dành thứ nhất !
Động tác 7: Giống động tác của 8 nhịp thứ năm.
Động tác 8 : Giống động tác của 8 nhịp thứ sáu.
Động tác 9. (hình 12-19)
Hình 12-19
273
Nhịp 1 đến 8: Giơ tay trên đầu, hai nhịp một chuyển động, gập khớp
khuỷu, di chuyển tay sang trái, phải, đồng thời hát theo nhạc.
Động tác 10. (hình 12-20)
Hình 12-20
Nhịp 1 đến 8: Mỗi hàng bắt đầu từ người bên trái, lần lượt đứng lên,
hai tay di chuyển về trước, lên cao, lòng bàn tay hướng về trước, rung 2 tay,
lần lượt ngồi xuống, hình thành sóng người.
4. Bài tập số 4
4.1. Giới thiệu chung
Bài thể dục cổ động trên khán đài này có động tác phong phú, thiết kế
tỉ mỉ, kết hợp hoàn hảo cùng khẩu hiệu, trong khi tập luyện chú ý kết hợp
giữa cơ thể với tinh thần, thể hiện tinh thần biểu dương, khích lệ đối với các
VĐV thi đấu trên sân.
4.2. Giải thích động tác
Tư thế chuẩn bị: Ngồi, chân khép, hai tay đặt trên đùi, ngón tay hướng
về trước.
Động tác 1. (hình 12-21)
274
Hình 12-21
Nhịp 1 đến 4: Vỗ tay trước ngực 4 lần
Nhịp 5 đến 8: Vỗ tay trước ngực 3 lần, kết hợp khẩu hiệu: Hey, hey,
hey !
Nhịp 8: Bỏ trống.
Động tác 2 đến 4: Giống động tác 8 nhịp thứ nhất.
Động tác 5. (hình 12-22)
Hình 12-22
Nhịp 1- 2: Hai tay trên cao, đan chéo trên đầu sau đó mở ra thành
chếch trên bên, xoè rộng ngón tay, lòng bàn tay hướng về trước.
Nhịp 3: Nắm hờ hai tay, để ở vị trí ngang eo, lòng bàn tay hướng lên
trên.
275
Nhịp 4: Hai tay đấm thẳng về trước, lòng bàn tay hướng xuống dưới.
Nhịp 5- 6: Gập cẳng tay, đan chéo trước ngực, khép các ngón tay, đặt
trên vai.
Nhịp 7-8: Hai tay chếch trên bên, lòng bàn tay đối nhau, các ngón tay
khép.
Động tác 6. (hình 12-23)
Hình 12-23
Nhịp 1 đến 4: Gập hai tay trước ngực, ngón tay cái và bốn ngón còn
lại của mỗi bàn nối vào nhau tạo thành hình trái tim
Nhịp 5- 6: Khép các ngón tay phải, di chuyển theo đường vòng cung
bên trái từ đầu xuống mặt, cằm, tay trái giơ cao qua đầu
Nhịp 7: Gập tay phải trước ngực, cẳng tay vuông góc với mặt đất,
khép các ngón tay, lòng bàn tay hướng ra sau
Nhịp 8: Duỗi tay phải lên cao. Lòng bàn tay hướng lên trên
Khẩu hiệu: Nhịp đập con tim, ước mơ tươi đẹp!
Động tác 7. (hình 12-24)
Nhịp 1: Hai tay nhập thành hình chữ thập, cẳng tay nâng cao quá đầu,
khớp khuỷu hướng sang bên.
276
Hình 12-24
Nhịp 2: Gập tay phải cao ngang ngực, tay trái gập trước ngực, tay phải
đặt dưới khớp khuỷu tay trái.
Nhịp 3: Quay cổ tay phải xuống dưới, tay trái giữ yên.
Nhịp 4: Tay phải dừng trước bụng, lòng bàn tay hướng lên trên, tay
trái giữ yên.
Nhịp 5- 6: Hai tay sau khi đan chéo mở ra thành chếch bên, khép ngón
tay, lòng bàn tay hướng lên trên.
Nhịp 7- 8: Hai tay đan chéo trước ngực, nâng khuỷu tay, khép các
ngón tay, tay đặt trên vai.
Động tác 8. (hình 12-25)
Hình 12-25
Nhịp 1 đến 8: Vỗ tay trước ngực 12 lần, nhịp điệu vỗ tay như sau:
1 2 3 4 / 5 6 7 8
277
Động tác 9: Giống động tác 8 nhịp thư tám.
Động tác 10:
Nhịp 1: Hai tay vỗ lên hai đùi.
Nhịp 2: Hai tay vỗ trước ngực.
Nhịp 3: Tay phải vỗ lên đùi phải, tay trái để ngang vuông góc trước
ngực lòng bàn tay úp.
Nhịp 4: Tay phải nâng lên vỗ vào lòng tay trái lòng bàn tay hướng
xuống, tay trái giữ yên; nhanh chóng hai tay vỗ vào nhau.
Nhịp 5- 8: thực hiện lặp lại giống nhịp 1 - 4.
Động tác 11: Tư thế chuẩn bị đứng nghiêm.
Nhịp 1- 2: Hai tay vỗ trước ngực.
Nhịp 3: Hai tay ngang, lòng bàn tay úp.
Nhịp 4: Hai tay vỗ vào nhau trên cao.
Nhịp 5: Tay trái giữ nguyên, tay phải hạ xuống dưới sang trái chữ K.
Nhịp 6: Hai tay chuyển V cao.
Nhịp 7 - 8: Hai tay vỗ trước ngực.
Động tác 12: Tư thế chuẩn bị đứng nghiêm.
Nhịp 1: Hai tay chuyển V cao.
Nhịp 2: Hai tay chuyển V thấp.
Nhịp 3: Hai tay vỗ trước ngực.
Nhịp 4: Tay trái chống hông, tay phải hạ xuống dưới bên phải.
Nhịp 5: Tay phải chống hông, tay trái hạ xuống dưới bên trái.
Nhịp 6: Hai tay chuyển chếch dưới bên phải.
Nhịp 7: Hai tay chuyển V cao
Nhịp 8: Hai tay vỗ trước ngực.
Động tác 13: Tư thế chuẩn bị đứng nghiêm.
Nhịp 1: Hai tay chuyển chếch dưới bên phải.
Nhịp 2: Hai tay chuyển chếch dưới bên phải.
278
Nhịp 3: Hai tay trên cao.
Nhịp 4: Hai tay vỗ trước ngực.
Nhịp 5 - 8: Thực hiện lặp lại giống 1 - 4.
Động tác 14: Tư thế chuẩn bị đứng nghiêm.
Nhịp 1: Hai tay chuyển V cao.
Nhịp 2: Hai tay vỗ trước ngực.
Nhịp 3: Tay phải đấm ra trước, tay trái thu trước ngực.
Nhịp 4: Hai tay vỗ trước ngực.
Nhịp 5: Hai tay nắm vào nhau đưa ra trước.
Nhịp 6: Hai tay chuyển V cao.
Nhịp 7: Hai tay chuyển V thấp.
Nhịp 8: Hai tay vỗ trước ngực.
Động tác 15: Tư thế chuẩn bị ngồi trên ghế.
Nhịp 1: Hai tay vỗ trượt vào nhau trước mặt, tay trái cao, tay phải vỗ
đùi.
Nhịp 2: Tay phải nâng lên, tay trái hạ vỗ trượt vào nhau trước mặt, tay
phải cao, tay trái vỗ đùi.
Nhịp 3- 8: lặp lại nhịp 1 - 2.
279
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 2
PHẦN 1. THỂ DỤC CỔ ĐỘNG THI ĐẤU 4
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ THỂ DỤC CỔ ĐỘNG 4
1. Nguồn gốc và sự phát triển của thể dục cổ động 4
2. Các khái niệm và đặc điểm của thể dục cổ động 9
3. Nhiệm vụ và tầm quan trọng của thể dục cổ động 13
4. Văn hóa tạo thành nền tảng phong trào thể dục cổ động 19
Chương 2. CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA THỂ DỤC CỔ 27 ĐỘNG
1. Thành lập các đội thể dục cổ động 27
2. Công tác tổ chức và tập luyện thể dục cổ động 29
3. Lựa chọn khẩu hiệu 31
4. Âm nhạc 35
5. Đội hình trong thể dục cổ động. 40
Chương 3. CÁC KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CỦA THỂ 44 DỤC CỔ ĐỘNG
1. Đặc trưng kỹ thuật của động tác cơ bản 44
2. Chuyển động cơ bản của tay 45
3. Chuyển động cơ bản của chân. 48
4. Tổ hợp động tác cơ bản 49
5. Các bước bật nhảy cơ bản 56
6. Các động tác thăng bằng và quay 66
7. Kỹ thuật trồng chuối 75
8. Kỹ thuật nhào lộn 80
92
280
Chương 4. KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG CÁC KỸ THUẬT LÊN
THÁP CỦA THỂ DỤC CỔ ĐỘNG
1. Kỹ thuật lên tháp cơ bản 92
2. Phân loại và yêu cầu đối với nhóm động tác lên tháp 99
3. Tung và bắt trong thể dục cổ động. 139
4. Huấn luyện thể lực trong thể dục cổ động. 145
Chương 5. ĐIỀU LỆ THI ĐẤU GIẢI THỂ DỤC CỔ ĐỘNG 152
1. Những quy định chung khi tiến hành biên soạn điều lệ giải 152
2. Nội dung thi đấu 153
3. Hình thức thi đấu 156
4. Quy tắc cho điểm môn thể dục cổ động 165
5. Điểm trừ lỗi vi phạm 172
6. Ban trọng tài 173
7. Cách tính điểm chính thức 173
8. Trường hợp đặc biệt 174
Chương 6. CÁC BÀI TẬP THƯỜNG SỬ DỤNG TRONG 175 THỂ DỤC CỔ ĐỘNG
1. Các bài tập vũ đạo cơ bản 175
2. Các động tác mẫu kỹ năng cơ bản 192
3. Kỹ thuật tung và bắt trong thể dục cổ động 201
Chương 7. TỔNG QUAN VỀ THỂ DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN 206 KHÁN ĐÀI
1. Nguồn gốc và sự phát triển của thể dục cổ động trên khán đài 206
2. Khái niệm và đặc điểm của thể dục cổ động trên khán đài 209
3. Phân loại và qui mô của thể dục cổ động trên khán đài 210
4. Nhiệm vụ, ý nghĩa và tầm quan trọng của thể dục cổ động trên 211 khán đài
281
Chương 8. YẾU TỐ CẤU THÀNH THỂ DỤC CỔ ĐỘNG 213 TRÊN KHÁN ĐÀI
1. Thành viên và người điều khiển cổ động trên khán đài. 213
2. Khẩu hiệu và âm nhạc cổ động trên khán đài 215
3. Đạo cụ và trang phục 219
4. Động tác cơ bản trên khán đài 221
Chương 9. PHƯƠNG PHÁP BIÊN SOẠN THỂ DỤC CỔ 227 ĐỘNG
1. Nguyên tắc biên soạn bài thể dục cổ động 227
2. Các yêu cầu về biên soạn bài biểu diễn thể dục cổ động 231
3. Phương pháp biên soạn thể dục cổ động 235
4. Những lưu ý khi biên soạn thể dục cổ động trên khán đài 236
Chương 10. HUẤN LUYỆN THỂ DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN 243 KHÁN ĐÀI
1. Đặc điểm huấn luyện môn thể dục cổ động trên khán đài 243
2. Quá trình huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài 244
3. Nội dung và phương pháp huấn luyện thể dục cổ động trên khán 248 đài
4. Tổ chức huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài 254
Chương 11. TỔ CHỨC THI ĐẤU, QUI TRÌNH VÀ QUI TẮC 256 CHẤM ĐIỂM THỂ DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN KHÁN ĐÀI
1. Tổ chức thi đấu 256
2. Qui trình thi đấu của thể dục cổ động trên khán đài 257
3. Qui tắc cho điểm môn thể dục cổ động trên khán đài 259
Chương 12. CÁC ĐỘNG TÁC MẪU TRONG THI ĐẤU THỂ 263 DỤC CỔ ĐỘNG
1. Bài tập 1 263
282
2. Bài tập số 2 267
3. Bài tập số 3 271
4. Bài tập số 4 274
MỤC LỤC 280
TÀI LIỆU THAM KHẢO 284
283
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Sách tham khảo:
[1]. Chủ biên: PGS Nguyễn Xuân Sinh (1998) Sách giáo khoa Thể dục dụng
cụ. Nhà xuất bản Thể dục thể thao.
(2). Chủ biên: PGS Nguyễn Xuân Sinh (2009) Thể dục- Sách giáo khoa dùng
cho sinh viên Đại học TDTT. Nhà xuất bản TDTT Hà Nội.
[3]. Bộ giáo dục và đào tạo, Thể dục và phương pháp dạy học, Nhà xuất bản
giáo dục, Hà Nội 1998.
[4]. Nguyễn Văn Trạch, Phương pháp giảng dạy TDTT trong trường phổ
thông, Nhà xuất bản TDTT, Hà Nội 2008.
[5]. Bộ giáo dục và đào tạo, Thể dục cơ bản và thể dục thực dụng, Nhà xuất
bản giáo dục, Hà Nội 1998.
[6]. Trần Phúc Phong, Đồng diễn thể dục, nhà xuất bản TDTT, Hà Nội 2008.
[7]. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Luật thể dục Aerobic, Nhà xuất bản
TDTT, Hà Nội 2008.
- Giáo trình tham khảo:
[8]. Thạc sĩ: Phan Thị Dịch, Trần Thị Minh Hải, Đặng Quốc Nam; Giảng
viên. Nguyễn Trọng Anh, Ngô Thanh Hồng, Võ Văn Vũ (2003) Giáo trình
Thể dục quyển 1,2,3. Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2003.
[9]. Sách đặt hàng trường Đại học TDTT Đà Nẵng (2009) Giáo trình thể dục.
Nhà xuất bản TDTT, Hà Nội 2008.
[10]. Tiến sĩ: Đặng Quốc Nam; Thạc sĩ: Ngô Thanh Hồng, TRần Tùng
Dương, Đỗ Ngọc Quang, Nguyễn Văn Quốc Dũng (2014) Giáo trình thể dục
quyển 1,2. Nhà xuất bản TDTT, Hà Nội 2014.
- Các trang thông tin điện tử tham khảo:
[11] "Quỹ của Hiệp hội Cheerleading Nhật Bản (FJCA)" .
[12] Campo-Flores, Arian (2007/05/14). "Một thế giới của Cheer" .
Newsweek.
284
[13] "Lịch sử của Cheerleading | iSport.com" . Cheerleading.isport.com.
[14] "Liên đoàn quốc tế của Cheerleading - Liên đoàn quốc tế của
Cheerleading"
[15] "Cheerleading Hiệp hội Thái Lan (CAT)" . Thaicheerleading.com.
[16] "Cheer Liên minh Canada" .
[17] Campo-Flores, Arian (2007-05-14). “A World of Cheer!”. Newsweek.
[18] Schoenberger, Chana R. (2006-11-16). “The Most Dangerous Sports”.
[19] “IASF home page”.
[20] Neil, Randy L.; Hart, Elaine (1986), The Official Cheerleader's
Handbook , Simon & Schuster, ISBN 0-671-61210-7
[21] Balthaser, Joel D. (2005-01-06). “Cheerleading – Oh How far it has
come!”. Pop Warner.
[22] Gymnastics. com
[23] Cheerleading blog. com
[24] Violet. com
[25] Liên đoàn thể dục việt nam.com
[26] http://www.cheerleading.com
[27] http://www.aacca.org
[28] http://www.usasf.net
[29] http://www.Cheerwiz.com
285

