BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO ĐÀ NẴNG

THỂ DỤC CỔ ĐỘNG

(SÁCH CHUYÊN KHẢO DÀNH CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC TDTT)

Nhóm biên soạn:

PGS – TS. LÊ ĐỨC CHƯƠNG

TS. TRẦN MẠNH HƯNG

ThS. NGÔ THANH HỒNG

ThS. TRẦN TÙNG DƯƠNG

ThS. NGUYỄN THỊ QUỲNH MAI

1

LỜI NÓI ĐẦU

Thể dục cổ động bắt nguồn từ hoạt động reo hò nhằm tăng sức lôi

cuốn trong các trận thi đấu, được đông đảo khán giả, nhất là giới trẻ hưởng

ứng nhiệt tình. Môn thể dục cổ động có tác dụng tích cực trong thúc đẩy mối

giao lưu giữa khán giả khi xem thi đấu, có vai trò quan trọng trong các trận thi

đấu thể thao, được xem là tinh thần của mỗi một nội dung thi đấu.

So với các môn thể thao khác, thể dục cổ động tương đối nổi trội hơn

về đặc điểm, thể hiện tinh thần đồng đội rõ nét, cảm giác sức mạnh và tốc độ

dứt khoát, có thể kết hợp hiệu quả với các môn thi đấu khác, những đặc điểm

nêu trên góp phần cấu thành nét độc đáo của bộ môn thể dục cổ động.

Cuốn sách này cung cấp một cái nhìn tổng quan về thể dục cổ động, thể

hiện ý nghĩa văn hóa trong hoạt động thể thao, các yếu tố cấu thành và kỹ

thuật cơ bản của hoạt động thể dục cổ động thi đấu và biểu diễn trên khán đài,

phương pháp biên soạn, sáng tác, tập luyện, tổ chức và quản lý thi đấu, quy định

về luật chấm điểm, hơn nữa cuốn sách này cũng xây dựng và hướng dẫn các ví

dụ động tác mẫu, cách biểu diễn cơ bản về thể dục cổ động.

Cuốn sách có nhiều nội dung, hình thức, nhằm nâng cao chất lượng

nghiên cứu học tập của sinh viên. Mục đích là tập trung vào lý thuyết và thực

hành đáp ứng được nhu cầu người học, là tài liệu cho công tác giảng dạy,

nghiên cứu, tập luyện đạt kết quả cao.

Để mở rộng kiến thức của người học và tăng cường hiệu quả giảng dạy

thực tiễn, cuốn sách bố trí chương trình học đa dạng, tập hợp các thuật ngữ, kỹ

thuật, hình ảnh kỹ thuật để giúp người học nghiên cứu chuyên sâu các nội

dung cũng như nhiều tài liệu liên quan khác.

Cuốn sách này sử dụng cho tất cả các đối tượng, là cẩm nang hữu hiệu

cho sinh viên các trường Đại học, cao đẳng, trung cấp… cũng có thể áp dụng

làm tài liệu tham khảo cho các trường cao đẳng và đại học, là tài liệu giảng dạy

2

môn thể thao tự chọn cho mọi đối tượng trong trường học hoặc hoạt động ngoại

khóa.

Đây là cuốn sách đầu tiên được tập thể các Cán bộ giảng viên Trường

Đại học Thể dục thể thao Đà Nẵng biên soạn nhằm đáp ứng nội dung nằm trong

chương trình đào tạo chung trình độ đại học và cao đẳng được biên soạn dựa

trên các yêu cầu đổi mới công tác đào tạo của nhà trường đặt ra hiện nay.

Thực tiễn hoạt động của môn thể dục cổ động hết sức đa dạng, phong

phú, luôn đổi mới và phát triển theo nhu cầu của xã hội nên việc biên tài liệu

môn học cũng gặp nhiều khó khăn, không tránh khỏi thiếu sót. Tập thể nhóm

biên soạn xin tiếp thu và cảm ơn những ý kiến đóng góp phê bình của bạn

đọc, các đồng nghiệp để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn.

Nhóm biên soạn

3

PHẦN 1

THỂ DỤC CỔ ĐỘNG THI ĐẤU

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ THỂ DỤC CỔ ĐỘNG

1. Nguồn gốc và sự phát triển của thể dục cổ động

1.1. Nguồn gốc và sự phát triển của thể dục cổ động trên thế giới

Thể dục cổ động (cheerleading) bắt nguồn tại Mỹ, được xem là môn

thể thao mới nổi. Lịch sử hình thành bộ môn này có thể xuất phát từ thời kỳ

nguyên thủy của các bộ lạc. Trong xã hội bộ lạc thời sơ khai, để khích lệ tinh

thần của các chiến sĩ trước khi ra trận hoặc đi săn bắn, các người còn lại trong

bộ tộc sẽ biểu diễn, reo hò, hoan hô, nhảy múa để cổ vũ, với hy vọng họ sẽ

chiến thắng trở về.

Thể dục cổ động mãi đến nửa cuối thế kỷ 19 mới chính thức phát

triển. Vào những năm 70 của thế kỷ này, câu lạc bộ thể dục cổ động đầu tiên

được thành lập tại trường Đại Học Princeton nước Mỹ. Năm 1898, sinh viên

của trường Đại Học Minnesota, Johnny Campbell trong một trận thi đấu bóng

bầu dục vì quá phấn khích đã nhảy ra trước đám đông, hướng dẫn khán giả

reo hò cổ vũ cho trận đấu, đây là hoạt động đánh dấu sự chuyển biến vô cùng

quan trọng cho môn thể dục cổ động sau này, và được ghi chép cùng đăng tải

trên chính tạp chí “Ariel” do sinh viên trường Minnesota phát hành. Johnny

Campbell trở thành đội trưởng đầu tiên của đội thể dục cổ động, là cột mốc

đáng nhớ ghi nhận sự ra đời chính thức của bộ môn này.

Đầu thế kỷ 20, loa phóng thanh bắt đầu sử dụng phổ biến trong các

đội thể dục cổ động. Những năm 20 của thế kỷ này, bạn nữ trong đội thể dục

cổ động hoạt động huyên náo hơn, sử dụng động tác thể dục kết hợp với reo

hò cùng các đạo cụ khác làm tăng thêm không khí cho buổi biểu diễn. Đến

đầu những năm 50, trường đại học mở các lớp bồi dưỡng dành cho thể dục cổ

động, giảng dạy kỹ xảo cùng kỹ thuật cơ bản. Năm 1967, nước Mỹ bắt đầu

4

lập bảng xếp hạng năm kỳ đầu tiên dành cho “ Top 10 Đội Thể Dục Cổ Động

Trong Các Trường Đại Học”. Đầu những năm 70, thể dục cổ động xuất hiện

rộng rãi trên hiện trường của các giải thi đấu, thậm chí phục vụ cả các giải thi

đấu võ vật, bơi lội và điền kinh. Mùa xuân năm 1978, kênh thể thao của công

ty truyền hình Côlômbia, nước Mỹ (tên viết tắt: CBS) lần đầu tiên phát sóng “

Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Các Trường Đại Học” trên phạm vi toàn

quốc. Từ đó, thể dục cổ động được đông đảo mọi người biết đến. Năm 1980,

Mỹ tổ chức “ Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Toàn Quốc Lần Thứ Nhất”,

đồng thời đưa ra luật thể dục cổ động, đánh dấu bước khởi đầu thể dục cổ

động gia nhập vào nội dung những môn thi đấu. Những năm tiếp theo, thể dục

cổ động phát triển với tốc độ chóng mặt, các giải thi đấu thể dục cổ động

được tổ chức rộng rãi từ bậc Trung Học, Phổ Thông đến Đại Học tại các bang

trên toàn nước Mỹ, tầm ảnh hưởng và tiếng tăm ngày càng nhân rộng. Mỗi

trường Đại Học, Trung Học, Tiểu Học của các bang trên nước Mỹ đều có đội

thể dục cổ động riêng, cũng như tự xây dựng nên trang web riêng của đội.

Giải thi đấu thể dục cổ động toàn quốc hàng năm được phát sóng đều thu hút

lượng lớn khán giả xem truyền hình, đạt tỉ lệ khán giả xem cao. Hiện nay, thể

dục cổ động trở thành một trong những môn thể thao xã hội tiêu biểu trên

khắp nước Mỹ, toàn thế giới có đến 60 quốc gia phát triển bôn môn thể thao

này.

Liên Đoàn Ngôi Sao Quốc Tế (International All-Star Federation, tên

viết tắt : IASF) có trụ sở chính đặt tại Mỹ, tổ chức trên là liên minh của đội

thể dục cổ động Ngôi Sao Nước Mỹ, đóng vai trò làm cầu nối hướng ra toàn

thế giới, thông qua tổ chức “Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Và Vũ Đạo Thế

Giới” (The Cheerleading & Dance Worlds) mỗi năm một lần nhằm thúc đẩy

sự phát triển của bộ môn thể thao này. Cùng với quá trình quốc tế hóa, Liên

Minh Thể Dục Cổ Động Ngôi Sao Nước Mỹ từng bước phát triển thành Liên

Minh Thể Dục Cổ Động Ngôi Sao Quốc Tế và sau đó trở thành Hiệp Hội Thể

5

Dục Cổ Động Ngôi Sao Quốc Tế (International All-Star Cheerleading

Association, tên viết tắt: IASCA); Liên Minh Thể Dục Cổ Động Quốc Tế

(International Cheer Union, tên viết tắt: ICU) thực hiện quảng bá môn thể

thao này dưới sự trợ giúp đắc lực của Liên Minh Thể Dục Cổ Động Ngôi Sao

Nước Mỹ và dưới sự chỉ đạo của Hiệp Hội Thể Dục Cổ Động Ngôi Sao Quốc

Tế.

Năm 1998, Liên Hiệp Thể Dục Cổ Động Quốc Tế (International

Federation of Cheerleading, tên viết tắt: IFC) được thành lập tại Tokyo, Nhật

Bản, là cột mốc quan trọng đánh dấu bước ngoặt chuyển mình của môn thể

dục cổ động.

Các mục tiêu của IFC là thúc đẩy môn thể dục cổ động phát triển trên

toàn thế giới, truyền bá kiến thức về cổ vũ và phát triển quan hệ hữu nghị giữa

các thành viên hiệp hội thể thao, các liên đoàn.

IFC thực hiện và quản lý các hoạt động sau để đạt được các mục tiêu nêu

trên: Thúc đẩy các hoạt động cổ vũ trên toàn cầu, ủy quyền, hợp tác, và đồng

chủ nhà giải vô địch quốc tế và thế giới. Quy định về các cuộc thi, phê duyệt và

tăng số lượng trọng tài quốc tế. Phát triển hệ thống huấn luyện và tăng số lượng

các huấn luyện viên quốc tế. Tổ chức kiểm tra hoạt động cổ động và bài giảng

dựa trên các quy tắc quốc tế. Đưa ra các thông tin và hỗ trợ nghiên cứu về cổ

động. Chỉnh sửa và xuất bản sách, băng âm thanh, phim, và các loại tương tự.

Cho phép các công ty, cá nhân và các tổ chức khác đóng góp đồng thời nhận sự

hỗ trợ của IFC, thực hiện các hoạt động cần thiết khác để đạt được mục đích của

IFC.

Tháng 11 năm 2001, tại thủ đô Tôkyo của Nhật Bản đăng cai tổ chức

Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới Lần Thứ Nhất (Cheerleading

World Championships), thu hút 8 quốc gia trên toàn thế giới tham dự (gồm:

Phần Lan, Đức, Nhật Bản, Na-uy, Slovenia, Thụy Điển, Anh và Đài Loan),

chính thức đưa thể dục cổ động lên tầm thi đấu quốc tế. Năm 2003, Giải Vô

6

Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới Lần Thứ Hai được tổ chức tại thành phố

Manchester nước Anh với sự tham gia của 9 quốc gia gồm: Phần Lan, Đức,

Nhật Bản, Na-uy, Slovenia, Thụy Điển, Anh, Đài Loan và Nga. Ngày 5- 6

tháng 11 năm 2005, thủ đô của đất nước hoa anh đào, Tôkyo lại một lần nữa

trở thành đai diện nước chủ nhà tổ chức Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế

Giới Lần Thứ Ba, giải này số đội tham dự lên đến 13 đội, gồm Australia, Đài

Loan, Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Nhật Bản, Na-uy, Nga, Slovenia, Thụy

Điển, Anh và Ukraine. Ngày 17-18 tháng 11 năm 2007, Giải Vô Địch Thể

Dục Cổ Động Thế Giới Lần Thứ Tư được tổ chức tại Helsink, thủ đô của

Phần Lan, có 25 quốc gia tranh tài. Năm 2009, Đức đăng cai tổ chức Giải Vô

Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới Lần Thứ Năm. Năm 2009, Đức đăng cai tổ

chức Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới Lần Thứ Năm. Năm 2011,

Hồng Kông đăng cai tổ chức Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới Lần

Thứ Sáu. Năm 2013, Thái Lan đăng cai tổ chức Giải Vô Địch Thể Dục Cổ

Động Thế Giới Lần Thứ Bảy. Năm 2015, Đức đăng cai tổ chức Giải Vô Địch

Thể Dục Cổ Động Thế Giới Lần Thứ Tám. Cụ thể tình hình phát triển môn

thể dục cổ động trên thế giới được trình bày trên bảng 1.

Bảng 1: Tình hình phát triển môn thể dục cổ động trên thế giới

Thời

gian Địa điểm Sự kiện

(năm)

Ghi chép và đăng tải hoạt động hò reo có tổ 1898 ĐH Minnesota, Mỹ chức lần đầu tiên trên tạp chí “Ariel”

Loa phóng thanh lần đầu tiên được đưa vào sử 1898 Mỹ dụng hỗ trợ trong các đội thể dục cổ động

ĐH Oregon State, Lindly Bothwell chỉ đạo đội thể dục cổ động, 1920 Mỹ lần đầu sử dụng kết hợp với đạo cụ.

7

Lawrence R. Herkime đăng ký thành lập công

1940 Mỹ ty đầu tiên chuyên cung cấp sản phẩm phục vụ

cho thể dục cổ động

Thành lập Liên Hiệp Thể Dục Cổ Động Toàn 1948 Mỹ Nước Mỹ

Bông tua được sử dụng trong các giải thi đấu 1960 Mỹ thể dục cổ động

Lần đầu công bố bảng xếp hạng Top 10 đội

1967 Mỹ thể dục cổ động trong các trường Phổ Thông

trên toàn nước Mỹ

Xuất bản Luật Thể Dục Cổ Động đầu tiên trên 1980 Mỹ thế giới

Thành lập Liên Hiệp Thể Dục Cổ Động Quốc 1998 Tôkyo, Nhật Bản Tế

Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2001 Tôkyo, Nhật Bản Lần Thứ Nhất

Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2003 Manchester, Anh Lần Thứ Hai

Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2005 Tôkyo, Nhật Bản Lần Thứ Ba

Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2007 Helsink, Phần Lan Lần Thứ Tư

Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2009 Đức Lần Thứ Năm

Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2011 Hồng Kông Lần Thứ Sáu

8

Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2013 Thái Lan Lần Thứ Bảy

Giải Vô Địch Thể Dục Cổ Động Thế Giới 2015 Berlin, Đức Lần Thứ Tám

1.2. Sự phát triển của thể dục cổ động ở Việt Nam

Tại Việt Nam, bộ môn này tuy còn khá mới mẻ nhưng đã nhanh chóng

thu hút sự hứng thú, quan tâm của những bạn học sinh, sinh viên yêu thích sự

sáng tạo khỏe khoắn và hiện đại.

Ở Việt Nam lúc trước, Nhảy cổ động chỉ được biết đến qua những bộ

phim nước ngoài dành cho tuổi mới lớn, như Bring it on, High School

Musical, Glee..., thì giờ đây, nó đã trở nên rất phổ biến ở Việt Nam, thu hút

sự quan tâm của đông đảo thanh thiếu niên, học sinh - sinh viên tại các đô thị

lớn, đặc biệt với sự ra đời giải U-League, giải sinh viên văn thể mỹ được Bộ

Giáo dục và Đào tạo tổ chức hàng năm, với sự tham gia của các trường Cao

đẳng, Đại học đến từ 3 miền Bắc - Trung- Nam. Riêng tại Thành phố Hồ Chí

Minh, Nhảy cổ động rất được yêu thích tại các trường THPT Marie Curie,

THPT Lê Quý Đôn, Đại học Ngoại thương, Đại học Sư Phạm, Đại học Bách

Khoa, Đại học Kiến trúc... Tùy theo quy mô của từng trường, mà có từ vài

chục đến hơn cả trăm thành viên cả nam lẫn nữ tham gia. Trong thời gian gần

đây, cũng có đội Nhảy cổ động mang hơi hướng chuyên nghiệp đầu tiên là đội

Saigon Hot Girls thường xuyên khuấy động không khí trên khán đài nhà thi

đấu Tân Bình (TPHCM) để cổ vũ các trận đấu của đội bóng rổ Saigon Heat

tại Giải bóng rổ nhà nghề Đông Nam Á.

2. Các khái niệm và đặc điểm của thể dục cổ động

2.1. Khái niệm về thể dục cổ động

Xét theo nghĩa rộng, thể dục cổ động là loại hoạt động có tổ chức với

mục đích trợ uy cho các giải thi đấu thể thao

9

Xét theo nghĩa hẹp, thể dục cổ động là môn thể thao VĐV thực hiện

các kỹ thuật chuyên biệt dành cho thể dục cổ động kết hợp với động tác vũ

đạo dưới sự trợ giúp của nhạc nền, tập trung thể hiện tinh thần đồng đội tích

cực, lành mạnh, hoạt bát của tuổi trẻ.

Một số khái niệm liên quan:

Nhảy cổ động (tiếng Anh: Cheerleading) có xuất xứ từ nước Mỹ từ

những năm 1923. Đây là môn thể thao dựa trên sự kết hợp đồng đội. Một bài

cổ động thường kéo dài từ một đến năm phút tùy theo mức độ khó, bao gồm

các động tác nhào lộn, bật nhảy, dựng tháp và vũ đạo. Nhảy cổ động thường

được biểu diễn vào giờ nghỉ giải lao trong các trận đấu thể thao như bóng rổ,

bóng đá, bóng bầu dục... Bộ môn này đã dần trở nên phổ biến trên toàn thế

giới và đặc biệt đang phát triển tại các nước Châu Á, đặc biệt là các quốc gia

đã thành lập được cộng đồng cheer mạnh như Nhật Bản, Thái Lan, Indonesia,

Philippines...

Cổ vũ viên (tiếng Anh: cheerleader) là thành viên trong đội cổ vũ

chính thức của mỗi đội tại các cuộc thi đấu thể thao. Các đội cổ vũ

(cheerleading squad) thường có đồng phục riêng cho các thành viên nam và

nữ, với nhiệm vụ chính là khích lệ khán giả cổ võ cho đội nhà, giúp mang lại

sự nồng nhiệt cho trận đấu, cũng như là biểu diễn đồng bộ các nhịp điệu

(routine) sôi động đã được tập luyện kỹ càng, hòa với các pha bay nhảy, nhào

lộn đẹp mắt trong giờ giải lao để giữ bầu không khí hăng say trong sân vận

động. Họ thường được tập hợp thành từng đội với trang phục đồng nhất, gợi

cảm, tay cầm chùm hoa, nhảy múa theo các vũ điệu đã được tập dượt thành

thục hoặc theo các tình tiết phát sinh trong trận thi đấu.

2.2. Đặc điểm của thể dục cổ động

2.2.1 . Đoàn kết và sự phối hợp

Thể dục cổ động là hoạt động được triển khai dưới hình thức tập thể,

số người tham gia thi đấu từ 6 - 30 VĐV, không giới hạn về giới tính. Một

10

hoặc hai, ba người rất khó đạt được hiệu quả biểu diễn trong thể dục cổ động,

chỉ khi lượng người tham gia biểu diễn đạt đến con số nhất định, mới có thể

hoàn thành các kỹ xảo phức tạp cũng như những động tác mang tính sáng tạo,

khi đó mới thực sự truyền tải được sức hấp dẫn không giới hạn của bộ môn

này. Trong suốt quá trình thực hiện động tác, tập luyện hoặc biểu diễn dưới sự

chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên hay huấn luyện viên, đều cần đến sự phối

hợp, khích lệ, tin tưởng lẫn nhau, thì cả đội mới có thể hoàn thành tốt nhiệm

vụ được giao.

2.2.2. Mạnh mẽ và sôi động

Thể dục cổ động thể hiện nổi trội và rõ nét khí thế hừng hực, lành

mạnh của tuổi trẻ. Do đó, vận động viên thể dục cổ động cần phải có hình

tượng tươi trẻ, tinh thần trong sáng cùng thể hình đẹp. Vận động viên nam

phải có cơ bắp cuồn cuộn, thể hình cân đối như hình tam giác ngược; vận

động viên nữ phải có cơ bắp săn chắc, tỉ lệ thân trên và chi dưới cân đối, màu

da sáng, khỏe. Tất cả các vận động viên thể dục cổ động đều yêu cầu phải có

sự cân đối về vóc dáng, hình thể cũng như diện mạo, đại diện cho sức khỏe và

vẻ đẹp trong sáng của tuổi trẻ.

2.2.3. Nổi bật về phong cách

Phong cách kỹ thuật của thể dục cổ động không giống với thể dục

thẩm mỹ hay vũ đạo, nó chú trọng hơn đối với quá trình thực hiện động tác

của cơ thể thông qua tăng tốc đột ngột với thời gian ngắn cùng điểm dừng vị

trí nhằm thể hiện cảm giác sức mạnh riêng biệt của bộ môn này. Những động

tác với nhịp chậm vừa phải vẫn được chấp nhận, nhưng chỉ được xuất hiện

với vai trò là nhịp đệm để thực hiện động tác kế tiếp. Yêu cầu vận dụng các

động tác tay, bước chân, bước nhảy cơ bản kết hợp với nhiều nhân tố vũ đạo,

khẩu lệnh khác, thông qua biến hóa đội hình, thay đổi tiết tấu nhằm thể hiện

rõ nét đặc trưng chuyên môn của thể dục cổ động. Tất cả các động tác thực

hiện trên không rơi xuống bắt buộc phải tiếp đất bằng hai chân, đồng thời phải

11

có giai đoạn hoãn xung; khi thực hiện các động tác tung - hứng, người ở dưới

phải đảm nhận vai trò hoãn xung. Nội dung của các động tác triển khai theo

bài phải có kết thúc và mở đầu rõ ràng. Tất cả các động tác khó bắt buộc phải

có yêu cầu và qui định cụ thể. Ví dụ: kết thúc của nhóm động tác thăng bằng

xoay người yêu cầu: góc xoay người phải hoàn chỉnh, trọng tâm vững; động

tác bật nhảy yêu cầu mỗi lần nhảy phải có tư thế động tác, góc, biên độ rõ

ràng

2.2.4 . Tính mục đích rõ ràng

Thể dục cổ động thông qua hàm ý phong phú của động tác tay, khẩu

hiệu rõ ràng, động tác đều đặn, đạo cụ bắt mắt, biến hóa phức tạp của đội hình

cộng thêm thay đổi kỹ xảo trên không với mục đích truyền tải đến cho người

xem một thái độ sống lạnh mạnh, một tinh thần đầy lạc quan, tự tin. Bên cạnh

đó, cùng với màn biểu diễn đặc sắc của toàn đội, mong muốn truyền đạt quan

niệm chủ nghĩa tập thể lớn mạnh, hỗ trợ, đoàn kết của đồng đội, tinh thần tiến

thủ của thời đại, nhằm thêm sắc màu cho đội thi đấu, đây là điều mà môn thể

thao khác không thể sánh được

2.3. Phân loại thể dục cổ động

Căn cứ vào nơi biểu diễn để phân loại, thì thể dục cổ động chia thành:

Thể dục cổ động trên sân và thể dục cổ động trên khán đài. Dựa trên kỹ thuật

động tác để phân loại, thì thể dục cổ động trên sân lại chia thành: Thể dục cổ

động kỹ xảo và thể dục cổ động vũ đạo. Dựa trên quan sát vận động viên có

cầm đạo cụ hay không, thể dục cổ động trên khán đài lại được phân thành hai

loại đó là: Thể dục cổ động tay không và thể dục cổ động có đạo cụ. Trong

đó, thể dục cổ động kỹ xảo là môn thi đấu đồng đội với các nội dung cơ bản

sau: Nhào lộn, nâng - đỡ, tung - bắt, tổ hợp kim tự tháp, khẩu hiệu..., được

phân chia thành ba hạng mục thi đấu chính gồm: Tổ hợp nam nữ (Mixed); tổ

hợp nữ (All-Female) và kỹ năng bạn nhảy (Partner stunts). Thể dục cổ động

vũ đạo là nội dung thi đấu đồng đội chủ yếu sử dụng các động tác vũ đạo,

12

thông qua trình diễn để nổi bật kỹ xảo vũ đạo cùng các nhân tố khác, đồng

thời có thể kết hợp với đạo cụ; được chia thành các nhóm như: bông tua

(Pom), đá cao (High kick), điệu Jazz, nhảy hiện đại, Hip-hop...

Ngoài ra, tiêu chuẩn tham dự giải vô địch thể dục cổ động toàn nước

Mỹ, được xem là giải đấu đại diện cho trình độ cao nhất của thể dục cổ động

thế giới đó là: Số vận động viên trong đội: Từ 6 - 30 người, chia thành 4

nhóm lần lượt tham gia thi đấu, gồm: Nhóm nghiệp dư, nhóm trung học,

nhóm đại học và nhóm chuyên nghiệp.

3. Nhiệm vụ và tầm quan trọng của thể dục cổ động

3.1. Nhiệm vụ của thể dục cổ động

Thể dục cổ động có nguồn gốc từ nghi thức tiễn chiến binh ra trận

đánh giặc của giai đoạn sơ khai thời kỳ các bộ lạc, thông qua tiếng hoan reo,

điệu nhảy cùng các hình thức biểu diễn khác nhằm khích lệ tinh thần chiến

đấu của chiến binh, hy vọng họ sẽ chiến thắng trở về. Tương tự, môn thể dục

cổ động hiện đại cũng vẫn bảo toàn được những nội hàm bản chất đó, kết hợp

với nhiều giải thi đấu thể thao các môn như bóng rổ, bóng đá, bóng chuyền,

bóng bầu dục ...tận dụng thời gian nghỉ giữa hiệp hoặc thời gian rảnh lúc tạm

dừng trận đấu, dưới sự hỗ trợ của nền nhạc, thực hiện động tác vũ đạo và kỹ

xảo phức tạp, kèm theo khẩu hiệu vang dội cùng đạo cụ bắt mắt, qua màn

biểu diễn đầy kịch tính đạt được mục đích cổ vũ, ủng hộ, khích lệ tinh thần thi

đấu ngoan cường cho đội mình yêu thích, phát huy tinh thần phối hợp đồng

đội, xây dựng niềm tin chiến thắng, dành chiến thắng sau cùng của trận đấu.

Do đó, thể dục cổ động có những nhiệm vụ cụ thể như sau:

3.1.1. Nâng cao đời sống văn hóa tinh thần

Là môn thể thao ra đời và phát triển trong xã hội hiện đại, thể dục cổ

động có vai trò vô cùng quan trọng trên phương diện làm phong phú hơn đời

sống tinh thần trong trường học và xã hội, đồng thời cũng góp thêm sắc màu

về loại hình và nội hàm cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể thao, mang

13

lại bản sắc riêng trên sân cho mỗi trận thi đấu. Thể dục cổ động là môn thể

thao mạnh mẽ, kịch tính dễ gây cảm động lòng người, dành được niềm yêu

thích và ủng hộ nhiệt tình từ nhiều phía trong xã hội.

3.1.2. Làm việc theo nhóm và tinh thần tập thể

Các màn biểu diễn của thể dục cổ động bất luận là thi đấu tranh tài hay

chỉ mang tính chất khuấy động phong trào đều được thực hiện bởi một nhóm

người. Do đó, thể dục cổ động là thực tế khắc họa miêu tả sinh động tinh thần

tập thể, yêu cầu sự phối hợp ăn ý tuyệt vời của các thành viên trong đội. Cũng

như các môn thi đấu tập thể khác, vận động viên bắt buộc phải cần sự phối hợp,

ủng hộ và khích lệ lẫn nhau, như vậy toàn đội mới có cơ hội dành chiến thắng.

Nếu chỉ nghĩ đến thể hiện của riêng cá nhân, không có ý thức khái niệm tinh

thần tập thể, nhất định sẽ ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu và sự tập trung của

toàn đội. Sự đồng nhất, đều đặn của các khẩu hình tay, khẩu hiệu, động

tác....trong thể dục cổ động thể hiện rõ nét tinh thần đồng đội và tinh thần tập

thể, trong đó mỗi một vận động viên thể dục cổ động có nhiệm vụ truyền tải

tinh thần đồng đội nêu trên ngay trong từng động tác mà mình thực hiện, tiếp

tục lan truyền sang những thành viên bên cạnh, sau đó phát triển lên thành tinh

thần của toàn đội.

3.1.3. Thể hiện văn hoá và tinh thần thi đấu

Thể dục cổ động là môn thể thao mạnh mẽ, nổi bật tinh thần tích cực,

lạc quan, dũng cảm kiên cường, cùng tinh thần độc lập, chủ động của mỗi cá

nhân. Tinh thần này nên được thể hiện trong tập luyện, thi đấu cũng như trong

cuộc sống hằng ngày của mỗi một vận động viên thể dục cổ động. Với tư cách

là thành viên của đội thể dục cổ động, chúng ta cần có trách nhiệm, nghĩa vụ

xây dựng và quảng bá tinh thần của bộ môn này, bộc lộ rõ nét thái độ sống

tích cực, nghị lực, tinh thần quyết chí tự cường, không chịu khuất phục. Khi

gặp bất kỳ khó khăn nào dù trong tập luyện, thi đấu hay trong cuộc sống cũng

nên có một tâm thái tốt, cộng với suy nghĩ tích cực để giải quyết vấn đề. Bồi

14

dưỡng các thành viên trong đội trở thành những thanh thiếu niên có chí, vượt

qua mọi khó khăn, xây dựng đội thể dục cổ động trở thành một tổ chức có kỷ

luật, có tinh thần chiến đấu tích cực.

3.1.4. Phát triển một cơ thể khỏe mạnh

Với vai trò là một môn thể thao mang tính tập thể cao, thể dục cổ động

có tác dụng tích cực trong bồi dưỡng sức khỏe và tinh thần cho học sinh. Thể

dục cổ động có sự phối hợp chặt chẽ giữa âm nhạc, vũ đạo cùng nhân tố kỹ

xảo điêu luyện, vận động viên phải hoàn thành nhiều động tác có độ khó cao

trên nền nhạc sôi động, điều này đòi hỏi trong quá trình tập luyện hằng ngày

các em phải tự trang bị cho mình một nền tảng tố chất thể lực tốt, cảm thụ âm

nhạc tốt, nắm vững thành thạo mọi kỹ xảo nâng, tung, hứng và cả các động

tác vũ đạo phức tạp. Để hoàn thành xuất sắc động tác kỹ thuật nêu trên, yêu

cầu vận động viên khi tham gia tập luyện phải tăng cường huấn luyện đối với

các tố chất thể lực như tốc độ, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, linh hoạt ...,

đồng thời thông qua huấn luyện hình thể, xây dựng được một thể thái đoan

chính, thông qua huấn luyện vũ đạo, bồi dưỡng được nhiều tố chất vũ đạo với

phong cách khác nhau, không ngừng hoàn thiện và nâng cao trên mọi phương

diện về tố chất cho toàn đội, góp phần xây dựng nên một thể trạng, một tinh

thần khỏe khoắn, lành mạnh.

3.1.5. Giáo dục đạo đức, ý chí

Phẩm chất ý chí ý chỉ tính mục tiêu, tính tự giác, tính tự tin, tính kiên

trì, khả năng khống chế, kiên cường dũng cảm cùng tinh thần độc lập, chủ

động của mỗi cá nhân. Phẩm chất ý chí vừa có thể biểu hiện thông qua quá

trình khắc phục khó khăn, lại vừa có thể từ quá trình khắc phục khó khăn bồi

dưỡng mà thành. Thành viên của đội thể dục cổ động thường gặp khó khăn

khi tham gia tập luyện, phải trải qua nhiều cuộc thử thách liên tiếp với chính

bản thân mình, do đó cần có một tín niệm kiên định cùng lòng tin vững chắc

vào thành công để khắc phục mọi mệt nhọc và khó khăn do tập luyện mang

15

đến, rèn luyện nên phẩm chất ý chí tốt. Đặc trưng của môn thể dục cổ động đó

là khắc phục khó khăn và chướng ngại nhất định, do đó nó là điểm mốc quan

trọng trên con đường bồi dưỡng phẩm chất ý chí con người.

3.1.6. Hoàn thiện và làm phong phú giá trị văn hóa

Thể dục cổ động đại diện cho tinh thần tích cực, vượt qua mọi khó

khăn, phấn đấu quyết thắng, thể hiện nổi trội hàm ý sâu sắc cùng nội hàm văn

hóa vốn có của bộ môn thể thao này. Trong xã hội hiện đại ngày nay, chúng ta

không chỉ cần đề cao cá tính và sức sáng tạo cá nhân, mà còn cần nhấn mạnh

tinh thần phối hợp của mỗi thành viên trong nhóm cũng như dũng khí, quyết

tâm khắc phục khó khăn của cả tập thể. Một tập thể muốn lớn mạnh, yêu cầu

tinh thần của mỗi thành viên trong đội phải được trau dồi và nâng cao hơn.

Thể dục cổ động truyền bá đến cá nhân, đoàn thể và xã hội thông điệp của sức

khỏe, của thái độ văn hóa tích cực, nhằm thúc đẩy, khích lệ con người phấn

đấu. Tất cả những cá nhân hay đoàn thể tham gia thể dục cổ động đều bị cảm

hóa bởi tinh thần văn hóa vốn có trên, thông qua quá trình học tập và sinh

hoạt, thể hiện bằng những hành động giúp đỡ, ủng hộ lẫn nhau, tinh thần đẹp

này lan toả đến mỗi một người xung quanh chúng ta, từ đó góp phần nâng vấn

đề tu dưỡng văn hóa của xã hội lên tầm cao mới.

3.1.7. Nâng cao kỹ năng vận động

Thể dục cổ động yêu cầu vận động viên thể hiện tinh thần đồng đội

của sức sống và sức khỏe tuổi trẻ, thông qua hàng loạt những động tác kỹ xảo

riêng biệt, kết hợp với động tác vũ đạo được hoàn thành trong thời gian ngắn.

Do đó, vận động viên thể dục cổ động khi thực hiện bất kỳ một động tác nào,

trước hết phải cần nắm rõ những kỹ năng vận động tương ứng. Ví dụ như thể

dục cổ động kỹ xảo, trong quá trình hoàn thành động tác, cần phải xen kẽ các

kỹ thuật nhào lộn, nâng người, tung - hứng... cùng kỹ xảo khác, điều này đòi

hỏi vận động viên phải trải qua vô số lần luyện tập để không ngừng nâng cao

tố chất sức mạnh, linh hoạt, tốc độ, từ đó nắm vững được ưu, yếu điểm của

16

loại kỹ năng vận động này, chỉ có như vậy mới có thể hoàn thành động tác

một cách hoàn mĩ, khẳng định thêm lần nữa tinh thần và lòng tin vượt qua thử

thách chính mình.

3.1.8. Tạo sự phấn khích cho khán giả

Sự ra đời của thể dục cổ động hiện đại có mối quan hệ trực tiếp với

mức độ phấn khích của khán giả. Năm 1898, sinh viên Johnny Campbell của

Đại Học Princeton trong một trận thi đấu bóng bầu dục vì quá phấn khích, đã

nhảy ra khỏi đám đông hướng dẫn mọi người cùng hò reo trợ uy cho trận đấu,

lần reo hò đó đánh dấu cột mốc ra đời của môn thể dục cổ động ngày nay.

Nhiệm vụ của đội thể dục cổ động đó là liên kết chặt chẽ hoạt động cổ vũ với

các trận thi đấu, thông qua màn biểu diễn đặc sắc, tô điểm thêm cho không

khí của trận đấu, thôi thúc khán giả cùng tham gia cổ vũ, ủng hộ và khích lệ

tinh thần cho đội mình yêu thích, góp phần tăng thêm hưng phấn cho các vận

động viên tham gia thi đấu, hướng về niềm tin quyết đấu để dành thắng lợi

3.2. Tầm quan trọng của thể dục cổ động

3.2.1. Phong phú đời sống văn hóa trong trường học

Sự ra đời của thể dục cổ động, cộng thêm sự phát triển và thành lập của

bộ môn này trong nhà trường góp phần làm phong phú hơn hoạt động văn hóa

trong trường học. Thông qua tuyên truyền bằng các hình thức phương tiện

thông tin đại chúng, đông đảo thầy và trò đều biết đến thể dục cổ động là môn

thể thao lành manh, tích cực, đồng thời còn chứa đựng tinh thần phối hợp đồng

đội ăn ý. Môn thể dục cổ động trong nhà trường ra đời, một mặt có thể xây dựng

hình tượng tràn đầy sức sống, kéo theo tinh thần tích cực, học tập và sinh hoạt

đầy nhiệt huyết cho sinh viên trong trường, mặt khác thành viên của đội thể dục

cổ động trong quá trình tập luyện gian khổ sẽ tự hình thành và bồi dưỡng cho

mình tinh thần phối hợp đồng đội, ý chí không sợ khó, không nề hà mệt nhọc,

vượt lên chính mình, đại diện cho lý tưởng hào hùng, chinh phục thử thách của

17

giới trẻ ngày nay. Vì vậy, môn thể dục cổ động ra đời mang lại giá trị vô cùng

tích cực đối với đời sống văn hóa và tinh thần cho các em học sinh.

3.2.2. Phát huy tinh thần tập thể và đoàn kết

Cũng giống như tất cả những môn thể thao mang tính tập thể khác, thể

dục cổ động cần sự phối hợp nhất trí của toàn đội mới có thể hoàn thành xuất

sắc được màn biều diễn, lỗi sai sót dù rất nhỏ của bất kỳ một thành viên nào

cũng đều có thể dẫn đến sự thất bại của toàn đội. Để dành được phần thắng,

các vận động viên cần phải hoàn thành động tác một cách đều đặn, khẩu hiệu

rõ ràng biểu ngữ bắt mắt, đó cũng chính là sự thể hiện rõ nét của tinh thần

đoàn kết, sức mạnh, niềm tin quyết chiến. Trong khi đó, kiểu tình cảm này có

thể được biểu đạt từ trong ra ngoài, được tích lũy dần dần từ ngay trong quá

trình tập luyện cũng như sinh hoạt hằng ngày mà nên. Cho nên, đối với môn

thể dục cổ động, phát huy quan niệm tinh thần tập thể cùng tinh thần phối hợp

đoàn kết trở nên vô cùng quan trọng. Mỗi một thành viên trong đội cần lấy lợi

ích tập thể làm trọng, xem vinh dự tập thể như vinh dự của chính bản thân

mình, xây dựng quan niệm “vinh dự tập thể cao hơn tất cả”.

3.2.3. Cổ vũ tinh thần tích cực trong thi đấu

Tự hoàn thiện, tự cường, đấu tranh vượt qua mọi khó khăn là một

trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Tích cực, phấn đấu,

có chí tiến thủ là phẩm chất tốt cần phát huy của cá nhân cũng như một tập

thể. Thể dục cổ động một mặt có thể bồi dưỡng những tinh thần ưu việt kể

trên cho các thành viên trong đội, mặt khác tinh thần tích cực này cũng có thể

lan toả cho những thành viên khác, khích lệ họ không nản chí trước khó khăn,

dũng cảm tiến lên phía trước. Do đó, nhân rộng môn thể dục cổ động một

cách có tổ chức, sẽ truyền bá được tinh thần vượt qua mọi khó khăn đến từng

cá nhân, hình thành vai trò thúc đẩy quan trọng đối với công cuộc đào tạo và

bồi dưỡng tinh thần dũng cảm chiến đấu, tích cực vươn lên cho thế hệ trẻ.

18

4. Văn hóa tạo thành nền tảng phong trào thể dục cổ động

4.1. Khái niệm và vai trò của văn hóa trong thể dục cổ động

Hiện tượng văn hoá thể chất (VHTC) đã có từ lâu đời nó xuất hiện

cùng với sự xuất hiện xã hội loài người nhưng trên thế giới thuật ngữ VHTC

mới chỉ được sử dụng từ cuối thế kỷ 19. Để hiểu sâu sắc về VHTC thì ta phải

hiểu được khái niệm văn hoá.

Văn hoá trong đời sống xã hội hàng ngày: Trong ngôn ngữ của các dân

tộc trên thế giới từ cultura (văn hoá) có nhiều nghĩa khác nhau. Trong đời

sống xã hội thông thường được chỉ những hoạt động tinh thần của con người

và xã hội. Trong đời sống hàng ngày văn hoá dùng để chỉ trình độ học vấn,

chỉ hành vi cử chỉ, cách ứng xử văn minh...

Cùng với sự phát triển ngày càng hoàn thiện của con người khái niệm

văn hoá cũng được thay đổi và phát triển. Trong các tài liệu được tra cứu văn

hoá được xác định là những hoạt động sáng tạo mà trong đó con người sử

dụng những di sản văn hoá do nhân loại để lại và tạo ra những di sản văn hoá

mới. (Văn hoá: bao gồm các hoạt động sáng tạo của con người để chinh phục

tự nhiện, cải tạo tự nhiên, những phương pháp hoạt động và kết quả hoạt động

đem lại cho cá nhân và xã hội).

Theo quan điểm triết học: Văn hoá là tổng hoà giá trị vật chất và tinh

thần cũng như các phương thức sáng tạo ra chúng, văn hoá còn chỉ sự truyền

thụ lại những di sản văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong triết học

người ta chia văn hoá thành 2 lĩnh vực cơ bản. Văn hoá vật chất và Văn hoá

tinh thần.

Văn hoá vật chất : Là toàn bộ những giá trị sáng tạo của con người

được thể hiện trong của cải vật chất do xã hội tạo ra kể cả các tư liệu sản xuất

đến các tư liệu tiêu dùng của xã hội.

Văn hoá tinh thần : Là toàn bộ những giá trị của đời sống tinh thần bao

gồm khoa học và mức độ áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất và

19

sinh hoạt, trình độ học vấn, tình trạng ý tế, giáo dục, nghệ thuật, chuẩn mực

đạo đức trong các hành vi của các thành viên trong xã hội - trình độ phát triển

nhu cầu của con người... văn hoá tinh thần còn được trầm tích trong các vật

thể ( các tác phẩm nghệ thuật).

Ranh giới giữa văn hoá vật chất và tinh thần chỉ có ý nghĩa tương đối.

Văn hoá có tính khách quan được hiểu theo nghĩa rộng

Theo nghĩa rộng: Văn hoá là tổng hoà những giá trị vật chất và tinh

thần của con người. Văn hoá là một biểu hiện xã hội không chỉ bao quát quá

khứ, hiện tại mà còn trải rộng trong tương lai. Văn hoá đó là một thuộc tính

bản chất tộc loài của con người với chức năng: Giáo dục, nhận thức, định

hướng, đánh giá, xác định chuẩn mực của hành vi điều chỉnh các quan hệ

ứng xử giao tiếp. Song cốt lõi là đem lại chủ nghĩa nhân đạo, tinh thần đạo

đức.

Chủ Nghĩa Mác giải thích: Văn hoá có nguốn gốc từ lao động - hình

thức khởi đầu do lao động là phương thức của lao động là kết quả của lao

động.

Đặc điểm của văn hoá: Khi phân tích hiện tượng văn hoá còn nói tới sự

phát triển của văn hoá mang tính chất kế thừa. Trong bất cứ giai đoạn phát

triển nào của văn hoá đều có sự kế thừa văn hoá đã đạt được trong giai đoạn

trước.

Văn hoá không những có tính kế thừa mà nó còn có tính giai cấp. Trong

xã hội có giai cấp văn hoá tinh thần mang tính giai cấp, nó phụ thuộc vào lợi

ích của giai cấp nhất định, tính giai cấp đó biểu hiện ở chỗ văn hoá do ai sáng

tạo ra phản ánh và phục vụ cho giai cấp nào, những cơ sở vật chất do ai làm

chủ, tính văn hoá của giai cấp còn thể hiện ở chức năng văn hoá giáo dục, xây

dựng con người theo một tư tưởng trình tự xã hội, đạo đức, thẩm mỹ theo một

giai cấp nhất định. Văn hoá Chủ nghĩa xã hội là văn hoá của giai cấp vô sản

và nhân dân lao động có nội dung XHCN. Văn hoá còn mang tính dân tộc

20

được thể hiện trong lối sống, nếp nghĩ, tập tục, truyền thống và văn hoá nói

chung của từng dân tộc (tinh thần thượng võ trong nền TDTT nước ta) tính

dân tộc gắn liền với tính hiện đại, tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc. Toàn

bộ hoạt động của văn hoá là phục vụ con người là mục tiêu cao nhất. Như vậy

xét cho cùng xưa nay các đặc điểm của văn hoá như tính lịch sử, tính giai cấp

( trong xã hội có giai cấp ) tính dân tộc luôn gắn với nhau.

Để làm sáng tỏ khái niệm văn hoá, người ta so sánh nó với khái niệm tự

nhiên. Tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại ngoài ý thức của con

người, không là kết quả của con người nó tồn tại theo quy luật của nó. Còn

văn hoá là phương thức là kết quả của hoạt động cải tạo thế giới tự nhiên và

xã hội loài người bắt tự nhiên phải thoả mãn những nhu cầu của con người.

Trong quá trình tác động vào thế giới tự nhiên con người đã nhận thức

được mối quan hệ nhân quả đó là sự chuẩn bị trước cho lao động, sẽ mang lại

hiệu quả cao, và con người không chỉ chuẩn bị về kỹ thuật, thao tác lao

động mà còn chuẩn bị về cả mặt thể lực.

Trong quá trình tác động thế giới tự nhiên của con người đã nảy sinh

một hoạt động đặc biệt không tác động vào thế giới tự nhiên mà tác động vào

chính phần tự nhiên của con người nhằm cải tạo ngay phần tự nhiên trong con

người hoạt động đó được gọi là văn hoá thể chất hay còn gọi là TDTT. (con

người gồm 2 phần: Thực thể tự nhiên và thực thể xã hội) Hoạt động đó được

gọi là bài tập thể chất

Văn hoá thể chất là một nhân tố xã hội, tác động điều khiển sự phát

triển thể chất. Văn hoá thể chất là một hoạt động đặc biệt. Cho nên khi phân

tích TDTT như một hoạt động xuất phát từ 3 luận điểm.

Thể dục thể thao là một hoạt động. Thể dục thể thao là tổng hoà những

giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Thể dục thể thao là kết

quả của hoạt động.

21

Thể dục thể thao là một hoạt động: Đối tượng của hoạt động TDTT là

con người, là sự phát triển thể chất. Song văn hoá thể chất là một hoạt động

có cơ sở đặc thù là sự vận động tích cực hợp lý của con người. Nói cách khác

để văn hoá thể chất là những hình thức hoạt động vận động hợp lý ( hoạt động

có dầu hiệu bản chất là những tác động được tổ chức thành một hệ thống )

VHTC không phải là toàn bộ những hình thức hoạt động, mà chỉ bao gồm

những hình thức. về nguyên tắc cho phép hình thành tốt nhất những kỹ năng

kỹ xảo (KNKX) vận động cần thiết cho cuộc sống và sự phát triển các năng

lực thể chất quan trọng tối ưu trạng thái sức khoẻ và khả năng làm việc.

Thành phần cơ bản của VHTC khi xem xét như một hoạt động đó là bài tập

thể chất. Những công trình nghiên cứu sử học đã khẳng định rằng BTTC có

nguồn gốc từ thời cổ xưa bắt nguồn từ hoạt động lao động chúng đem theo

đặc điểm của lao động chân tay và mang tính thực dụng trực tiếp trong những

ngày đầu (động tác đi, chạy, nhảy, leo trèo...) trong quá trình phát triển tiếp

theo đó VHTC ngày càng có thêm các hình thức vận động mới được "thiết

kế" để đáp ứng nhu cầu giải quyết các nhiệm vụ văn hoá, giáo dục, giáo

dưỡng củng cố sức khoẻ và bài tập thể chất (BTTC) đã mất dần tính thực

dụng trực tiếp nhưng không có nghĩa là mối quan hệ VHTC và lao động bị

xoá bỏ. Theo quan điểm thực dụng thì văn hoá thể chất là một hoạt động sẽ

tồn tại mãi mãi. Vì lao động không bao giờ bị mất đi và VHTC mãi là phương

tiện chuẩn bị trước cho lao động. Với quan điểm này thì VHTC là một hoạt

động chuẩn bị kết quả của hoạt động này là trình độ chuẩn bị thể lực. Nó là cơ

sở cho việc tiếp thu một cách có hiệu quả các thao tác lao động, lao động có

năng suất cao, hoàn thiện KNKX vận động, phát triển thể chất và khả năng

làm việc cao. Ngoài lao động BTTC còn được nảy sinh từ các lễ hội, tôn giáo

( dùng các động tác có tính chất tượng trưng để biểu thị tình cảm, nỗi vui

buồn, sự sùng bái thần linh ) và yếu tố quân sự, các trò vui chơi giải trí và các

bài tập rền luyện thân thể để phòng chữa một số bài tập.

22

Thể dục thể thao là tổng hoà những giá trị vật chất và tinh thần do con

người sáng tạo ra trong xã hội để đảm bảo hiệu quả cần thiết của hoạt động

này.

Trong mỗi thời kỳ phát triển của VHTC những giá trị vật chất và tinh

thần trở thành đối tượng của hoạt động , tiếp thu sử dụng những người tham

gia hoạt động TDTT (ở đây muốn đề cập đến những phương tiện, phương

pháp tập luyện được sử rộng rãi như thể dục, thể thao, trò chơi vận động và

các BTTC khác. Trên con đường phát triển lâu dài của mình nội dung và hình

thức của VHTC dần dần được phân hoá thành các lĩnh vực khác nhau trong

đời sống xã hội vì vậy đã hình thành nên những bộ phận văn hoá thể chất có ý

nghĩa xã hội (TDTT trường học, TDTT sản xuất, đời sống, phục hồi chữa

bệnh). Hiệu lực của những bộ phận văn hoá thể chất này như tổng hợp những

phương pháp, phương tiện, các nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng, tăng cường

sức khoẻ, đồng thời ý nghĩa của từng bộ phận VHTC cũng tăng lên tương

ứng. Ngoài những giá trị kể trên còn có những giá trị quan trong khác như

kiến thức khoa học, thực dụng chuyên môn, những nguyên tắc quy tắc và

phương pháp sử dụng BTTC , những tiêu chuẩn đạo đức điều chỉnh hành vi

và thái độ của con người trong quá trình hoạt động TDTT (tuyên truyền, về

thể thao và văn hoá, các tác phẩm nghệ thuật về TDTT và các công trình thể

thao, trang thiết bị tập luyện ...)

VHTC là kết quả của hoạt động: Đó chính là những kết quả sử dụng

những giá trị vật chất và tinh thần. Trong số những kết quả này phải kể đến

trước tiên đó là trình độ chuẩn bị thể lực, mức độ hoàn thiện KNKX vận

động, thành tích thể thao và những kết quả hữu hiệu khác đối với xã hội và cá

nhân. Kết quả hiện thực bản chất nhất là số người đạt tiêu chuẩn hoàn thiện

thể chất. Hoàn thiện thể chất là mức độ hợp của trình độ chuẩn bị thể lực

chung và phát triển cân đối mức độ này phù hợp với yêu cầu của lao động và

những hoạt động khác.

23

Ngoài ra để đánh giá và khẳng định những kết quả đạt được trong hoạt

động thông qua các chỉ tiêu trên con người đã tiến hành các hoạt động thi đấu

để đánh giá trình độ uy tín của con người lúc bấy giờ.

Như vậy văn hoá thể chất chỉ tồn tại dưới hình thức hoạt động không

chỉ là những gì tồn tại bên ngoài mà còn cả sản phẩm bên trong con người thể

hiện ở KNKX và thể lực. Tất cả những vấn đề trên được khái quát trong định

nghĩa sau :

VHTC theo nghĩa hẹp: VHTC là một bộ phận hữu cơ của nền văn hoá

xã hội, nội dung đặc thù của VHTC là sử dụng hợp lý các hoạt động vận động

như một nhân tố tích cực để chuẩn bị thể lực cho cuộc sống, hợp lý hoá trạng

thái thể chất và phát triển thể chất.

VHTC theo nghĩa rộng: Là toàn bộ những thành tựu của xã hội trong sự

nghiệp sáng tạo ra những phương tiện, phương pháp và điều kiện nhằm phát

triển khả năng thích nghi thể lực cho thế hệ trẻ và người trưởng thành.

Do đó, kết cấu văn hóa của môn thể dục cổ động cũng tuân thủ theo sự

phân chia nêu trên. Trong toàn bộ hệ thống văn hóa môn thể dục cổ động, văn

hóa vật chất giữ vị trí nền tảng, văn hóa tinh thần có chức năng phương

hướng, dẫn đường. Sự dung hòa của cơ chế chức năng cùng kết cấu nội hàm

đối với hệ thống văn hóa môn thể dục cổ động sẽ thúc đẩy bộ môn này không

ngừng phát triển.

4.2. Ý nghĩa văn hóa trong tập luyện thể dục cổ động

4.2.1. Tinh thần tập thể trong tập luyện

“ Tập thể ” ý chỉ nhóm người chung một mục tiêu, một tiêu chuẩn cùng

phấn đấu trong tinh thần đoàn kết nhất trí, tương trợ lẫn nhau. “ Tinh thần ” tức

là chủ ý, ý thức. Tinh thần tập thể nói ngắn gọn tức là biểu hiện chung của ý

thức đại cục, tinh thần hợp tác và tinh thần phục vụ. Cơ sở của tinh thần tập thể

đó là tôn trọng sở thích và thành tựu cá nhân, yếu tố then chốt đó là hợp tác hiệp

đồng, mức độ cao nhất đó là sự nhất trí, đồng lòng của toàn bộ các thành viên.

24

Kỹ năng trong thể dục cổ động yêu cầu sự điêu luyện về kỹ thuật, tích lũy kinh

nghiệm dày dặn đạt đến độ phối hợp và thực hiện động tác ăn ý giữa các vận

động viên với nhau. Các tổ hợp động tác nâng người, tung- hứng, lên tháp trong

thể dục cổ động phải thông qua phối hợp, khích lệ giữa thành viên mới có thể

phát huy tốt sức mạnh của toàn đội, nổi bật tinh thần hợp tác, thể hiện tinh thần

đồng đội.

Quá trình phát triển và thành thục của một tập thể phải dựa trên tinh

thần hợp tác đồng đội, môn thể dục cổ động càng không ngoại lệ. Bởi vì vốn dĩ

phải cần đến sự tổ hợp của từ 6 - 30 vận động viên mới xây dựng nên được một

đội thể dục cổ động, hơn nữa thành công của màn biểu diễn nhất định phải dựa

trên sự phối hợp ăn ý của từng thành viên, chỉ như vậy, mới tạo nên một đội thể

dục cổ động thành thục, khỏe mạnh và đoàn kết. Tinh thần hợp tác tập thể của

thể dục cổ động không chỉ thể hiện khi biểu diễn với thi đấu, mà nó còn xuyên

suốt cả ngay trong tập luyện lẫn sinh hoạt thường ngày. Mỗi một thành viên đều

tự xây dựng cho mình quan niệm chủ nghĩa tập thể và ý thức hợp tác đoàn thể,

trong tập luyện cùng tôn trọng, cùng giúp đỡ lẫn nhau. Đồng thời, giữa huấn

luyện viên và vận động viên thể dục cổ động cũng cần có sự giao lưu, trao đổi,

xây dựng một mục tiêu chung cho toàn đội, nỗ lực phấn đấu vì mục tiêu chung

đó.

4.2.2. Tạo tinh thần cổ vũ và thi đấu trong thể thao

Đề cao tinh thần tập thể không có nghĩa là xem nhẹ cá tính. Không còn

nghi ngờ, thể dục cổ động cần ngôi sao, cũng cần cá tính. Chúng ta cần biểu

dương cá tính, khích lệ trí tưởng tượng và sự sáng tạo trong biên đạo của các

thành viên. Song, thể dục cổ động tuyệt đối không dung nạp những anh hùng

với chủ nghĩa cá nhân cực đoan, cho dù là thiên tài, cũng phải học cách phục

tùng, thân thiện và phối hợp. Với đặc điểm là môn thể thao tập thể, so với

những môn thể thao cá nhân khác, thì yêu cầu giữa các thành viên trong đội thể

dục cổ động về sự tin tưởng và đồng nhất tinh thần phải cao hơn, phối hợp về kỹ

25

thuật phải ăn ý hơn. Tinh thần đồng đội phản ánh được lợi ích cá nhân cùng

thống nhất về lợi ích tập thể, từ đó bảo đảm được “ di chuyển ” mang tính hiệu

quả cao của tập thể. Tinh thần tập thể không đòi hỏi cá nhân phải hi sinh lợi ích

của mình, ngược lại phát huy cá tính cùng ưu điểm chính là động lực giúp các

thành viên cùng hoàn thành một mục tiêu chung, trong khi đó nắm rõ ý đồ hợp

tác cùng phương thức hợp tác lại sản sinh được động lực nội tâm chính thức.

Khi biên đạo đội hình của thể dục cổ động, nếu bạn muốn nổi bật một

vài thành viên chính, thì hình thức biên soạn kiểu mũi tên đầu to là rất hợp lý,

bởi vì hiệu quả dựng hình của phương pháp này sẽ khiến người xem tập trung

chú ý vào những vận động viên hàng đầu nhiều hơn.

Trong khẩu hiệu tuyên truyền môn thể dục cổ động có đề cập đến: tinh

thần đồng đội, ủng hộ giúp đỡ lẫn nhau là cội nguồn của thành công, quyết tâm

vượt qua những khó khăn là tư tưởng vĩnh viễn không thay đổi.

4.2.3. Thể tinh thần tích cực khỏe mạnh và sôi nổi

Sôi nổi, khỏe mạnh là ấn tượng tổng thể mà thể dục cổ động mang đến

cho khán giả. Mỗi một thành viên đội thể dục cổ động đều mang trong mình

ngọn lửa đam mê. Bất luận là hình tượng bên ngoài hay trong quá trình biểu

diễn, các vận động viên đều bộc lộ ra vẻ đẹp tuổi trẻ cùng sức sống mãnh liệt.

Tinh thần sôi nổi, trẻ, khỏe mạnh này thể hiện từ trong ra ngoài, phát ra từ chính

trong những trái tim nhiệt huyết. Khi thi đấu, thành viên trong đội thể dục cổ

động chú ý chăm sóc đến từng chi tiết, từ phục trang, trang điểm đến vẻ đẹp

hình thức. Trong cuộc sống, các thành viên cũng nổi bật được phong thái thời

trang cùng vẻ đẹp khỏe khoắn. Thể dục cổ động đại diện cho vui, khỏe của tuổi

trẻ, tinh thần tiến thủ tích cực, mang đến sức thanh xuân cho thế hệ mới.

26

Chương 2

CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA THỂ DỤC CỔ ĐỘNG

1. Thành lập các đội thể dục cổ động

Khi chúng ta xem những màn cổ vũ đặc sắc, khích lệ cho đội được ủng

hộ trên sân khi chúng ta thấy được tinh thần hợp tác, đoàn kết đồng lòng, hoàn

thành những động tác vũ đạo và kỹ thuật của các thành viên thể dục cổ động lúc

tham gia thi đấu; khi chúng ta bị rung động bởi khẩu hiệu vang dội của những

thành viên trong đội; hay khi chúng ta bị cảm hóa bởi bài biểu diễn cùng tinh

thần quyết thắng của vận động viên, ai ai cũng đều hi vọng sẽ có một đội thể

dục cổ động của riêng cá nhân, cổ vũ tinh thần cho chính đội của mình mỗi lần

tham gia thi đấu.

Song, thành lập và tổ chức đội thể dục cổ động không hề đơn giản như

chúng ta tưởng tượng, nó là một qui trình hệ thống vô cùng phức tạp. Thành lập

một đội thể dục cổ động đòi hỏi phải tiến hành hàng loạt công việc chuẩn bị cực

kỳ vất vả, nhưng với tư cách là một phần tử của tổ chức, những thành công,

kinh nhiệm mà tổ chức mang lại sẽ khiến bạn cảm thấy dù vất vả đến đâu cũng

vẫn rất xứng đáng

1.1. Thành lập đội và tổ chức quản lý

Trước khi thành lập đội thể dục cổ động, bạn cần khảo sát và xem xét

rất nhiều vấn đề mang tính thực tế. Muốn thành lập cơ cấu quản lý tổ chức

một đội thể dục cổ động, cần bố trí phù hợp các vị trí lãnh đạo chính, hỗ trợ

lãnh đạo, bí thư, nhân viên tài vụ. Trong đó, lãnh đạo chính có nhiệm vụ đề

xuất phương hướng mang tầm vĩ mô đối với sự phát triển, quá trình tổ chức

cũng như thành lập của đội thể dục cổ động. Hỗ trợ lãnh đạo phụ trách xử lý

các mối quan hệ bên ngoài trong suốt quá trình thành lập và tổ chức đội, đồng

thời chấp hành thực thi mọi đối sách, phương án mà lãnh đạo chính đưa ra. Bí

thư đảm nhận trọng trách xử lý các công việc nội bộ liên quan đến chế độ.

27

Nhân viên tài chính làm nhiệm vụ xem xét các nguồn kinh phí, ghi chép tình

hình thu, chi của đội.

1.2. Lựa chọn tên, màu sắc đặc trưng

Sau khi thành lập đội thể dục cổ động, chúng ta có thể thông qua thảo

luận tập thể xác định tên gọi cho đội. Lưu ý, tên gọi có ý nghĩa vô cùng quan

trọng đội với hình tượng bên ngoài của toàn đội. Tên gọi yêu cầu thể hiện rõ

nét đặc điểm biểu diễn cùng diện mạo tinh thần của đội, phải đạt được hiệu

quả “ nghe đến tên như nhìn thấy đội”. Trong quá trình đặt tên cho đội cũng

cần chú ý đến bối cảnh văn hóa của trường cũng như nội hàm văn hóa mà đội

cần biểu đạt, cố gắng dung hòa kết hợp ý nghĩa văn hóa của cả hai nhân tố

trên, từ đó đạt được hiệu quả như mong đợi.

Khi đã đặt được tên, công tác tiếp theo là lựa chọn màu sắc đại diện

cho đội. Màu đại diện phải bao hàm phong cách biểu diễn và quan điểm động

tác chủ đạo của toàn đội. Ví dụ: Màu đỏ có đặc điểm thị giác cực kỳ bắt mắt,

quyết liệt, vì vậy nếu đội nào lựa chọn màu đỏ làm tông chủ đạo, thì chắc

chắn họ sẽ muốn truyền tải đến cho người xem thông điệp của lòng nhiệt

huyết, phấn khích, sự tươi trẻ, đầy sức sống. Nếu lựa chọn sắc xanh làm màu

đại diện, đội đó muốn đưa hình ảnh trong sáng, nền nã, thanh nhã, cởi mở đến

với khán giả. Nếu chọn màu cam làm tông đặc trưng, ý nghĩa muốn truyền đạt

của đội đó là sự rộn rã, niềm hy vọng cùng cảm giác bội thu, màu sắc càng

nổi trội, ấn tượng càng đậm nét. Những màu khác nhau mang lại hàm ý khác

nhau, bao quát sắc màu tình cảm cũng không giống nhau, tương tự khi chọn

lựa màu sắc đặc trưng cho đội, cũng cần suy xét ý đồ của chúng ta muốn để

lại ấn tượng như thế nào trong lòng khán giả, ấn tượng này cần phải đồng nhất

với cảm giác tổng thể của toàn đội

1.3. Định hướng khả năng phát triển

Sau khi lựa chọn màu sắc cho đội, cần xác định tiền đồ và phương

hướng phát triển của đội, tức là muốn trở thành đội thi đấu chuyên nghiệp hay

28

chỉ muốn là đội nghiệp dư thông thường, từ đó đưa ra tiêu chuẩn đối với độ

tuổi, số người và giới tính. Khi đã hoạch định xong tiêu chí của đội mà chúng

ta muốn xây dựng, bước tiếp theo đó là tuyển chọn huấn luyện viên cùng vận

động viên. Thông qua phương tiện truyền thông hiện đại, đưa thông tin tuyển

chọn đến với đông đảo quần chúng. Trước khi bước vào giai đoạn tuyển chọn

chính thức, có thể mở một lớp bồi dưỡng qui mô nhỏ, với mục đích giúp mọi

người có nhận thức khái quát về hướng phát triển và tình hình sơ bộ của đội

thể dục cổ động sẽ thành lập. Sau đó, xác định thời gian tuyển chọn chính

thức, mời chuyên gia cùng ngành cùng tham gia thực hiện. Cuối cùng, tổ chức

giải thi đấu tuyển chọn vận động viên thể dục cổ động, lựa chọn thành viên và

huấn luyện viên cho đội. Khi tuyển chọn kết thúc, tiến hành các thủ tục liên

quan cần có cho vận động viên như kiểm tra sức khỏe, kí kết hợp đồng, bảo

hiểm... Ngoài ra, quản lý của đội phải chịu trách nhiệm liên hệ sân tập cũng

như bảo đảm các vấn đề an toàn về sân bãi.

2. Công tác tổ chức và tập luyện thể dục cổ động

Sau khi thành lập đội, công tác quản lý tương ứng cũng vô cùng quan

trọng. Công tác giáo dục quản lý là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên và căn

bản của đội thể thao. Quản lý tạo nên thành tích, tạo nhân tài trở thành quan

điểm chung của nhiều người làm công tác lãnh đạo. Công tác quản lý đội thể

dục cổ động chủ yếu bao gồm quản lý đối với huấn luyện viên và vận động

viên, xác định mục tiêu của đội, từ đó căn cứ vào mục tiêu thiết lập kế hoạch

ngắn kỳ hoặc dài kỳ cho đội....

2.1. Xây dựng quy chế

Xây dựng và hoàn thiện các chế độ qui chế, qui định cho đội, ví dụ:

“điều lệ quản lý thành viên đội thể dục cổ động”, “qui tắc chung đối với thành

viên đội thể dục cổ động”, “qui tắc chung đối với đội trưởng đội thể dục cổ

động”, “điều lệ quản lý huấn luyện viên đội thể dục cổ động”, ... Nghiêm

29

chỉnh chấp hành các chế độ, qui đinh đã đặt ra, xử phạt nghiêm khắc đối với

mọi trường hợp vi phạm

2.2. Xác định mục tiêu

Mỗi một đội tuyển đều cần xác định rõ ràng mục tiêu phấn đấu, đồng

thời phải có yêu cầu cụ thể đối với mỗi thành viên trong đội. Mục tiêu xây

dựng cho đội vừa phải phù hợp với tình hình thực tế, lại vừa phù hợp với đặc

điểm cá thể của từng thành viên. Nếu mục tiêu xác định mơ hồ lại không rõ

ràng, không phù hợp với tình hình thực tế, thì các thành viên sẽ rất khó gặt hái

được thành tích, nhiều cá thể sẽ xuất hiện trạng thái tâm lý khác nhau. Nếu

mục tiêu của đội đạt được theo kế hoạch đã định, thì tự khắc tính tự tin của

các thành viên sẽ nâng cao hơn, sẽ cùng nỗ lực phấn đấu vì một mục tiêu

chung, phát huy hiệu quả một cách tối đa. Như vậy, dễ dàng nhận thấy xây

dựng mục tiêu đúng đắn cực kỳ quan trọng, trách nhiệm của lãnh đạo cũng

như huấn luyện viên là căn cứ vào nhiệm vụ cùng tình hình thực tế của đội,

xác định mục tiêu, dài, trung và ngắn kỳ cho vận động viên, đồng thời khích

lệ vận động viên nỗ lực phấn đấu để cùng hoàn thành mục tiêu đã định.

2.3. Giáo dục tư tưởng

Làm tốt công tác tư tưởng cho vận động viên mang lại hiệu quả nhất

định đối với nâng cao thành tích thi đấu và thành tích thể thao. Ví dụ, tổ chức

toàn đội tham gia tích cực những hoạt động giao lưu, giải thi đấu giao hữu,

tăng tình hữu nghị giữa các thành viên trong đội, tăng cảm giác vinh dự khi

toàn đội gặt hái thành công.

2.4. Giải quyết các vấn đề thực tế

Muốn làm tốt công tác giáo dục quản lý của đội, nhất định cần tập

trung giải quyết các vấn đề thực tế như: kịp thời cải tiến và mua mới trang

thiết bị sân bãi, cải thiện điều kiện tập luyện, chuẩn bị đầy đủ nhằm nâng cao

thành tích. Đối với giáo dục quản lý đội còn cần chú trọng các vấn đề thực tế

về công tác huấn luyện, tập luyện cũng như sinh hoạt thường ngày của huấn

30

luyện viên, vận động viên, từ đó điều chỉnh hợp lý tính tích cực của toàn đội.

Với vai trò đảm nhận trực tiếp công tác huấn luyện, huấn luyện viên phải

thường xuyên tìm hiểu, trao đổi và nắm bắt kịp thời nhu cầu, suy nghĩ cùng

hành động của vận động viên, cố gắng đáp ứng hoặc cơ bản đáp ứng yêu cầu

vận động viên đưa ra trong điều kiện cho phép, điều này có tác dụng vô cùng

quan trọng đối với vấn đề phát huy hiệu suất công việc của toàn đội.

3. Lựa chọn khẩu hiệu

3.1. Khái niệm

Khẩu hiệu là một trong những kỹ thuật cơ bản nhất của thể dục cổ

động kỹ xảo, cũng là một trong những đặc trưng cơ bản của thể dục cổ động

kỹ xảo, khẩu hiệu là nhân tố cấu thành quan trọng của nhóm động tác thực

hiện theo bài, có thể đặt ở trước, giữa hoặc sau của mỗi bài, thông thường

phần nhiều đặt khẩu hiệu ở giữa các bài. Thời gian của nhóm động tác theo

bài là 2 phút 30 giây, trước và sau có 10 giây mở (du di, không tính), đối với

thể dục cổ động kỹ xảo, yêu cầu phải thiết kế một nhóm khẩu hiệu kéo dài 30

giây trong bài thực hiện, cho phép trước và sau có 5 giây mở. Yêu cầu cơ bản

của khẩu hiệu như sau:

Thể hiện chủ đề: Khẩu hiệu là thành phần quan trọng của nhóm động

tác theo bài, yêu cầu phải thể hiện được tinh thần dũng cảm, tích cực tiến lên

của toàn đội.

Lựa chọn khẩu hiệu: Tên của đội, linh vật, trường học, khu vực,

quốc gia hoặc những khẩu ngữ ngắn gọn, xúc tích, dễ để lại ấn tượng cho

người xem đều có thể được chọn làm khẩu hiệu. Khẩu hiệu phải có hàm ý rõ

ràng, tối kị lựa chọn khẩu hiệu có phát âm phức tạp, đồng thời tránh những

trường hợp dùng từ khó hiểu, tối nghĩa, dễ nảy sinh kỳ thị.

Hô khẩu hiệu: Trước khi hô khẩu hiệu, cần hít sâu, thả lỏng yết hầu,

khi dung tích sống phổi ở vào giá trị cực đại, thực hiện phát khẩu lệnh, đồng

31

thời khống chế lưu động của khí, bảo đảm âm thanh lưu loát, mang lại hiệu

quả tối ưu nhất.

Hiệu quả của khẩu hiệu: Khẩu hiệu cần đơn giản, có sức sống, âm

thanh vang, rõ, cảm hóa được người xem bằng niềm nhiệt huyết.

3.2. Nội dung

Câu hoặc từ của khẩu hiệu xuất phát từ nội dung thi đấu, hoặc từ trường

học, hay từ chính đội tham gia thi đấu. Câu, từ của khẩu hiệu phải tạo được sức

hấp dẫn, để lại ấn tượng cho khán giả.

Xuất xứ: Khẩu hiệu có nguồn gốc từ tên của trường, của đội hoặc từ

hàm ý của các linh vật, biểu tượng, công trình kiến trúc đại diện...

Màu sắc: Mỗi một trường đều có sắc màu đại diện hoặc tượng trưng

riêng, đội thể dục cổ động cũng tương tự, có thể lựa chọn màu sắc riêng cho

mình.

Từ ngữ: Sử dụng những từ ngữ tích cực, mang ý nghĩa khích lệ, cổ vũ

tinh thần cao.

Từ ngữ đặc biệt: Là những khẩu hiệu chuyên môn thiết kế dành riêng

cho các trận đấu, đa phần phục vụ cho mục đích tính chất đặc thù của giải hoặc

vị trí của đội chủ nhà.

3.3. Nguyên tắc hô khẩu hiệu

Tính đồng bộ: Do âm thanh, giọng nói của mỗi người to nhỏ khác

nhau, nên cần lưu ý phong cách của cá nhân phải thống nhất, đồng bộ với phong

cách toàn đội, từ đó mới mang về hiệu quả âm thanh như mong muốn.

Tính hiệu quả: Khẩu hiệu cần được thiết kế sao cho trọng tài và khán

giả đều nghe rất rõ ràng, đơn giản nhưng có lực, thuận miệng, lưu lại ấn tượng,

tinh thần tích cực cho người xem. Đối với tiếng Việt cũng như tiếng Anh, có

một số từ rất khó đạt được hiệu quả phát ra tiếng vang, do đó cần tránh lựa

chọn sử dụng.

32

Tính thời cơ: Cổ vũ cũng cần nắm bắt thời cơ hợp lý, bên cạnh nhiệm

vụ nổi bật tinh thần đoàn kết của toàn đội, nó còn có tác dụng cổ động, khích lệ

tinh thần từng thành viên trong đội.

Tính hợp lý: Sử dụng biểu ngữ hoặc micro truyền tải thông tin của

khẩu hiệu, mang bầu không khí sôi động đấy nhiệt huyết đến với người xem.

Tính nhịp điệu: Cần nổi bật sự nhịp nhàng của tiết tấu cùng âm thanh.

3.4. Giai điệu hô khẩu hiệu

Ba vấn đề chính trong giai điệu của khẩu hiệu đó là phát âm rõ ràng, âm

điệu vừa phải và kiểm soát âm lượng. Một khi nắm vững được những yếu tố

này, sẽ giúp ích trong việc bảo vệ dây thanh quản cho thành viên đội cổ động, từ

đó phát huy được uy lực tinh thần cùng trạng thái trào khí sôi nổi.

Phát âm rõ ràng: Thành viên đội cổ động cần phát âm rõ ràng từng từ

trong khẩu hiệu, cộng thêm động tác thích hợp mới thể hiện được hết tinh túy

của bộ môn thể dục cổ động này. Cổ vũ với âm thanh rõ ràng, nổi bật trọng

điểm, có thể khiến người xem càng hiểu rõ hơn hàm ý của động tác đi kèm với

tiếng hô. Ví dụ, khi cổ vũ thành viên đội cổ động sẽ hô “ cố lên, cố lên, fight”, ở

sau mỗi từ cần thêm vào động tác minh họa

Âm điệu vừa phải: Âm điệu ý chỉ chất lượng, đặc tính của âm thanh.

Âm điệu thấp là tốt nhất, thành viên đội cổ động cần hạ thấp âm thanh của mình

một cách tự nhiên, âm thanh được phát ra phải tự nhiên và không gây ảnh

hưởng lẫn nhau. Nếu khi cổ vũ, thành viên trong đội cố ý phát ra âm cao, thì sẽ

rất dễ khiến người nghe chói tai. Khi thành viên trong đội hưng phấn, âm thanh

của họ sẽ tự biến thành âm cao, cho nên khi làm nhiệm vụ, bắt buộc các thành

viên phải tự bảo đảm âm điệu sao cho tự nhiên nhất, khống chế âm thanh một

cách có ý thức.

Biến hóa âm điệu hợp lý có thể thu hút và duy trì sự chú ý của khán giả.

Khi cỗ vũ, các thành viên phải nhiệt tình và hiểu rõ mình đang nói gì. Âm thanh

đơn điệu, khô khan rất khó lôi cuốn và khuấy động người xem. Sử dụng âm

33

thanh thích hợp khi cổ vũ, vừa thu hút được sự chú ý của khán giả, lại vừa có

thể khích lệ người xem cùng tham gia cổ động.

Kiểm soát âm lượng: Âm lượng là khả năng phát ra âm thanh. Âm

thanh của thành viện đội cổ động phải là âm lớn nhưng có kiểm soát, âm thanh

thông qua hít thở sâu được phát ra từ cơ hoành sẽ đạt được mục đích nêu trên.

Khi phát âm, tốt nhất nên dùng âm điệu thấp và âm lượng bình thường, nếu cần

âm lượng lớn để truyền âm thanh, phải tránh làm sao không được để nó kết hợp

với tiếng hô tạo thành tạp âm.

3.5. Phương pháp tập luyện

Bảo vệ cổ họng:

- Khi thi đấu, thực hiện khởi động với âm thanh đồng thời tránh mất

bình tĩnh.

- Hít sâu, khi cổ vũ từ từ thở ra.

- Sử dụng âm điệu thấp, âm thanh phải tự nhiên

- Khi cổ vũ thả lỏng tự nhiên cơ bắp vùng đầu cổ và vùng mặt, khiến

dưỡng khí vào phổi được nhiều hơn. Muốn thả lỏng hoàn toàn các cơ vùng đầu

cổ và mặt, có thể sử dụng phương pháp nói chuyện nhưng không phát ra tiếng

để đạt được hiệu quả thả lỏng nêu trên.

- Sử dụng biểu ngữ giúp người xem hiểu rõ được từ ngữ được hô khi cổ

động.

- Sử dụng loa phóng thanh để khuếch đại âm thanh, giúp bảo vệ thanh

quản

- Tránh cổ vũ khi đã bị khan tiếng, như vậy càng gây tổn thương hơn

cho cổ họng.

- Tránh cổ vũ khi đã bị cảm, vì nó sẽ làm tăng nguy cơ tổn thương thanh

quản.

- Khi nói chuyện, dùng tốc độ vừa phải và giọng nói nhẹ giúp bảo vệ cổ

họng.

34

- Thông qua bổ sung nước để duy trì độ ẩm cho thanh quản.

- Không uống cà phê và thức uống có nồng độ cồn, nhằm phòng tránh

tình trạng mất nước cho cổ họng.

- Không ăn những thức ăn có nguồn gốc từ sữa, nhằm tránh tình trạng

hình thành lớp màng mỏng và tạo dịch đờm trong cổ họng.

Tập luyện âm thanh: Mục đích: Tập sử dụng cơ hoành, tăng dung

lượng của âm thanh.

Bài tập 1:

- Nằm ngửa, co đầu gối.

- Một tay đặt trên vùng bụng, tay kia đặt trên vùng ngực.

- Hít thở bằng mũi, khiến vùng bụng phình lên, giữ yên vùng ngực, dồn

chú ý vào việc hít thở

- Khi hít vào, thắt chặt vùng bụng, giữ yên vùng ngực

Bài tập 2:

- Nằm ngửa, hai tay buông dọc thân người

- Nhẹ nhàng nhấc cao lưỡi, hít thở bằng miệng

- Vùng bụng phình lên, nhưng phải giữ yên các phần khác trên cơ thể.

- Khi thở ra phát tiếng “ a ”

- Lặp lại 4 lần.

Bài tập 3:

- Thực hiện thở dốc nhanh, liên tục.

- Vận động tốc độ vùng bụng, nhưng các vùng khác phải giữ yên, đặt

tay trên bụng để cảm nhận hình thức vận động của nó.

- Nghỉ giữa quãng sau khi lặp lại 4 lần.

4. Âm nhạc

4.1. Vai trò của âm nhạc trong thể dục cổ động

Âm nhạc là bộ phận cấu thành quan trọng của thể dục cổ động, có tác

dụng hoạt náo bầu không khí và truyền cảm hứng đến cho người xem. Âm nhạc

35

là nghệ thuật của âm thanh, nó là hình thức nghệ thuật hoàn chỉnh, mang kết

cấu độc đáo, hệ thống và hoàn chỉnh cùng cách thức biểu đạt,phương pháp hoàn

mĩ. Động tác của thể dục cổ động được thể hiện trên nền nhạc sẽ càng thêm sức

sống và tính nghệ thuật. Nếu nói động tác là nhân tố cấu thành động lực thi đấu

của thể dục cổ động, thì âm nhạc lại chính là linh hồn của thể dục cổ động, đồng

thời khiến xúc động từ nội tâm được biểu hiện ra bên ngoài.

Tốc độ và tiết tấu của âm nhạc khống chế nghiêm ngặt tốc độ và tiết tấu

của động tác. Vì vậy, trên một phương diện nào đó, nó sẽ khống chế cả cường

độ vận động của bộ môn này. Nếu chỉ xét đến tiết tấu và tốc độ, thời gian không

thay đổi, khi tiết tấu càng nhanh, động tác càng khó, thì cường độ cũng sẽ càng

lớn. Ngược lại, thì cường độ sẽ càng nhỏ.

Phong cách âm nhạc chỉ đạo phong cách động tác, khống chế phong

cách động tác. Phong cách âm nhạc chịu ảnh hưởng bởi thay đổi của thời đại, vị

trí địa lý, màu sắc dân tộc, môi trường, tác giả cùng nhiều nhân tố khác. Do đó,

chúng ta nên tôn trọng phong cách âm nhạc. Khi âm nhạc hài hòa cùng động

tác, âm nhạc mới phát huy được tác dụng nâng đỡ động tác.

Âm nhạc biến tấu mạnh hay nhẹ là điều kiện tồn tại của sức mạnh động

tác, giúp sản sinh liên hệ về kết cấu giữa động tác và âm nhạc với nhau. Thay

đổi của làn điệu và tiết tấu cộng thêm cao trào của động tác sẽ hình thành nên

cảm giác nhịp, phách cho người xem, tăng vẻ đẹp về phách điệu cho môn thể

dục cổ động, tạo giá trị thẩm mỹ cho bộ môn này.

Âm nhạc có tác dụng khống chế động tác và kích thích hưng phấn của tế

bào não. Vì vậy, tập luyện và thi đấu dưới nền nhạc có thể trì hoãn quá trình

xuất hiện của mệt mỏi. Tương tự, âm nhạc cũng có thể ảnh hưởng đến tâm trạng

con người, đây cũng là một trong những nhân tố khiến thể dục cổ động đa phần

ưu tiên lựa chọn các giai điệu có tiết tấu nhanh, vui vẻ, náo nhiệt làm nền nhạc

chính, âm nhạc vui nhộn càng dễ tạo hưng phấn cho người xem

36

4.2. Hiểu biết cơ bản về âm nhạc

4.2. 1. Giai điệu âm nhạc

Giai điệu được cấu thành bởi cao, thấp, dài, ngắn, mạnh, nhẹ của âm, hệ

thống các nhân tố này lại kết hợp với ý đồ của tác giả sẽ tạo ra hàng loạt các giai

điệu khác nhau. Giai điệu là một trong những nguyên tố chính giúp truyền tải

tâm tư tình cảm của tác phẩm âm nhạc.

Giai điệu có tính phương hướng, phương hướng của nó chủ yếu dựa

trên 2 yếu tố cao và thấp để phân biệt. Phương hướng của giai điệu chủ yếu chia

thành trên và dưới, trong đó phía trên ý chỉ âm đi từ thấp lên cao, ngược lại là

phía dưới. Hình thức xoay vòng ý chỉ giai điệu lấy một âm hoặc một khu vực

âm nhất định làm trục chính và xuất hiện liên tục, hoặc xoay vòng liên tục tại

một khu vực nhất định. Sóng ý chỉ âm duy trì ở một độ cao nhất định. Sóng là

đường giai điệu của âm từ thấp lên cao và lại từ cao xuống thấp.

Âm cao được lựa chọn trong âm nhạc là sự sắp xếp của các âm cao khác

nhau từ thấp lên cao, chúng ta sẽ đem các âm này chia thành những âm vực

khác nhau. Âm vực thấp có âm thanh trầm, dày; âm vực trung có âm thanh ấm;

âm vực cao có âm thanh vang. Do đó, giai điệu bản thân sẽ tự nảy sinh ra những

tương phản khác nhau, cộng thêm giai điệu lại tận dụng những thay đổi dài,

ngắn, mạnh, yếu của các âm không giống nhau, hình thành nên biến hóa lên

xuống từ thấp trầm đến cao vang, từ dồn dập đến chậm rãi, từ yếu đến mạnh.

Chúng ta có thể tham khảo phong cách, điều kiện phát triển, tiết tấu mà giai

điệu cung cấp để lựa chọn phong cách cho động tác, biến hóa của cường độ và

liên kết giữa những động tác với nhau. Ví dụ: Với phong cách nhạc jazz mang

lại, chúng ta có thể lựa chọn các đề tài liên quan đến giai cấp quí tộc, khi đó

động tác thực hiện sẽ tăng nhanh cùng với tốc độ thay đổi của âm nhạc.

4.2. 2. Cấu trúc âm nhạc

Âm nhạc cũng giống như kết cấu câu của từ, nhịp điệu cùng các nhân tố

tổ hợp khác nhất định phải phù hợp với qui luật rõ ràng, rành mạch.

37

Câu trong âm nhạc được tổ hợp từ những nốt nhạc, thường thì 2 nốt

nhạc sẽ tạo thành quãng, 2 quãng sẽ có thể tạo nhạc tiết, tức là 4 nốt.

Trong thực tiễn môn thể dục cổ động, sai lầm trong phá vỡ nhạc tiết

thường có 2 dạng: Thứ nhất, âm nhạc hoàn chỉnh, nhưng HLV hoặc VĐV lại

không nghe ra, khiến phần mở đầu của âm nhạc tách rời với phần mở đầu của

động tác; thứ hai, trong quá trình cắt nhạc làm phá vỡ câu nhạc hoàn chỉnh,

khiến tổ hợp động tác hoàn chỉnh vốn có rời rạc so với âm nhạc. Điều này dễ

gây nên cảm nhạc sai hoặc động tác không hài hòa ở người tập, ảnh hưởng đến

hoàn thành động tác thể dục cổ động

4.2. 3. Tiết tấu và phách

Tiết tấu là sự nối tiếp có tổ chức những âm có trường độ giống nhau

hoặc khác nhau.

Phách là những phần nhỏ hơn đều nhau về thời gian trong mỗi nhịp.

Hình thức tổ hợp đơn giản nhất của phách trong âm nhạc là phách đơn, phách

đôi, phách ba. Tổ hợp của các loại phách khác đều được biến hóa dựa trên ba

phách cơ bản này, được gọi là phách hỗn hợp và phách phức. Ví dụ phách 4 là

do 2 phách 2 hợp thành.

Phách có tiết tấu nhất định sẽ có mối quan hệ với một chủ đề nhất định,

ví dụ: thể dục cổ động thường sử dụng phách đơn của nhạc Disco, nhưng khi

vào bài, sẽ sử dụng phách đôi để thực hiện.

Tiết tấu của động tác thể dục cổ động nhất định phải tuân theo tiết tấu

của âm thanh, đặc biệt đối với vấn đề trong xử lý phách chùng.

4.2. 4. Hòa âm

Hòa âm là sự kết hợp đồng thời có qui luật của 3 âm trở lên. Hình thức

kết hợp khác nhau của hòa âm cùng hiệu quả âm thanh mang lại tác dụng đối

chiều về các mặt sáng, tối, đậm, nhạt trong âm nhạc, giống như vai trò của các

màu sắc trong hội họa. Hòa âm được tạo ra bởi hình thức kết hợp giữa các âm

đồng nhất và không đồng nhất.

38

4.2. 5. Điều chỉnh nhịp điệu

Điều chỉnh nhịp điệu là cách qui nạp hệ thống âm có tính đại diện tiêu

biểu từ các âm khác nhau được dùng trong phần tiết tấu và hòa âm của tác phẩm

âm nhạc, các tập hợp âm này cần duy trì được mối quan hệ vốn có và cùng

hướng về một trung tâm nào đó. Điều chỉnh có âm chủ đạo nhất, được gọi là

điều tính. Điều chỉnh và điều tính luôn tồn tại trong âm nhạc dưới hình thức

thay đổi và biến chuyển cho nhau. Cách đối chiếu của sự thay đổi, chuyển hóa

này là một trong những biện pháp hữu hiệu thể hiện được tính đa dạng trong

không khí, tình cảm, hình tượng của âm nhạc.

4.2. 6. Kết cấu âm nhạc

Một bản nhạc không chỉ dựa vào nhịp điệu và hòa âm để truyền tải nội

dung. Do âm nhạc mà chúng ta sử dụng thường là các giai điệu đa âm, mỗi một

âm của loại nhạc này đều có phương hướng khác nhau, nên giữa chúng tồn tại

quan hệ hỗ trợ cho nhau, từ đó hình thành nên kết cấu của âm nhạc.

Kết cấu này thường chia thành 3 dạng là: Thể điều chính, thể đa điều và

thể hỗn hợp.

- Thể điều chính: Tức là lấy một tiết tấu làm chủ, các phần âm khác

được tạo thành do trường âm hoặc hòa âm kết hợp mà thành

- Thể đa điều: Là sự kết hợp của 2 hoặc 2 tiết tấu trở lên cùng quan trọng

như nhau. Kết hợp của 2 tiết tấu khác nhau được gọi là đa điều đối chiếu, còn

cùng một tiết tấu nhưng lần lượt xuất hiện trước sau trong khoảng thời gian nhất

định gọi là đa điều mô phỏng.

- Thể hỗn hợp: Là nhiều kết cấu cùng xuất hiện đồng thời.

4.2. 7. Các hình thức biểu đạt khác của âm nhạc

Ngoài những hình thức mà chúng ta đã nêu trên, âm nhạc còn sử dụng

một số hình thức khác để nhấn mạnh sự biểu đạt. Ví dụ như biến hóa về tốc độ,

thay đổi về lực, thay đổi âm vực, thay đổi hình thức diễn tấu, thay đổi trong biểu

đạt tình cảm, so sánh đối chiếu....

39

Sự mới mẻ của các hình thức biểu đạt trên đây ảnh hưởng không nhỏ

đến hình tượng của tác phẩm âm nhạc.

Hình thức biểu đạt của âm nhạc được vận dụng đa dạng trong tác phẩm.

Nắm bắt và hiểu rõ các hình thức này chúng ta mới đưa ra được những phân

tích rõ nét đối với tác phẩm âm nhạc sẽ sử dụng, đồng thời có thể kết hợp nhuần

nhuyễn âm nhạc với động tác, khiến động tác càng tăng thêm sức sống.

5. Đội hình trong thể dục cổ động.

Đội hình được coi là xương sống của bài thi. Đội hình đa dạng sẽ làm

cho bài thi sống động hơn .

Đội hình có nhiều loại (dàn đều trên thảm, thu hẹp ở tâm hoặc 1 khu

vực, chéo sân, thành 2 – 3 cụm trên thảm ...). Việc lựa chọn, sắp xếp biến đổi

các đội hình là sự sáng tạo của người biên soạn với ý đồ rõ ràng

Đội hình khi kết hợp với động tác cần suy nghĩ sao cho phù hợp.

Hình thức di chuyển về đội hình .

Phương án di chuyển cũng cần đi sâu và sáng tạo. Khi nào thì dùng

cách di chuyển nhanh - gần nhất đến vị trí mới, khi nào thì dùng cách hình

thành dần.

Trên thảm Đội hình đang rộng nhất, nhanh chóng thu hẹp ở tâm sân sẽ

dễ tạo ấn tượng với người xem

Một số đội hình di chuyển tham khảo.

Đội hình 1 Đội hình 2 Đội hình 3

Đội hình 5 Đội hình 6

Đội hình 4

Số lượng người

X X

X

X

X

X

3

X

X

X

X

X X

X X X

X

X

X

X

X X

X

X

4

X X

X X

X X

X

X X X X

X X

X X

X X

X

X

40

X

X X

X X

X

X

X X

X

5

X X X

X

X X

X

X

X X

X X

X X

X X

X

X X

X

X X

X X

X X

X

X X

X X X

6

X X

X X

X X X

X X

X X

X X

X X X

X

X X

X

X X

X X

X X

X X

X

X X

X X

X X

X

X X

X X X

X X X

7

X X

X X X X

X X

X X

X X

X

X

X X

X X

X X

X X

X

X

X

X X

X X

X X

X X

X X

X X

X X X X

X X

8

X X

X X

X X

X X

X X

X X

X X

X X

X X

XX

X X

X

X

X X

X

X X

X X

X X

X X

X X

X X

X X X X

X X X

X X

X X X X X

9

X X

X X

X X X

X X X

X

X X X X

X X

X X

X X

X X X

X X

X

X

X X X

X X

X X

X X X

X X X X

X X X X

X X

X X

X X

X X

10

X X X

X X

X X

X X

X X X

X X X

X X

X X X X

X X

X X

X X

X X

X

X

X X

X

X X

X X

X X

X X

X X X

X X

X X

11

X X X

X X

X X

X X

X X

X X

X

X X

X

X

41

X X X

X X X X X

X X X

X X X X

.

X X

X X X

X X X X X X

X X

X X X X

X

X

X X

X X X X

X X

X X

X X

X X

X X

X X

X X

X X X X

X X

X X

X X

X X

X X

X

12

X X

X X

X X

X X X

X X X X

X X

X X

X X X X

X X

X X X

X X X X

X X

X X

X X

X X X X

X X X X

X X X X

X X X X

X X X

X X X X

X X X X

X X X X

X X X X

X X X X

X X X

X X X X

X X

X X

X X

X X X X

X X X X

X X X

X X X X

16

X X

X X

X X X

X X

X X X

X X

X X

X X X X

X X

X X X X

X X

X

X X X X

X X X X

X X X X

X X

X X X X

X X X X X

X X X X

X X X X

X X X X

X X X X

X X X X

X X X X X

42

X X X

X X X X X X

X X X X

X X X X

X X X X X X

X X X

X X X X

X X X X

X X X X

X X X X

X X X

X X X X

X X X X

X X

X X X X

X

X X X

X X X X

X X

X X

X X X X

X X X X

X X X

X X X X

X X X

X X

X X X

X X

X X X

X X

X X X

X X X X

X X

X X X X

X X X

X

X X

X X X X

X X

X X X X

X X

X X X X

X X X X

X X X X

20

X X X X

X X X X

X X X X X

X X X X

X X X X

X X X X

X X

X X

X X X X X

X X

X X X X X X

X X X X X X

X X X X X X

X X X X X

X X X X

X X X X X

X X X X

X X X X

X X X X

X X

X X X

X X X

X X

X X

X X

X

X

X X X X

X X X X

X X X X X

X X X X X

X X X X X

X X X X X

X X X X

X X X X X X

X X X X X

X X X X X

X X X X X

X X X X X

X X

43

Chương 3

CÁC KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CỦA THỂ DỤC CỔ ĐỘNG

1. Đặc trưng kỹ thuật của động tác cơ bản

1.1. Hoạt động bên ngoài của cơ thể

Thân người: Các thành viên đội cổ động trong quá trình thực hiện

động tác cần giữ cho thân người thẳng đứng, đầu hơi ngẩng, đốt sống cổ, ngực

và lưng nằm trên một đường thẳng, tư thái cơ thể phải toát lên được sức sống

khỏe, diện mạo tinh thần tích cực, tự tin.

Động tác tay: Động tác của tay chủ yếu lấy khớp vai làm trục chính, ví

dụ chúng ta thường sử dụng các động tác điển hình như tay hình chữ “ K” hoặc

chữ “V”. Khi duỗi, cánh tay nên thẳng, khi gập nên tạo thành góc nhất định, bàn

tay đa phần là nắm hờ. Yêu cầu thực hiện động tác phải rõ ràng, có lực, tức là

phải hoàn thành động tác trong thời gian ngắn nhất để chuẩn bị cho động tác kế

tiếp, quá trình chuyển tiếp sang động tác mới không nên xuất hiện những động

tác dư thừa, khi tay đã đạt đến vị trí qui định của động tác, không nên xuất hiện

hiện tượng tay lắc lư hoặc đu đưa, đồng thời động tác của tay nên ở vào diện

mặt phẳng phía trước cơ thể. Động tác của tay nên dựa trên nền tảng là di

chuyển tốc độ, định vị chính xác, lấy các ngón tay làm điểm phát lực, lựa chọn

quĩ đạo ngắn nhất để chuẩn bị sẵn sàng cho động tác kế tiếp

Bước di chuyển: Thể dục cổ động yêu cầu VĐV phải di chuyển đến vị

trí chỉ định trong thời thời ngắn nhất, mỗi bước di chuyển cần rõ ràng, có lực,

không nên cố ý lưỡng lự. Khi thực hiện các động tác duỗi căng không nên

chùng gối, góc tạo thành khi chùng gối phải tuân theo yêu cầu nhất định, khớp

gối và mũi chân phải cùng hướng về một phía.

Tóm lại, động tác đơn có thể biến hóa khôn lường, nhưng cần căn cứ

trên tiêu chuẩn cụ thể trong những khoảng thời gian qui định khác nhau, nhằm

bảo đảm tư thế động tác ở vào vị trí chuẩn xác nhất.

44

1.2. Đặc trưng bên trong của cơ thể

Đặc trưng kỹ thuật nội bộ động tác cơ bản của thể dục cổ động bao gồm

ba phương diện là: Phát lực, khống chế trọng tâm và độ dừng, biểu hiện cụ thể ở

hoạt động phần đầu, tứ chi cùng khống chế trọng tâm khi di chuyển.

Hoạt động phần đầu: Khi hoạt động phần đầu, nên thả lỏng đầu, còn

phần cổ sẽ phát lực, chú ý tốc độ trong quá trình thực hiện và khống chế cùng

định vị cuối cùng của động tác.

Tứ chi phát lực: Trong quá trình thực hiện động tác, sử dụng lực của

cơ giúp tăng tốc cho cánh tay hoặc chân, khi chuyển biến động tác không nên

dùng lực quá mạnh khiến động tác bị cứng ngắc. Yếu lĩnh động tác chuẩn xác

đó là có lực nhưng không khô cứng, thả lỏng nhưng không lỏng lẻo, khi cơ bắp

vùng cánh tay phát lực, cơ vùng vai nên thả lỏng, không nên nhún vai.

Khống chế trọng tâm khi di chuyển: Thăng bằng cơ thể là nền tảng

giúp động tác được hoàn thành một cách an toàn, liền mạch. Trọng tâm cơ thể

thay đổi cùng với sự biến hóa phương hướng khi vận động, chúng ta có thể tận

dụng sự kéo duỗi và co rút của cơ thể để điều chỉnh thăng bằng, ổn định trọng

tâm, cũng có thể tận dụng phản lực của cơ và lực kéo được hình thành trong quá

trình co cơ để duy trì độ ổn định của trọng tâm.

2. Chuyển động cơ bản của tay

2.1. Những điều chú ý khi thực hiện kỹ thuật của tay.

- Hoạt động của tay luôn nhanh chóng, mạnh và dứt khoát.

- Luôn giữ chuyển động mạnh mẽ và vững chắc (như thể hiện sức

mạnh của tay)

- Vai cần được thả lỏng và không có liên kết cứng nhắc.

- Chuyển động nên hơi ở phía trước thay vì thẳng lên hoặc thẳng sang

một bên. Có thể nhìn thấy hoạt động khi thực hiện.

- Cổ tay của cần được thẳng và không bị cong.

- Khi nắm bàn tay hình nắm đấm.

45

- Tư thế thực hiện “T” hoặc “V” luôn thể hiện mạnh mẽ.

- Không nghiêng ngả đầu khi thực hiện động tác.

- Khi chuyển động xoay đang được sử dụng phải xoay đến vị trí kế

tiếp thay vì di chuyển (nói cách khác khi thực hiện phải thể hiện được khoảng

cách ngắn nhất)

- Thực hành trước gương.

- Trao đổi với bạn bè hoặc đồng đội để làm cho việc học các chuyển

động được phong phú và thú vị hơn.

- Thực hiện chuyển động từ 1 đến 8 nhịp, lặp lại nhiều lần để thực

hiện thuần thực các động tác.

2.2. Động tác tay (Hình 3- 1)

(Chữ K, L, R, K bên trái hoặc phải, T, X, cung tên, L ngược, cao V, tay cao X,

tay trước W, Chống hông tay cao, Chống hông tay dưới bên, Chống hông tay

trước dưới , Chống hông tay trước trên, Chống hông tay trước gập, Chống hông

tay trên bên, gập tay A, M dưới, H cao, A cao, gập tay X, M trên, A thấp, T nhỏ

, X thấp, H nhỏ, cung tên nhỏ, T chếch (chéo), tay trước X, V thấp, H thấp).

46

47

Hình 3-1

3. Chuyển động cơ bản của chân. (Hình 3-2)

Chân tỳ bên, chân trước chùng gối, hai chân rộng bằng vai, tư thế đứng

nghiêm, chân chéo, co gối trước.

Hình 3-2

48

4. Tổ hợp động tác cơ bản

4.1. Tổ hợp 1: Tổng cộng 4 lần 8 nhịp

4.1.1. 8 nhịp thứ nhất (Hình 3-3)

Nhịp 1: Chân trái bước lên trước, hai tay vỗ vào nhau co trước ngực

(gập A).

Nhịp 2: Thu chân phải lên ngang chân trái, hai tay vỗ vào nhau co trước

ngực (gập A).

Nhịp 3: Chân trái bước lên trước, hai tay chếch trên bên (chữ V).

Nhịp 4: Thu chân phải lên ngang chân trái, hai tay vỗ vào nhau co trước

ngực (gập A).

Nhịp 5: Xoay người sang trái 900 chân trái bước lên, hai tay chuyển

(chữ K).

Nhịp 6: Xoay người sang phải 900 hai tay chuyển về gập trước ngực (T

nhỏ)

Nhịp 7: Xoay người sang trái 900 chân trái nâng gối vuông góc, tay phải

ngang, tay trái cao (chữ L)

Nhịp 8: Xoay người sang trái 1800 hạ chân phải chân trái chùng gối,

hai tay chếch dưới bên (V thấp)

Hình 3-3

4.1.2. 8 nhịp thứ hai (Hình 3-4)

49

Nhịp 1: Chân phải bước lên trước, hai tay vỗ vào nhau co trước ngực

(gập A).

Nhịp 2: Chân trái bước lên xoay người sang phải 900, hai tay vỗ vào

nhau co trước ngực (gập A).

Nhịp 3: Tiếp tục chân trái bước lên xoay người sang phải 900, hai tay vỗ

vào nhau co trước ngực (gập A).

Nhịp 4: Thu chân trái lên ngang chân phải, hai tay vỗ vào nhau co trước

ngực (gập A).

Nhịp 5: Bật nhảy nhẹ chân trái tỳ bên, tay trái cao tay phải co (H nhỏ).

Nhịp 6: Bật nhẹ hai chân rộng bằng vai, hai tay ngang (chữ T)

Nhịp 7: Chân trái bước lên trước chùng gối, hai tay thẳng vỗ vào nhau

chếch trước dưới (chữ A thấp)

Nhịp 8: Bật nhẹ hai chân về tư thế cơ bản, hai tay thu về gập trước ngực.

Hình 3-4

4.1.3. 8 nhịp thứ 3 (Hình 3-5)

Nhịp 1: Bật nhẹ hai chân tách rộng hơn vai, tay phải cao tay trái ngang

(chữ L)

Nhịp 2: Xoay người sang trái 900 chân trái chúng gối, tay trái chếch

trước trên, tay phải chếch trước dưới (chữ K).

50

Nhịp 3: Xoay người sang phải 900 chân thẳng, hai tay gập khuỷu trên

vai (M cao).

Nhịp 4-2: Bật nhẹ thu hai chân chụm, hai tay vỗ vào nhau trước dưới (A

thấp).

Nhịp 4-1: Bật nhẹ hai chân rộng bằng vai, tay phải co trên vai (M cao),

tay trái chếch trên bên.

Nhịp 5: Chân phải bước lên, hai tay ngang (chữ T).

Nhịp 6: Chân trái bước lên, tay phải chống hông, tay trái chếch trên bên.

Nhịp 7: Chân phải bước lên trước, tay phải ngang, tay trái gập khuỷu

trước ngực (cung tên nhỏ)

Nhịp 8-1: Nâng gối trái lên trước vuông góc, hai tay gập trước ngực (T

nhỏ)

Nhịp 8-2: Bật nhẹ hai chân về tư thế cơ bản, tay trái chống hông, tay

phải chếch trước dưới.

Hình 3-5

51

4.1.4. 8 nhịp thứ 4 (Hình 3-6)

Nhịp 1: Chân trái bước lên như dậm chân tại chỗ, hai tay vỗ vào nhau co

trước ngực (gập A).

Nhịp 2: Chân phải bước lên như dậm chân tại chỗ, hai tay vỗ vào nhau

co trước ngực (gập A).

Nhịp 3: Thực hiện lặp lại giống nhịp 1.

Nhịp 4: Thực hiện lặp lại giống nhịp 2.

Nhịp 5: Chân thực hiện lặp lại giống nhịp 1, hai tay chếch trên bên (chữ

V).

Nhịp 6: Chân thực hiện lặp lại giống nhịp 2, hai tay thu về gập trước

ngực.

Nhịp 7: Bật nhảy nhẹ xoay người sang phải 900 chân phải trước chân

trái sau, tay phải cao tay trái trước.

Nhịp 8: Bật nhảy nhẹ xoay người sang trái 900 hai chân chụm, hai tay

ngang gập khuỷu (W trước)

Hình 3-6

4.2. Tổ hợp 2: Tổng cộng 4 lần 8 nhịp

4.2.1. 8 nhịp thứ nhất (Hình 3-7)

52

Nhịp 1: Chân trái bước lên như dậm chân tại chỗ, tay trái chống hông,

tay phải chếch trên bên.

Nhịp 2: Chân phải bước lên như dậm chân tại chỗ, tay trái chống hông,

tay phải chếch trên bên.

Nhịp 3: Chân thực hiện lặp lại giống nhịp 1, tay phải chống hông, tay

trái chếch trên bên.

Nhịp 4: Chân thực hiện lặp lại giống nhịp 2, tay phải chống hông, tay

trái chếch trên bên.

Nhịp 5: Chân trái bước lên trước chùng gối, hai tay vỗ vào nhau co

trước ngực (gập A).

Nhịp 6: Chân giữ nguyên, hai tay chếch trên bên (chữ V).

Nhịp 7: Chân giữ nguyên, thân người hóp ngực đầu cúi, hai tay chếch

dưới bên (chữ V thấp).

Nhịp 8: Chân giữ nguyên, thân người ưỡn căng đầu ngửa, hai tay chếch

dưới bên (chữ V thấp).

Hình 3-7

4.2.2. 8 nhịp thứ hai (Hình 3-8)

Nhịp 1: Chân phải bước lên trước hơi chùng gối, hai tay trước.

Nhịp 2: Xoay người sang trái 900, nâng gối chân trái vuông góc, tay trái

ngang, tay phải co ngang trước ngực (cung tên nhỏ).

53

Nhịp 3: Xoay người sang phải 900, chân trái duỗi sau, chân phải trước

chùng gối, hai tay vỗ trên cao (chữ A) đầu cúi.

Nhịp 4: Xoay người sang trái 900, thu chân về tư thế đứng nghiêm, hai

tay chếch dưới bên (V thấp).

Nhịp 5: Chân trái bước lên trước chùng gối, hai tay chéo trước ngực (X

gập).

Nhịp 6: Chân giữ nguyên, tay trái chếch trên bên, tay phải chếch dưới

bên (chéo trái).

Nhịp 7: Chân giữ nguyên, tay phải chếch trên bên, tay trái chếch dưới

bên (chéo phải).

Nhịp 8: Chân giữ nguyên, thân người hóp, đầu cúi, hai tay chéo trước

ngực (X gập).

Hình 3-8

4.2.3. 8 nhịp thứ 3 (Hình 3-9)

Nhịp 1: Chân bật nhẹ tách rộng bằng vai, tay phải gập sau đầu, tay trái

dưới.

Nhịp 2: Bật thu chân về, tay trái gập sau đầu (chữ X).

Nhịp 3: Nhún nhẹ nâng gối chân trái, tay phải chếch trên bên, tay trái

chống hông.

54

Nhịp 4: Đổ người về trước, hạ chân trái về trước chùng gối, tay phải

chếch trước dưới, tay trái chống hông.

Nhịp 5: Bước chân phải lên trước 450 chùng gối, tay phải ngang gập

trước ngực, tay trái chống hông.

Nhịp 6: Xoay người sang trái 450 chuyển trọng tâm sang chân trái

chùng gối, tay trái chống hông, tay phải chếch trước dưới.

Nhịp 7: Xoay người sang phải 900 chuyển trọng tâm sang chân phải

chùng gối, hai tay ngang.

Nhịp 8: Chuyển trọng tâm lên chân phải, chân trái nâng gối vuông góc,

hai tay cao.

Hình 3-9

4.2.4. 8 nhịp thứ 4 (Hình 3-10)

Nhịp 1: Tư thế chuẩn bị giống nhịp 8 hình 3-10. Xoay người sang trái

450 chân trái hạ trước chùng gối, tay phải gập trước ngực, tay trái trên cao.

Nhịp 2: Xoay người sang phải 450 chân phải bước sang phải chùng gối,

tay phải chế trước trên, tay trái chếch trước dưới. (chữ K trái).

Nhịp 3: Chân trái bước lên xoay người sang trái 450, hai tay đánh sang

trái chếch dưới bên

Nhịp 4: Bước chân phải lên trước bật nhẹ tách chân trái ra sau, hai tay

đánh lên cao (chữ V).

55

Nhịp 5: Chân trái bước lên trước sang trái đồng thời xoay người sang

phải 450 chuyển trọng tâm sang chân phải chân trái tỳ trước, hai tay vỗ trước

ngực.

Nhịp 6: Chân phải bước lên trước sang phải đồng thời xoay người sang

phải 450 chuyển trọng tâm sang chân phải chân phải tỳ trước, hai tay vỗ trước

ngực.

Nhịp 7: Xoay người sang phải 450 bước chân trái lên chuyển trọng tâm

sang chân trái chân phải tỳ trước, hai tay vố trước ngực.

Nhịp 8: Chuyển trọng tâm lên chân phải, xoay người sang phải 450

bước chân trái lên chuyển trọng tâm lên chân trái chùng gối, hai tay chếch trên

bên.

Hình 3-10

5. Các bước bật nhảy cơ bản

5.1. Phân loại động tác bật nhảy

Động tác bật nhảy trong thể dục cổ động là hình thức nhờ vào hiệu quả

của thị giác để biểu đạt cảm xúc và thể hiện tốc độ. Yếu lĩnh của động tác bật

nhảy đó là khi nhảy phải có cao độ đồng thời duy trì tính chuẩn xác của tư thế

trên không, thể hiện sức mạnh và độ mềm dẻo của các thành viên trong đội; khi

tiếp đất thì từ nửa đầu lòng bàn chân sẽ quá độ sang cả bàn chân, cơ thể giữ cân

56

bằng. Độ khó và tính chuẩn xác trong động tác bật nhảy của các thành viên đội

thể dục cổ động sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả về thị giác của toàn bộ động tác.

Dưới đây là các động tác bật nhảy thường gặp của thể dục cổ động. (bật

nhảy tách chân hẹp, nhảy C, bật tách chân trước sau, quay người bật nhảy, nhảy

liên tục, bật nhảy co gối, bật nhảy đổi chân, nhảy vượt rào, gập người bật nhảy

dạng chân, gập người bật nhảy chân chụm) Hình 3-11

Hình 3-11

5.2. Các giai đoạn kỹ thuật động tác bật nhảy

5.2.1. Kỹ thuật dậm nhảy

Trong toàn bộ quá trình dậm nhảy cần khống chế cơ bụng, nhằm đạt

được tác dụng kết nối. Khi chuẩn bị, hơi trùng hai gối, hai tay đánh mạnh ra sau,

lòng bàn tay nắm hờ. Khi dậm nhảy, căng cứng các cơ phần chi dưới, chân đạp

57

đất tạo lực, khiến mặt đất lúc này tức thì sản sinh một phản lực lên cơ thể, đồng

thời lăng mạnh hai tay lên cao, lực khi dậm nhảy càng lớn, thì phản lực do mặt

đất cung cấp sẽ càng lớn, tức là lực tác dụng lên cơ thể sẽ càng lớn, như vậy

khoảng cách trên không so với mặt đất sẽ càng cao

5.2.2. Kỹ thuật khống chế trên không

Kỹ thuật trên không chia thành kỹ thuật động tác đơn lẻ và kỹ thuật

động tác phức hợp.

Kỹ thuật động tác đơn lẻ: chỉ cần duy trì một trạng thái nhất định trên

không, tức là trên cơ sở ổn định của thân người, sau khi chân thuận dậm nhảy

nhanh chóng đạt đến vị trí “ dừng ” đã được định trước.

Kỹ thuật động tác phức hợp: sau khi dậm nhảy, căn cứ vào yêu cầu và

trình tự động tác, các đoạn xa của cơ bắp sẽ phối hợp cùng khống chế các nhóm

cơ khác, nhanh chóng đạt đến vị trí đã định trước, sau đó thay đổi đến một vị trí

tiếp theo. Khi thay đổi động tác, yêu cầu thân người và tứ chi cùng phối hợp

dùng lực, cùng thay đổi, nhằm duy trì tính thăng bằng và tính hoàn chỉnh cho tư

thái cơ thể.

Ví dụ: với động tác bật nhảy tách chân hẹp, tư thái cơ thể sẽ là: thân trên

chính diện, cơ bụng gồng chắc, đồng thời tách hai chân đến một góc độ đã qui

định, khống chế hai cơ mông lớn, duỗi thẳng chân, hai tay chếch cao “ chữ V”,

cơ thể thành hình chữ “X”.

Kỹ thuật bật nhảy là một hoạt động được thực hiện bởi một chân

hoặc hai chân, căn cứ vào biên độ của chuyển động có thể được chia thành

các bước nhảy nhỏ, nhảy vừa và lớn.

5.2.3. Kỹ thuật tiếp đất

Giai đoạn cuối cùng của kỹ thuật bật nhảy đó là tiếp đất, để tránh gây

nên chấn thương thể thao, người tập khi rơi từ trên không xuống cần chú ý hoãn

xung, giúp duy trì độ ổn định cho thân người, đồng thời cũng góp phần giảm

nhẹ lực tác dụng của mặt đất lên cơ bắp và các khớp. Khi tiếp đất, trọng tâm dồn

58

lên từ nửa bàn chân trước sẽ quá độ dần đến cả bàn, sau đó nhanh chóng trùng

gối, gập hông hoãn xung. Lúc này, thân người và hai tay giữ ở tư thế cố định.

Các cơ chi dưới kết hợp dùng lực hài hòa là nhân tố quan trọng giúp VĐV

phòng tránh có hiệu quả chấn thương xảy ra và hoàn thành tốt động tác hoãn

xung.

Động tác bật nhảy được cấu thành bởi 4 giai đoạn đó là chuẩn bị bắt

đầu, trên không, thực hiện động tác và tiếp đất (Hình 3- 12).

Giai đoạn chuẩn bị bắt đầu: Là bước thứ nhất của bật nhảy. Trọng điểm

kỹ thuật của giai đoạn này đó là đứng thẳng, chân khép, hai tay chếch trên bên,

lòng bàn tay hướng ra ngoài; khi gập khớp gối, hai tay từ chếch trên bên đánh

mạnh về trước và dừng ở hai bên thân người, hai chân đạp đất nhảy mạnh lên

cao, đây được gọi là phương pháp di chuyển tốc độ, cũng là phương pháp

thường sử dụng nhất trong các động tác bật nhảy.

Giai đoạn trên không: Là khoảng thời gian sau khi VĐV giậm nhảy rời

đất đến trước khi tiếp đất. Trọng điểm kỹ thuật của giai đoạn này đó là hóp

bụng, thẳng lưng, giữ thẳng thân trên, khi trên không hai chân nên duỗi thẳng,

động tác tay nhanh, dứt khoát. Động tác tay khi giậm nhảy và thời gian chân

đạp đất là yếu tố quan trọng giúp đạt được độ cao bật nhảy lý tưởng.

Giai đoạn thực thi động tác: Là khoảng thời gian VĐV tiến hành các

động tác trên không, khi thực thi động tác, người tập cần duy trì độ cao trên

không nhất định, hóp bụng thẳng lưng, duỗi thẳng hai chân và mũi chân, đồng

thời hai tay sốc trên cao hoặc sang ngang.

Giai đoạn tiếp đất: Được cấu thành bởi hai nhân tố chính là co gối tốc

độ và hoãn xung. Khi tiếp đất, hai tay và chân cùng hạ thấp, trùng khớp gối

hướng về trước (góc giữa đùi và cẳng chân không vượt quá 900), hai chân

khép, đồng thời hai tay buông dọc thân người

59

Hình 3-12

5.3. Phân tích kỹ thuật động tác bật nhảy

5.3.1. Kỹ thuật bật nhảy tách chân hẹp

Bước 1: Vỗ tay trước ngực.

Bước 2: Đánh hai tay lên cao V.

Bước 3: Bắt đầu nhảy bằng cách chùng gối và hai tay đan chéo phía

trước trên cao - xuống dưới.

Bước 4: Bật nhảy lên cao, hai tay vung mạnh sang ngang - lên cao, hai

chân đá sang hai bên rộng hơn vai mở hông, nâng ngực, ngửa đầu.

Bước 5: Trở về tư thế ban đầu (Hình 3-13).

Hình 3-13: Bật tách chân

5.3.2. Kỹ thuật bật nhảy co gối.

Bước 1: Vỗ tay trước ngực.

Bước 2: Đánh hai tay lên cao V.

60

Bước 3: Bắt đầu nhảy bằng cách chùng gối và hai tay đan chéo phía

trước trên cao - xuống dưới.

Bước 4: Bật nhảy lên cao, hai tay vung mạnh sang ngang - lên cao, hai

chân chụm nâng gối vuông góc với thân, nâng ngực, ngửa đầu.

Bước 5: Trở về tư thế ban đầu (Hình 3-14).

Hình 3-14. Bật co gối

5.3.3. Kỹ thuật bật nhảy đá ngang.

Bước 1: Vỗ tay trước ngực.

Bước 2: Đánh hai tay lên cao V.

Bước 3: Bắt đầu nhảy bằng cách chùng gối và hai tay đan chéo phía

trước trên cao - xuống dưới.

Bước 4: Bật nhảy lên cao, hai tay vung mạnh sang ngang, hai chân đá

ngang sang hai bên vuông góc với thân, nâng ngực, ngửa đầu.

Bước 5: Trở về tư thế ban đầu (Hình 3-15).

Hình 3-15. Bước đá ngang

61

5.3.4. Kỹ thuật bật nhảy chạy vượt rào.

Bước 1: Vỗ tay trước ngực.

Bước 2: Đánh hai tay lên cao V

Bước 3: Bắt đầu nhảy bằng cách chùng gối và hai tay đan chéo phía

trước dưới.

Bước 4: Bật nhảy lên cao, hai tay đánh lên trước trên sát tai, đá chân

phải thẳng lên sát ngực, chân trái co ở phía sau mở hông, nâng ngực, đầu cúi.

Bước 5: Trở về tư thế ban đầu (Hình 3-16).

Hình 3-16. Bước chạy vượt rào

5.3.5. Kỹ thuật bật nhảy gập thân.

Bước 1: Vỗ tay trước ngực.

Bước 2: Đánh hai tay lên cao V.

Bước 3: Bắt đầu nhảy bằng cách chùng gối và hai tay đan chéo phía

trước dưới.

Bước 4: Bật nhảy lên cao, hai tay đánh lên trước trên sát tai, đá hai chân

về trước thẳng lên sát ngực, đầu cúi.

Bước 5: Trở về tư thế ban đầu (Hình 3-17).

62

Hình 3-17. Bước bật gập thân

5.4. Các phương pháp thực hiện bài tập động tác bật nhảy

Khi tập động tác bật nhảy, có thể sử dụng các phương pháp khác nhau,

ví dụ như các bài tập cá nhân, hoặc các bài tập theo nhóm. Để phát triển khả

năng bật nhảy, nên bắt đầu từ những động tác đơn giản, sau đó mới nâng dần

lên tập những động tác khó hơn. Ví dụ: động tác bật nhảy ôm gối có thể lấy

làm động tác khởi động trước khi tập các động tác bật nhảy khác.

Trong quá trình tập, số lần thực hiện mỗi một động tác chính xác phải

được duy trì từ 5 đến 10 lần, đây cũng chính là nội dung huấn luyện có ý

nghĩa quan trong đối với kỹ thuật bật nhảy. Khi cần biểu diễn tổ hợp động tác

bật nhảy liên tiếp đòi hỏi yếu tố sức bền cao, thì thời gian tập luyện cũng nên

căn cứ trên tình hình thực tế để có những thay đổi sao cho phù hợp.

5.4.1. Các bài tập cá nhân

VĐV thể dục cổ động bắt buộc phải tự cá nhân mình hoàn thành các

động tác bật nhảy, bắt đầu bằng các động tác đon giản trước, sau đó mới quá

độ sang các động tác có độ khó cao hơn. Sau khi thực hiện các động tác có độ

khó, mới thực hiện các bài tập tổ hợp tiếp theo. Thông qua quá trình thực hiện

hoặc quan sát động tác, VĐV có thể hiểu tường tận hơn kỹ thuật cơ bản của

động tác, ví dụ: trước khi tập, VĐV nên tập mô phỏng chính xác các tư thế

động tác trên không ở tư thế ngồi trước, sau đó mới chuyển sang tập ở tư tư

thế đứng. Khi tập, tốt nhất VĐV nên nhìn thấy động tác của chính mình, do

đó tập trước gương được xem là một trong những phương pháp có hiệu quả

63

nhất, nó giúp VĐV sửa được những động tác sai, giúp ích cho việc VĐV nắm

vững thời cơ thực hiện động tác.

5.4.2. Các bài tập theo nhóm

Phương pháp sử dụng đối với các bài tập theo nhóm rất nhiều, dưới

đây chúng tôi chỉ giới thiệu đến 3 phương pháp điển hình nhất.

Tập theo vòng tròn: Người tập xếp thành một vòng tròn lớn, mặt quay

vào trong, người đầu tiên thực hiện một lần động tác bật nhảy, sau đó đi một

vòng quanh vòng tròn đã xếp, những người tập tiếp theo lần lượt lặp lại động

tác như trên, sau khi kết thúc 1 lượt, người tập lại tiếp tục lần lượt thực hiện

các động tác bật nhảy khác, HLV và những VĐV khác có thể hướng dẫn

người tập động tác ở mỗi một lần thực hiện, phương pháp này không những

nâng cao hiệu suất của quá trình tập, mà người tập còn có nhiều thời gian tập

hơn.

Tập theo hàng dọc: người tập đứng thành một hàng dọc, người đứng

đầu hàng sẽ yêu cầu người đứng kế mình trước, người tập đầu tiên này sẽ phải

hoàn thành 5 lần bật nhảy hoặc một nhóm tổ hợp các động tác. Sau đó người

xếp đầu hàng sẽ chạy xuống vị trí cuối hàng, người thực hiện đầu tiên sẽ chạy

xuống theo và yêu cầu, người tập tiếp theo sẽ thực hiện tương tự 5 động tác

bật nhảy hoặc một nhóm tổ hợp các động tác, cứ thế tuần tự thực hiện, cho

đến khi người yêu cầu đầu tiên quay trở lại vị trí đầu hàng , HLV có thể đứng

đầu hàng để nhận xét và sửa các động tác sai.

Tập theo khẩu lệnh: Khi tập theo nhóm, người tập sẽ vừa thực hiện

động tác, vừa hô nhịp, mỗi một động tác được thực hiện trong một lần 8 nhịp,

ví dụ: khi hô 1,2: hơi trùng gối hai chân, hai tay nắm hờ gập trước ngực, cẳng

tay đan chéo vào nhau, đầu cúi; khi hô 3,4: hai chân thẳng, khép, hai tay

chếch trên bên, đầu ngẩng, ngực ưỡn căng; khi hô 5,6: bật nhảy trên không;

hô 7,8: tiếp đất, kết thúc động tác. Yêu cầu người tập nắm vững nhịp phách,

động tác bảo đảm độ cao nhất định, như thế mới dễ dàng nhận xét được người

64

tập có sử dụng động tác chuẩn bị tương tự ở mỗi lẫn thực hiện hay thời cơ bật

nhảy, độ cao đồng nhất của tay cùng những yếu tố khác. Động tác tay sai sẽ

khiến người tập mất đi tính đồng bộ của các động tác ở những lần thực hiện

khác nhau, khi sử dụng khẩu lệnh trong thực hiện động tác bật nhảy, cần ưu

tiên chú trọng đến tính chuẩn xác và đồng nhất của động tác tay.

5.5. Những điểm cần chú ý khi thực hiện các động tác bật nhảy

Chất lượng động tác là sự thể hiện một cách toàn diện nhất đối với

nhóm động tác bật nhảy. Khi hướng dẫn động tác bật nhảy, HLV cần đưa ra ý

kiến phù hợp với đặc điểm của từng cá nhân, ví dụ: Lần thứ nhất tập trung

vào yếu lĩnh một động tá nào đó như: Duy trì độ cao của đầu và ngực; lần

nhắc nhở tiếp theo có thể chú trọng đến yêu cầu khác như: duỗi thẳng mũi

chân, đầu gối…

Những điểm cần chú ý trong khi tập các động tác bật nhảy bao gồm:

- Khi giậm nhảy, cần hơi co gối, lực được phát từ nửa trước bàn chân

quá độ lên cả chân.

- Khi giậm nhảy không nên thực hiện giậm nhảy thử, cũng không nên

tùy ý di chuyển trọng tâm cơ thể.

- Trong suốt quá trình bật nhảy, cần giữ đúng vị trí của đầu, đầu không

được cúi.

- Gồng chắc các nhóm cơ vùng lưng bụng.

- Trên cơ sở bảo đảm tốt chất lượng động tác, nâng dần độ cao thực

hiện động tác trên không.

- Lực nên được phát từ bàn chân, đến đùi và truyền lên cánh tay.

- Giữ phần đầu, ngực và lưng cùng trên một đường thẳng.

- Duy trì tư thái trên không, nhất là tư thế của mũi chân và khớp gối.

- Bắt đầu, thực hiện và kết thúc của động tác tay cần rõ ràng, dứt

khoát.

65

- Biểu đạt của gương mặt nên toát lên diện mạo tinh thần vui tươi,

rạng rỡ.

6. Các động tác thăng bằng và quay

6.1. Phân tích kỹ thuật thăng bằng

Thăng bằng: Là một loại kỹ xảo giúp bảo đảm độ ổn định của cơ thể

cần có khi hoàn thành động tác, khả năng thăng bằng tốt hay kém có ảnh

hưởng trực tiếp đến chất lượng các động tác theo bài cao hay thấp. Động tác

thăng bằng yêu cầu cơ bắp phải có độ căng và tính kết hợp nhất định. Ngoài

ra, nó còn hỗ trợ tăng cường cảm giác thăng bằng cho cơ thể tại các vị trí

trong không trung và có yêu cầu đặc biệt đối với cơ quan tiền đình.

Thăng bằng được chia thành hai nhóm lớn đó là thăng bằng tĩnh và

thăng bằng động.

Thăng bằng tĩnh: Ý chỉ thăng bằng của tất cả các tự thế tĩnh mà cơ thể

hoàn thành khi trên mặt đất hay trên các dụng cụ tập. Nhân tố ảnh hưởng

quyết định đến thăng bằng tĩnh gồm trọng tâm cao hay thấp của cơ thể, diện

tiếp xúc to hay nhỏ.

Thăng bằng động: Ý chỉ tư thế ổn định tức thì của cơ thể trong không

trung. So với thăng bằng tĩnh, độ khó khi hoàn thành động tác của thăng bằng

động lớn hơn. Nhân tố ảnh hưởng đến thăng bằng động bao gồm: mức độ

khống chế lực của cơ bắp, thự tự dùng lực của cơ bắp, thời điểm dùng lực của

cơ bắp.

6.2. Phân tích kỹ thuật quay

Kỹ thuật quay chia thành: Kỹ thuật động lực quay, kỹ thuật ổn định

khi quay và kỹ thuật dừng khi quay.

Kỹ thuật động lực quay: Có 2 nguồn động lực khi quay: Thứ nhất, đó

là lực hướng lên được sinh ra theo phương của trục dọc sau khi trọng tâm cơ

thể hạ thấp; thứ hai, đó là lực khi cơ co tạo thành gia tốc khiến cơ thể chuyển

động.

66

Kỹ thuật ổn định khi quay: Yếu tố then chốt của độ ổn định khi quay

chính là khống chế giữa trục với mặt phẳng của cơ thể. Trước tiên, khi phát

lực, trọng tâm cơ thể phải nhanh chóng giữ được ổn định tại trục vuông góc,

trong quá trình quay, thông qua co cơ, khiến các khớp duy trì được trạng thái

ổn định tương đối, đồng thời vai, hông, đùi, chân phải luôn bảo đảm ở trong

cùng một mặt phẳng.

Kỹ thuật dừng khi quay: Khi dừng quay, sử dụng phương pháp hạ

thấp trọng tâm cùng tăng diện tiếp xúc để bảo đảm độ ổn định của động tác

dừng khi quay.

6.3. Các hoạt động thăng bằng cơ bản ( Hình 3-18)

Hình 3-18

6.4. Ổn định thăng bằng khi lệch trọng tâm trong thực hiện động

tác thăng bằng và quay

67

Khi trọng tâm bị lệch trong quá trình vận động, chức năng sinh lý của

cơ thể sẽ phát huy khả năng tự khống chế thăng bằng, đồng thời, tận dụng

căng duỗi và co gập của cơ thể khiến trọng tâm thay đổi, từ đó điều chế thăng

bằng. Xét theo ý nghĩa của một khía cạnh nào đó, thì quá trình “thăng bằng -

mất thăng bằng - tạo lại thăng bằng” này của cơ thể, thể hiện được nét đẹp

mạo hiểm và vẻ đẹp khi chuyển động của thể dục cổ động. Do đó, khi tập

luyện, có thể xây dựng một số động tác lệch trọng tâm, nhằm nâng cao khả

năng thăng bằng và độ ổn định cho người tập.

6.4.1. Các động tác mẫu

Gập cao gối một chân, khống chế chân còn lại (hình 3-19)

Phương pháp động tác: Tư thế chuẩn bị, hai chân đứng trước sau, hai

tay buông lỏng tự nhiên dọc thân người, hóp bụng, thẳng lưng, mắt nhìn thẳng

về phía trước. Chân lăng đạp đất tạo lực, chân trụ đứng thẳng, đồng thời kiễng

gót chân; gập cao gối chân lăng, đùi song song với mặt đất, mũi chân duỗi

thẳng; hai tay chếch trên bên, lòng bàn tay nắm; giữ tư thế trong vòng 2 giây.

Các bước thực hiện:

- Thực hiện đứng một chân có điểm bám, vịn.

- Thực hiện đứng một chân không có điểm bám, vịn.

Hình 3-19

Ôm gối giữ thăng bằng một chân (hình 3-20)

68

Phương pháp động tác: tư thế chuẩn bị, hai chân khép, hai tay buông

lỏng tự nhiên, mắt nhìn về phía trước. Chân lăng đạp đất tạo lực, chân trụ

đứng thẳng, đồng thời kiễng mũi chân; nhanh chóng rút gối chân lăng, đùi

song song với mặt đất, mũi chân duỗi; hai tay ôm lấy cẳng chân cuả chân lăng,

giữ tư thế trong vòng 2 giây.

Các bước thực hiện:

- Thực hiện đứng một chân có điểm bám, vịn.

- Thực hiện đứng một chân không có điểm bám, vịn.

Hình 3-20

Đá chân thăng bằng trước (hình 3-21)

Phương pháp động tác: tư thế chuẩn bị, hai chân đứng trước sau, hai

tay buông lỏng tự nhiên, bụng hóp, lưng ưỡn, mắt nhìn thẳng về phía trước.

Chân lăng đạp đất tạo lực, chân trụ đứng thẳng; nhanh chóng đá chân lăng lên

cao, gối, mũi chân duỗi thẳng; hai tay bám vào cổ chân của chân lăng; giữ tư

thế trong vòng 2 giây

Các bước thực hiện:

- Đứng dựa vào tường thực hiện ôm gối một chân.

- Thực hiện ôm gối một chân có điểm bám, vịn.

- Thực hiện ôm gối một chân không có điểm bám, vịn.

69

Hình 3-21

Quay 3600 trên một chân (hình 3-22)

Phương pháp động tác: tư thế chuẩn bị, hai chân đứng trước sau, chân

phải ở trước và trùng gối, tay trái trên cao, tay phải sang ngang, bụng hóp,

lưng ưỡn, mắt nhìn thẳng về phía trước. Chân lăng đạp đất tạo lực, chân trụ

đứng thẳng; gập cao gối chân lăng, đùi song song với mặt đất, mũi chân duỗi

thẳng; khi thực hiện động tác xoay người, kết hợp với xoay đầu, hai tay gập

trước ngực, cẳng tay đan chéo vào nhau, tay nắm hờ, lòng bàn tay hướng ra

sau; sau khi quay 3600, hai chân khép thành tư thế đứng thẳng.

Các bước thực hiện:

- Tập đứng trên một chân.

- Tập quay 1/4, 1/2 vòng.

Hình 3-22

70

Đá trước giữ khống chế quay 3600 trên một chân (hình 3-23)

Phương pháp động tác: Tư thế chuẩn bị, hai chân đứng trước sau, chân

phải ở trước và trùng gối, tay trái trên cao, tay phải sang ngang, bụng hóp,

lưng ưỡn, mắt nhìn thẳng về phía trước. Chân lăng đạp đất tạo lực, chân trụ

đứng thẳng; nhanh chóng đá chân lăng lên cao, gối, mũi chân duỗi thẳng; khi

thực hiện động tác xoay người, kết hợp với xoay đầu, hai tay bám vào cổ chân

của chân lăng; sau khi quay người 3600, hạ thấp thu chân lăng về sát chân trụ

thành tư thế đứng thẳng.

Các bước thực hiện:

- Đứng dựa tường thực hiện động tác đá trước.

- Đá trước giữ khống chế tại chỗ.

- Đá trước giữ khống chế quay 1800.

- Đá trước giữ khống chế quay 3600.

Hình 3-23

6.4.2. Phương pháp tập luyện các động tác thăng bằng và quay

Trong thể dục cổ động, thăng bằng của cơ thể là một trong những

nhân tố quan trọng bảo đảm an toàn, ổn định và tính liên hoàn cho bộ môn

này. Khi vận động, trọng tâm sẽ thay đổi theo sự chuyển động của cơ thể, sinh

cơ học thể thao đã chỉ ra: “lực được sinh ra trong quá trình vận động cần hỗ

trợ duy trì ổn định cho trọng tâm”. Các phương pháp thường dùng để tập cho

nhóm động tác thăng bằng và xoay bao gồm:

71

Giảm diện tiếp xúc: Tăng diện tiếp xúc của tứ chi có thể phát triển

được độ thăng bằng của cơ thể, hai chân tiếp đất sẽ dễ giữ thăng bằng hơn

một chân tiếp đất, khi tiếp đất hai chân tách sẽ ổn định hơn hai chân chụm.

Nhằm nâng cao khả năng thăng bằng cho người tập, chúng ta có thể đảo

nghịch tư duy, sử dụng phương pháp huấn luyện giảm diện tích xúc, phương

pháp tập cụ thể như sau:

Kiễng gót hai chân (Hình 3-24 )

Tư thế chuẩn bị: Hai chân tách rộng bằng vai, hơi co khớp gối, thân

trên thẳng, bảo đảm tư thế cơ bản gồm ngực ưỡn, bụng hóp, lưng thẳng. Bắt

đầu tập: tư thế thân trên không thay đổi, kiễng gót chân, đồng thời gồng

cứng nhóm cơ phía trong của đùi và các cơ vùng mông, duy trì tư thế này

trong vòng 5 giây; Khi kết thúc: trở về tư thế chuẩn bị, có thể lặp lại nhiều

lần.

Hình 3-24

Kiễng gót một chân (Hình 3-25)

Tư thế chuẩn bị: Hai chân tách rộng trước sau, thân trên thẳng, bảo

đảm tư thế cơ bản gồm ngực ưỡn, bụng hóp, lưng thẳng. Bắt đầu tập: đẩy

mạnh chân sau và hơi co khớp gối, chân song song với mặt đất; chân trước

kiễng gót, duy trì tư thế này trong vòng 5 giây; Khi kết thúc: trở về tư thế

chuẩn bị, có thể lặp lại nhiều lần.

72

Hình 3-25

Các bài tập trên bóng (bóng Yoga hay bóng tập thể hình)Hình 3-26

Tận dụng trạng thái không ổn định của bóng để tăng cường khống chế,

điều tiết của cơ bắp và khả năng thăng bằng cho cơ thể. Người tập có thể tận

dụng tối đa đặc điểm này của bóng, từng bước luyện tập khả năng thăng bằng,

ví dụ người tập có thể bắt đầu với tư thế ngồi sao cho thật ổn định trên bóng,

sau đó mới tăng dần độ khó.

Hình 3-26

Nâng cao trọng tâm: Khi vận động, trọng tâm càng thấp, độ ổn định

càng cao. Đứng thẳng thăng bằng dễ hơn so với bật nhảy, nhưng đứng tấn sâu

lại dễ giữ thăng bằng hơn so với đứng thẳng. Vì vậy, trong quá trình huấn

73

luyện, chúng ta có thể đảo nghịch tư duy, sử dụng phương pháp nâng cao

trọng tâm để tập khả năng thăng bằng, phương pháp tập cụ thể như sau:

Bài tập kiễng gót (Hình 3-27 )

Tư thế chuẩn bị: Hai chân dang rộng bằng vai, đứng tấn thấp; Khi bắt

đầu tập luyện, hai chân duỗi thẳng, thân trên thẳng, đồng thời kiễng gót chân;

khi kết thúc trở về tư thế chuẩn bị. Khi thực hiện thành thục, có thể tăng dần

độ khó của động tác, chi dưới từ kiễng gót chân tách thành kiễng gót chân

chụm.

Hình 3-27

Bài tập bật nhảy: (Hình 3-28)

Tư thế chuẩn bị: Co gối, đứng tấn thấp, tay chống hông, lòng bàn tay

nắm hờ. Khi bắt đầu, hai chân lấy mặt đất làm điểm tựa, duỗi thẳng khớp gối,

bật cao tại chỗ, tay di chuyển theo quán tính lên trên; khi tiếp đất co khớp gối

để hoãn xung; Kết thúc: trở về tư thế chuẩn bị, có thể lặp lại nhiều lần.

Hình 3-28

74

7. Kỹ thuật trồng chuối

Trồng chuối là cơ sở của các động tác nhào lộn có độ khó cao trong

thể dục cổ động, nó cũng là động tác cơ bản nhất thuộc nhóm động tác mang

tính kỹ xảo trong thể dục cổ động. Thông qua huấn luyện động tác trồng

chuối, ngoài tăng cường sức mạnh làm trụ cho chi trên và tăng cao khả năng

phối hợp chi trên với chi dưới ra, còn có một chức năng nổi bật phải kể đến,

đó là rèn luyện và nâng cao khả năng phân tích của cơ quan tiền đình (hay còn

gọi là cơ quan thăng bằng) ở đại não, bồi dưỡng cảm giác phương hướng rõ

ràng cho VĐV khi đầu ở vị trí hướng xuống dưới.

7.1. Kỹ thuật lăng chuối tay dựa tường

7.1.1. Phương pháp động tác

Tư thế chuẩn bị: Đứng mặt hướng vào tường, cách tường khoảng 1,5

bước.

Quá trình thực hiện động tác: Chân trái bước lên trước 1/2 bước, đồng

thời hai tay đưa về trước, ngón tay hướng lên trên, hơi tách, lòng bàn tay hướng

ra trước, mắt nhìn theo ngón tay cái (hình 3-29).

Thân trên hơi gập, hai tay chống xuống đất, về trước và cách chân

khoảng 30 - 50cm, khoảng cách của hai tay rộng bằng vai, hơi ngẩng đầu, các

ngón tay hướng về phía tường (hình 3-30)

Chân phải lăng từ sau lên trên, đến khi đạt được góc lớn nhất, chân trái

dùng sức đạp mạnh rời khỏi mặt đất, khi cơ thể gần với vị trí vuông góc với mặt

đất, khép chân trái vào chân phải thành tư thế trồng chuối (hình 3-31, 3-32)

Hình 3-29 Hình 3-30 Hình 3-31 Hình 3-32

75

7.1.2. Những điểm cần chú ý

Khi trồng chuối, cần bảo đảm cánh tay luôn duỗi thẳng, mắt nhìn theo

tay, lưng thẳng.

Tránh nín thở hoặc thở bằng miệng, cần duy trì nhịp thở nhẹ nhàng, ổn

định.

Thời gian thực hiện động tác cần tăng dần theo trình tự, nhưng không

nên quá dài. Nhất là đối với người mới tập, thời gian trồng chuối cần thích

đáng, nhằm tránh cơ thể tổn thương. Thời gian thực hiện động tác hợp lý nhất là

khoảng 1-2 phút. Trồng chuối với thời gian quá dài, rất dễ gây nên hiện tượng

máu tụ ở phần đầu và cánh tay, khiến cơ bắp chi trên tê cứng. Do đó, thời gian

trồng chuối chỉ nên duy trì 1-2 phút, kết hợp thêm động tác chống đẩy hay các

bài tập sức mạnh khác, điều này mang lại hiệu quả và rất có lợi đối với tăng

cường sức mạnh cho chi trên.

7.1. 3. Phương pháp giúp đỡ

Khi mới bắt đầu tập trồng chuối, do động tác phát lực không hài hòa,

rất khó tự hoàn thành động tác mà không có sự trợ giúp, cho nên rất cần đến

sự giúp đỡ của HLV. HLV đứng về một bên của VĐV, khi VĐV đá chân

thực hiện động tác trồng chuối, đỡ chân lăng lăng lên trên và cố định khi

chân đã chạm tường, sau đó giúp chân trụ nhanh chóng đuổi kịp đến vị trí

trồng chuối, cuối cùng giúp cố định hai chân, giữ ở vị trí trồng chuối (hình

3-33)

Hình 3-33

76

7.2. Kỹ thuật lăng chuối tay

7.2.1 Phương pháp động tác

Lăng chuối tay được thực hiện trên cơ sở thành thạo động tác lăng

chuối tay dựa tường, từ dùng mũi chân dựa tường dần dần quá độ sang chỉ sử

dụng cánh tay làm điểm trụ (hình 3-34)

7.2.2 Sai lầm thường mắc

Trọng tâm cơ thể đổ về trước (hình 3-35)

Trọng tâm cơ thể ngả ra sau (hình 3-36)

Hình 3-34 Hình 3-35 Hình 3-36

Bất luận xuất hiện tình huống nào kể trên, đều phải chống chắc tay

xuống đất, đầu hơi ngẩng, nâng mông, hai chân thẳng, mũi chân duỗi, giúp

kéo trọng tâm cơ thể hướng lên trên, đồng thời sử dụng lực ép từ cánh tay để

điểu chỉnh thăng bằng cho cơ thể, nhằm khắc phục hiện tượng trọng tâm cơ

thể di chuyển. Ví dụ: khi trọng tâm cơ thể đổ về trước, nên ngẩng đầu để khắc

phục tình trạng trên, dùng sức mạnh của cổ tay duy trì thăng bằng; Nếu trọng

tâm ngả ra sau, thì nên hơi cúi đầu, đưa vai về trước, dùng sức của các ngón

tay bám chặt vào mặt đất để duy trì thăng bằng.

7.3. Kỹ thuật chuối đầu

7.3.1 Phương pháp động tác

Tư thế chuẩn bị: Ngồi xổm, hai tay chống đất (hình 3-37)

77

Quá trình thực hiện động tác: Cơ thể di chuyển về trước, đặt trán về

phía trước hai tay, hai tay và đầu tạo thành hình tam giác đều(hình 3-38)

Mũi chân rời đất, hai chân duỗi thẳng lên trên, duỗi mũi chân, nâng

mông, mở hông, thẳng lưng, thành tư thế trồng chuối (hình 3-39)

7.3.2. Sai lầm thường mắc

Sức mạnh khi rời đất của chân quá lớn, khiến cơ thể đột ngột đổ về

trước rồi ngã.

7.3. 3. Phương pháp giúp đỡ

HLV đứng về một bên của VĐV, đợi khi chân VĐV rời đất, đỡ phần

bụng và lưng, nhằm tránh cơ thể VĐV đổ về trước (hình 3-40).

Hình 3-37 Hình 3-38 Hình 3-39 Hình 3-40

7.4. Kỹ thuật dùng sức chuối tay chụm chân

7.4.1 Phương pháp động tác

Tư thế chuẩn bị: Ngồi xổm, hai tay đặt trước mũi chân, mắt nhìn thẳng

về trước

Quá trình thực hiện động tác: Tay thẳng, chống đất, vai và lưng cùng

di chuyển về trước, trọng tâm cơ thể dồn lên hai vai, nâng hông va eo, chân từ

tư thế co dần dần chuyển sang duỗi thẳng, mở hông, tạo thành động tác trồng

chuối ( hình 3-41)

Sử dụng sức mạnh từ hai tay làm điểm chống tựa, co từ từ hai chân rồi

hạ thấp, tiếp đất bằng lòng bàn chân.

7.4.2. Sai lầm thường mắc

78

Hai chân rời đất quá mạnh hoặc động tác nâng mông quá sớm, dễ gây

nên hiện tượng đổ về trước.

Sau khi chụm chân, không kịp khống chế.

7.4. 3. Phương pháp giúp đỡ

Các học viên huấn luyện viên đứng bên khi các học viên được đỡ

chân, bụng và lưng dưới hỗ trợ để ngăn chặn phía trước nghiêng ( Hình

3-42 ) .

Hình 3-41 Hình 3-42

7.5. Kỹ thuật dùng sức chuối tay dạng chân.

7.5.1. Phương pháp động tác

Tư thế chuẩn bị: hai chân dang rộng, hơi rộng hơn so với vai (hình 3-43)

Quá trình động tác: Gập thân, cánh tay duỗi thẳng, chống đất, nâng eo

và hông (hình 3-44)

Sau khi hai chân rời đất, thì tách chân, xoay hông từ dưới lên trên

(hình 3-45)

Khép hai chân tạo thành động tác trồng chuối (hình 3-46)

7.5.2. Những điểm cần chú ý

Hai chân không được chủ động rời đất và khi duỗi không được co

khớp gối, như vậy mới có thể tập được nhóm cơ vùng lưng bụng cùng sức

mạnh chống trụ của cánh tay.

79

HLV đứng đối diện VĐV. Đợi khi VĐV gập thân, hai tay chống đất,

HLV dùng tay đỡ vào hai bên hông, cùng lúc chân VĐV rời đất, nâng mông,

giúp VĐV thực hiện trồng chuối. Sau khi VĐV trồng chuối, HLV giữ lấy

cẳng chân VĐV, giúp duy trì thăng bằng (hình 3-47)

Hình 3-43 Hình 3-44 Hình 3-45 Hình 3-46 Hình 3-47

8. Kỹ thuật nhào lộn

Động tác tính kỹ xảo nhóm nhào lộn là động tác thể hiện độ khó của

kỹ xảo thường thấy nhất trong thể dục cổ động. Động tác nhóm nhào lộn được

sử dụng trong thể dục cổ động với mục đích tạo nên hiệu quả thị giác cùng thể

hiện năng lực và kỹ xảo, do đó mục đích sử dụng có vài điểm khác với động

tác nhào lộn của thể dục

8.1. Lộn trước ôm gối

8.1.1. Phương pháp động tác

Tư thế chuẩn bị: Bắt đầu ngồi xổm.

Quá trình động tác: Kiễng gót chân, hai tay chống về trước của thân

người, cánh tay hơi co (hình 3-48)

Di chuyển trọng tâm về trước, khi đến hai tay, co cẳng tay, cúi đầu,

cuộn tròn lần lượt qua phần sau đầu, gáy, lưng, mông, gót chân thực hiện

động tác lộn về trước (hình 3-49).

80

Khi cơ thể lộn đến phần lưng tiếp đất, thuận theo tư thế co gối ôm đùi.

Cố gắng sao cho phần gối và ngực ép sát vào nhau (hình 3-50)

Khi hai chân tiếp đất, cánh tay xốc lên cao, lưng thẳng, đồng thời duỗi

hai chân, tạo thành động tác chuẩn bị khi đứng (hình 3-51)

Hình 3-48 Hình 3-49 Hình 3-50 Hình 3-51

8.1.2. Những điểm cần chú ý

Trong quá trình lộn, trình tự tiếp đất như sau: Phần sau đầu, gáy, lưng

và cuối cùng là mông.

Khi lộn đầu phải cúi, lực đẩy của hai tay phải cân đối, đồng đều

8.1. 3. Phương pháp giúp đỡ

HLV đứng về một bên của VĐV, đợi khi VĐV lộn về trước, dùng tay

ép phần lưng của VĐV, tay kia đẩy mông, phụ giúp VĐV thực hiện lộn về

trước, sau đó giữ phần hông giúp VĐV đứng chắc (hình 3-52)

Hình 3-52

81

8.2. Lộn trước ôm gối có đà.

8.2.1. Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng sau đó hơi co gối, 2 tay đưa về

sau chếch lên cao.

8.2.2. Kỹ thuật động tác: Hai tay đưa về trước, đồng thời hai chân

đạp đất nhảy với về trước (chân và mông phải cao hơn vai), hai chân thẳng

khép chặt, ngực hóp khi bàn tay chạm thảm nhanh chóng cúi đầu lộn về trước

dùng sức ghìm đặt từ gáy – lưng đến mông xuống thảm. Lúc lưng chạm

nhanh chóng co gối đứng dậy (Hình 3-53).

Hình 3-53. Lộn trước ôm gối có đà

* Chú ý :

- Quá trình thực hiện động tác toàn thân cần được khống chế chắc

chắn, tránh thả lỏng.

- Khi nhảy với phải đạp thẳng hết chân theo hướng ra trước và lên cao.

- Hình thành được giai đoạn bay trên không trước khi chống tay.

8.2.3. Sai lầm thường mắc

- Không đạp hết chân và co sớm.

- Đạp nhoài ra trước, không đạp lên cao hay ngược lại.

- Khi đạp chân, không nâng được mông và chân lên cao hơn vai.

- Không cúi đầu và hay thả lỏng.

Chính vì những nguyên nhân trên khiến động tác không gọn nhẹ mà

thường bị đập lưng xuống thảm mạnh.

82

8.2.4. Bảo hiểm và giúp đỡ: Người bảo hiểm quỳ bên cạnh người tập,

một tay đỡ vai để tránh người tập thả lỏng không ghìm tay, một tay sẵn sàng

tiếp thêm lực vào đùi nâng lên, để phòng trường hợp người tập đạp không

đúng phương hướng nhoài người về trước.

8.2.5. Các bước tập luyện

- Đầu tiên cho tập lộn xuôi tại chỗ, sau đó chống tay xa chân hơn để

có điều kiện đạp hết chân.

- Khi thực hiện đã tương đối thuần thục có thể tập nhảy với qua

chướng ngại để lộn xuôi như vậy sẽ nâng cao được chất lượng động tác.

8.3. Lộn sau ôm gối

8.3.1 Phương pháp động tác

Tư thế chuẩn bị: Bắt đầu từ ngồi xổm.

Quá trình động tác: Sau khi đổ thân người ra sau, hai tay lập tức dùng

sức đẩy khiến thân trên nhanh chóng ngả ra sau. Hai cánh tay co và đặt trên

vai, lòng bàn tay hướng lên trên, ngón tay hướng ra sau, kéo cơ thể lộn về

phía sau, hai chân co, đầu gối ép sát với phần ngực, hóp bụng, khiến phần

mông, lưng, vai, cổ, đầu lần lượt tiếp đất, cuộn tròn về sau (hình 3-54)

Hình 3-54

Khi cơ thể lộn đến phần vai tiếp đất, hai tay thuận theo tư thế chống

xuống đất, lòng bàn tay hướng về sau, ngón tay gần với phần vai.

83

Khi cơ thể lộn đến phần sau gáy, phía sau đầu tiếp đất, hai tay nhanh

chóng đẩy mạnh, tiếp đất bằng hai chân và ngồi thành tư thế ngồi xổm.

8.3.2. Những điểm cần chú ý

- Trước khi lộn sau, cùng lúc với trọng tâm cơ thể chuyển động về

trước, lập tức sử dụng hai tay chống xuống đất tạo lực, cơ thể nhanh chóng

ngả ra sau, thuận theo quán tính thực hiện động tác lộn sau.

- Trong quá trình lộn sau, bộ phận tiếp đất của cơ thể lần lượt sẽ là

phần mông, eo, lưng, vai, hai tay và cuối cùng là phần sau đầu.

- Để giảm nhẹ khối lượng của phần đầu khi tiếp đất, hai tay chống

xuống đất cần tốc độ và có lực, khiến phần phía sau đầu tiếp đất một cách nhẹ

nhàng.

8.3.3. Phương pháp giúp đỡ

HLV đứng về một bên của VĐV, đặt tay lên vị trí eo của VĐV, giúp

VĐV hoàn thành động tác.

8.4. Lộn sau trồng chuối

8.4.1. Phương pháp động tác

Tư thế chuẩn bị: Bắt đầu từ động tác ngồi xổm. Thực hiện động tác

lộn sau ôm gối, khi cơ thể cuộn tròn đến lúc phần đầu tiếp đất, dùng sức của

hai tay làm trụ, ngẩng đầu; đồng thời duỗi hông và hai chân nhanh chóng duỗi

thẳng lên trên, mũi chân duỗi, lưng thẳng, duỗi hông, khiến cơ thể sau khi lộn

sau thành tư thế trồng chuối (hình 3-55)

Hình 3-55

84

8.4.2. Những điểm cần chú ý

- Khi hai tay chống trụ, động tác ngẩng đầu, duỗi hông và hai chân

duỗi thẳng lên trên phải được thực hiện cùng lúc.

- Khi lộn sau trồng chuối, dùng sức của hai tay làm trụ cùng với thẳng

lưng để khống chế cơ thể.

8.4. 3. Sai lầm thường mắc

- Sau khi tay chống đất làm trụ, động tác duỗi chân quá sớm hoặc quá

muộn đều dẫn đến xu hướng cơ thể đổ về trước hoặc ngả ra sau.

- Sau khi trồng chuối, cánh tay hơi co và có thể di chuyển.

8.4.4. Phương pháp giúp đỡ

HLV đứng ở phía chếch sau của VĐV, đợi khi VĐV thực hiện lộn sau

đến duỗi thẳng chân, lập tức nắm hai cổ chân VĐV kéo lên trên, giúp VĐV

hoàn thành động tác trồng chuối (hình 3-56)

Hình 3-56

8.5. Lộn nghiêng chống tay

8.5.1. Kỹ thuật động tác

Động tác lộn nghiêng chống tay thực hiện bên trái, (phải) trên một

đường thẳng đứng. Tư thế kết thúc hai tay dang ngang, hai chân dạng rộng

bằng vai. Muốn thực hiện động tác lộn nghiêng chống tay đúng, cần bắt đầu

từ chống tay trái trước (nếu thực hiện lộn sang trái), chân và tay đều đặt trên

85

một đường thẳng,hai chân xoạc rộng trên không. Thực hiện chống từng tay,

lăng một chân duỗi hông, đẩy tay liên tục và giậm bật một chân lên kết thúc

tay dang ngang hoặc chếch cao, đầu ngửa (Hình 3-57).

Hình 3-57 Lộn nghiêng chống tay

8.5.2. Phương pháp giảng dạy

- Chuối ngang xoạc hai chân rộng, thân người thẳng.

- Từ tư thế chuối xoạc ngang,có giúp đỡ hạ từng chân, đẩy từng tay,

thành tư thế hai chân dạng ngang, hai tay ngang, trên một đường thẳng song

song mặt đất.

- Thực hiện toàn bộ động tác lộn nghiêng chống tay, có bảo hiểm giúp

đỡ. Sau đó thực hiện.

8.5.3. Sai lầm thường mắc: Cúi đầu, gập hông và chống tay sai vị trí.

8.5.4. Bảo hiểm giúp đỡ: Đứng bên cạnh quan sát và di chuyển theo

người tập. Nếu lộn nghiêng chống tay bên trái, người cùng tập tay trái đón đỡ

lườn, tay phải đỡ vai, Cũng có thể hai tay đỡ lườn người tập.

8.6. Kỹ thuật lộn trước dậy thẳng chân

8.6.1. Kỹ thuật động tác

Tư thế chuẩn bị : Đứng nghiêm. Hai tay đưa ra sau, chân khuỵu, thân

hơi đổ trước. Đạp mạnh chân, hai tay đánh về trước, tạo giai đoạn bay trên

không, hông hơi gập,mất nhìn theo tay, đầu ngửa. Chuẩn bị tiếp đất, đầu cúi, ,

chống cả bàn tay,gập thân thực hiện lộn xuôi nhanh. Khác với lộn xuôi bó

gối, chân duỗi thẳng, thân người sau khi lăn qua lưng, gập nhanh về phía

86

trước, hai tay chuyển về trước, chống sát kheo chân, đẩy vuốt ra sau gập thân

sâu lao về trước. Đứng dậy chân thẳng, thân người duỗi lên cao, hai tay đưa

lên cao , đầu ngửa.

8.6.2. Phương pháp giảng dạy

- Đứng hoặc ngồi gập thân tập mô phỏng chậm động tác.

- Nhảy với lộn xuôi kỹ thuật đúng.

- Lộn xuôi dậy thẳng chân từ đệm đặt đầu cao, đầu thấp.

- Lộn xuôi dậy thẳng chân, có giúp đỡ.

8.6.3. Sai làm thường mắc

- Lộn xuôi không đúng kỹ thuật.

- Chân co khi làm động tác.

8.6.4. Bảo hiểm giúp đỡ: Người giúp đỡ quỳ bên cạnh, ở nửa thứ hai

của động tác, tay đẩy sau đùi, tiếp sức ở thời điểm cuối cho người tập dứng

dậy thẳng chân.

8.7. Lộn chống nghiêng quay 900.

8.7.1. Kỹ thuật động tác

Động tác lộn nghiêng chống tay thực hiện bên trái (phải), trên một mặt

phẳng thẳng đứng. Tư thế chuẩn bị hai tay dang ngang hoặc chếch cao.Bước

một chân về trước để tạo đà, bàn chân hơi mở ra ngoài, hai tay trên cao đổ

người về trước tay chống xuống thảm, chân và tay đều đặt trên một đường

thẳng tưởng tượng đồng thời lăng chân duỗi hông ra sau lên cao về trước,

thân người thẳng, hai chân xoạc rộng trên không, tiếp tục đẩy tay cho thân

người đổ về trước. Chân lăng rơi xuống trước chân còn lại ke, dồn trọng

tâm lên chân trụ, lúc này người tập duỗi hông quay người 900 từ mũi chân ke đến

toàn thân và miết chân ke về tư thế ban đầu.

8.7.2. Phương pháp giảng dạy

- Chuối ngang xoạc hai chân rộng, thân người thẳng.

87

- Từ tư thế chuối xoạc ngang, hạ từng chân, đẩy từng tay, thành tư thế

thăng bằng nghiêng hai tay trên cao, trên một đường thẳng song song mặt đất.

- Thực hiện toàn bộ động tác lộn nghiêng chống tay quay 900, có bảo

hiểm giúp đỡ.

8.7.3. Sai lầm thường mắc :

- Chân tay không nằm trên một đường thẳng tưởng tượng.

- Gập hông thả lỏng, co chân và chống hai tay cùng một lúc, đẩy tay

duỗi hông chậm.

- Quay người không đúng phương hướng khi thực hiện động tác.

8.7.4. Bảo hiểm giúp đỡ : Đứng bên cạnh người tập. Nếu lộn nghiêng

chống tay bên trái, người cùng tập tay trái đỡ lườn tay phải đỡ vai. Cũng có

thể hai tay đỡ lườn người tập.

8.8. Lộn chống trước xuống một chân

8.8.1. Kỹ thuật động tác

Sau khi chạy đà ra trước, bước một chân về trước, gập thân hóp ngực,

hai tay chuẩn bị chống đất, hai chân hơi chùng co ở khớp gối. Khi hai tay

chạm đất, hai chân thẳng, lăng chân nhanh ra sau lên trên qua tư thế chuối

tách chân, đầu hơi ngửa. Khi thân người đã qua phương thẳng đứng, đẩy tay

nhanh tiếp tục lộn về trước duỗi căng hông, đầu giữ thẳng thành tư thế đứng

trên một chân, hai tay lên cao chân trụ hơi chùng. Tiếp đất bằng mũi chân, sau

đó là cả bàn chân (Hình 3-58).

Hình 3-58. Lộn chống trước xuống một chân

88

8.8.2. Phương pháp giảng dạy:

- Tập đổ dẻo trước một chân.

- Lăng chuối đẩy tay vào tường và trên thảm.

- Thực hiện động tác bật cầu một chân có người bảo hiểm giúp đỡ.

Sau đó tự thực hiện.

8.8.3. Sai làm thường mắc: Đổ vai về trước, tay chống co, cúi đầu,

đẩy tay duỗi hông chậm.

8.8.4. Bảo hiểm giúp đỡ: Di chuyển theo người tập một tay đỡ vai,

một tay dỡ lưng.

8.9. Kỹ thuật lộn trước thành chống

8.9.1. Kỹ thuật động tác

Giai đoạn đầu giống như bật cầu một chân. Sự khác biệt là ở chỗ chân

lăng nhanh và gặp nhau khép chân ở tư thế chuối tay. Ở giai đoạn hai, đẩy tay

thân người bay ở tư thế chân lăng ra sau, hai tay lên cao, đầu ngửa. Tiếp đất

bằng nữa bàn chân trên, sau đó là cả bàn chân, đầu gối hơi chùng (Hình 3-59).

8.9.2. Phương pháp giảng dạy:

- Lăng chuối đẩy tay dựa tường và trên thảm.

- Lăng chuối khép chân, đẩy tay ở tư thế nằm ngửa trên tay người bảo

hiểm đứng đối diện.

- Kê 5 - 6 đệm cao lăng chuối, đẩy tay nằm ngửa trên đệm.

- Thực hiện toàn bộ động tác, có người giúp đỡ.

8.9.3. Sai lầm thường mắc: Cúi đầu lao vai về trước và không tạo

được giai đoạn bay trên không lần 2, đẩy tay duỗi hông chậm.

8.9.4. Bảo hiểm giúp đỡ: Một tay đỡ vai một tay đỡ lưng.

89

Hình 3-59. Kỹ thuật lộn trước thành chống.

8.10. Đà Rolđat tiếp lộn chống sau

- Đà Rolđat.

8.10.1. Kỹ thuật động tác

Sau khi chạy đà, thực hiện động tác ở giai đoạn một như giai đoạn

một của động tác lộn nghiêng chống tay, nhưng tay không chống trên một

đường thẳng mà để chéo tay qua hướng chân dậm, khi qua tư thế chuối tay

trên không hai chân khép lại đồng thời xoay người. Tiếp theo tích cực đẩy tay,

gập nhanh khớp hông sâu, hai bàn chân vào sát điểm chống tay. Kết thúc

động tác, hông hơi gập, người quay về hướng ngược lại hướng ban đầu (Hình

3-60).

Hình 3-60. Đà Rolđat

8.10.2. Cách thực hiện

- Lộn nghiêng chống tay.

90

- Từ chuối đẩy tay quay người gập thân.

8.10.3. Sai lầm thường mắc

- Vươn ngực quay người chậm và không đúng hướng.

- Không tích cực đẩy tay gập hông.

8.10.4. Bảo hiểm giúp đỡ: Một tay đỡ vai một tay đỡ lưng.

- Lộn sau chống tay

8.10.5. Kỹ thuật động tác: Kết thúc đà Rolđat ở tư thế gập thân,

chùng gối, trọng tâm trôi về phía sau chủ động ngã vai và thân trên, hai tay

nhanh chóng đánh mạnh lên cao ra sau đầu ngửa duỗi chân đẩy hông nâng

trọng tâm (Hình 3-61).

Hình 3-61. Lộn sau chống tay

8.10.6. Cách thực hiện

- Đổ dẻo sau có người đỡ.

- Tạo đà bật lên cao - ngả sau trên đệm cao.

- Thực hiện động tác có người giúp đỡ.

8.10.7. Sai lầm thường mắc

- Không phối hợp được giữa đánh tay, duỗi hông lên cao, đầu cúi.

- Ngả vai sớm khi thực hiện.

8.10.8. Bảo hiểm giúp đỡ: Một tay đỡ vai một tay đỡ lưng.

91

Chương 4

KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG CÁC KỸ THUẬT LÊN THÁP CỦA THỂ DỤC

CỔ ĐỘNG

1. Kỹ thuật lên tháp cơ bản

1.1. Tạo hình kim tự tháp

Tạo hình kim tự tháp (Pyramid): Là tạo hình có dáng kim tự tháp được

hình thành bởi một hoặc nhiều người đỡ tháp làm nhiệm vụ tạo giá chống cho

một hoặc nhiều người lên tháp. Tổ hợp các thành viên trong tạo hình kim tự

tháp cùng nhau hỗ trợ, cùng liên kết với nhau tạo thành khối thống nhất. Yêu

cầu đối với tạo hình này là phải luôn duy trì ở trạng thái thẳng đứng vuông

góc với sàn biểu diễn.

Khi người lên tháp hoàn thành xuất sắc động tác kết thúc, sự kết nối

của các động tác riêng lẻ còn lại khác sẽ hình thành nên tạo hình kim tự tháp.

Kim tự tháp là một trong những kiểu tạo hình mới mẻ, thu hút sự chú ý của

khán giả nhất, góp phần tăng thêm sức ảnh hưởng cho toàn đội, lột tả được

khả năng kết hợp của tập thể đến với người xem. Tổ hợp của những động tác

lên tháp riêng lẻ sẽ hình thành nên được tạo hình kim tự tháp phức tạp, tiền đề

của một tạo hình kim tự tháp vững chắc và an toàn, đó là mỗi nhóm tạo hình

riêng lẻ phải tự hoàn hành nhiệm vụ của mình một cách độc lập. Chuẩn mực

động tác lên tháp riêng lẻ vẫn được áp dụng đối với tạo hình kim tự tháp,

nhưng VĐV bắt buộc phải hoàn thành tạo hình đơn giản trước, mới có thể quá

độ đến tạo hình phức tạp. Yêu cầu đầu tiên và trên hết đối với tạo hình kim tự

tháp đó là tính an toàn.

1.1.1. Tạo hình kim tự tháp một cách an toàn

Sau khi tạo hình riêng lẻ hoàn thành, các VĐV mới có thể thực hiện

tiếp động tác kết nối. Kim tự tháp cần rất nhiều VĐV để thực hiện, do đó sự

phối hợp giữa VĐV với nhau rất quan trọng. Khi lên và xuống tháp, VĐV

92

phải bắt buộc tập trung cao độ và nắm rõ thời gian thực hiện động tác, thực

hiện sao cho đồng bộ về thời gian. Khi lên tháp, thông thường sẽ phải tuân thủ

theo khẩu hiệu, nhịp nhất định. Khi mới thực hiện tạo hình kim tự tháp, cần

chọn một người hô khẩu hiệu, tốt nhất người hô khẩu hiệu này nên là thành

viên bảo hộ vị trí giữa đội hình, để mỗi thành viên trong đội đều có thể nghe

được khẩu hiệu hô. Động tác chỉ huy trong khẩu hiệu khi lên tháp phức tạp

thường dùng đó là: “1,2,3, lên”

Kết cấu tổng thể của kim tự tháp bao gồm người đỡ tháp, người lên

tháp và người bảo hộ. Các động tác của người lên tháp như tay nắm tay, vai

kề vai hoặc tay nắm vào cổ chân đều cần có sự hỗ trợ lẫn nhau để làm điểm

tựa. Nếu cần điểm tựa mà chỉ sử dụng động tác tay nắm tay hoặc kéo tay của

đồng đội, chắc chắn tạo hình sẽ bị nghiêng hoặc dễ đổ, điểm tựa hợp lý đó là

có độ cao ngang vai hoặc hơi thấp hơn vị trí của vai (ngoại trừ những tình

huống đặc biệt). Trước khi học lên tháp, mỗi một thành viên phải nắm rõ

nhiệm vụ của chính mình, nhiệm vụ tại từng vị trí của mỗi VĐV cùng chức

năng cá nhân khi thực hiện động tác lên tháp đơn giản đều quan trọng như

nhau. Chỉ khi từng VĐV nắm rõ và hoàn thành xuất sắc trách nhiệm của mình,

thì tạo hình tổng thể của kim tự tháp mới được an toàn và chắc chắn.

Tất nhiên, trong mỗi tạo hình ki tự tháp đều có nhiều động tác riêng lẻ

không giống nhau, sự khác biệt đó được thể hiện qua những phương diện dưới

đây:

Người đỡ tháp:

VĐV ở từng vị trí cần kết hợp chặt chẽ với nhau, nhưng khoảng cách

không được quá hẹp, nhằm tránh ảnh hưởng đến biên độ thực hiện động tác

của nhau.

Thực hiện động tác nâng người nhanh chóng, dứt khoát. Người đỡ

tháp bắt buộc phải căn cứ đúng theo khẩu hiệu, nhịp phách hoặc hiệu lệnh để

hoàn thành động tác, nhằm bảo đảm sự đồng bộ về thời gian.

93

Người lên tháp

Người lên tháp cần nắm vững và thuần thục những kỹ xảo liên quan,

điều này đặc biệt quan trọng đối với quá trình thực hiện tạo hình.

Người lên tháp cần khống chế tốt trọng tâm, tránh bị ngã, ảnh hưởng

đến những thành viên khác.

Người lên tháp có thể làm điểm tựa cho những thành viên còn lại tại vị

trí có độ cao hơn so với vai của mình.

Người bảo hiểm

Tập trung chú ý cao độ, chuẩn bị sẵn sàng đỡ người lên tháp tại những

vị trí đã được chỉ định.

Người bảo hiểm cần nắm rõ tình hình của tất cả những người lên tháp,

nếu người lên tháp không may bị rơi xuống, cần đỡ và bảo hiểm kịp thời

Trợ giúp kịp thời khi người đỡ tháp cần sự giúp đỡ, nhằm tạo độ kiên

cố cho tháp

Kim tự tháp cần người bảo hiểm cả phía trước lẫn phía sau, để bảo

đảm độ an toàn cần thiết, lực lượng bảo hiềm phải đầy đủ

Khi tiếp đất, những người thực hiện cần nắm rõ khẩu lệnh đồng thời

khống chế động tác hợp lý. Động tác thực hiện rõ ràng, quá trình động tác

phải bảo đảm an toàn, mỗi một thành viên đỡ tháp phải nắm bắt chính xác

thời gian và khẩu lệnh khi tiếp đất của người lên tháp.

1.1.2. Nguyên tắc chỉ đạo an toàn trong tạo hình kim tự tháp

Độ cao của tháp không vượt quá 2 người.

Mỗi một người lên tháp đều phải có một người bảo hiểm kèm theo.

Người lên tháp không được tự ý di chuyển vị trí thành viên phía dưới

tháp.

Người đỡ tháp và những thành viên khác không được hoán đổi vị trí,

đầu của người lên tháp không nên quá ngửa ra sau.

94

Tạo hình kim tự tháp không được xuất hiện bất kỳ động tác chống

chuối nào.

Khi người đỡ tháp làm nhiệm vụ chống trụ cho người lên tháp, phần

lưng không được ngửa ra sau.

Khi người đỡ tháp làm nhiệm vụ chống trụ, không được xuất hiện

động tác chống trụ bằng 1 chân.

1.2. Tổ hợp thành viên thực hiện động tác lên tháp

Thành viên ở vị trí trên cùng trong động tác lên tháp được xem là

những người giỏi nhất, đội ngũ này do một hoặc một nhóm người cùng nhau

hỗ trợ hoàn thành các động tác đứng trụ hoặc các dạng thăng bằng. Thành

viên ở vị trí dưới nhất trong động tác lên tháp được gọi là người đỡ tháp, vai

trò của nhóm người này chính là nhiệm vụ làm trụ, đồng thời trụ trách hỗ trợ

cho những người lên tháp tiếp đất. Trách nhiệm chính của người bảo hiểm là

giúp đỡ cho người lên tháp, đồng thời hỗ trợ người đỡ tháp và đồng đội trong

các động tác mang tính kỹ xảo, nhằm tăng thêm độ ổn định. Trong các động

tác mang tính kỹ xảo, người bảo hiểm bị khống chế về thời gian giúp đỡ, nêm

nhất định phải tập trung chú ý cao độ.

Nhóm động tác mang tính kỹ xảo được cấu thành bởi 3 vị trí cơ bản

gồm: người đỡ tháp, người lên tháp và người bảo hiểm. Thông thường, hai

hoặc nhiều hơn hai người sẽ tạo thành được giá đỡ, nhưng đối với một số kỹ

xảo đặc biệt chỉ cần một người cũng có thể đảm nhận được vai trò của người

đỡ tháp. Có khi kỹ xảo lên tháp cần đến hai người bảo hiểm một ở đằng trước

và một ở đằng sau nhằm tăng thêm độ ổn định muốn có, như vậy mới có thể

thực hiện động tác lên tháp một cách chuẩn xác, an toàn. Chỉ khi mọi người

đoàn kết hợp tác, phối hợp ăn ý, thì động tác lên tháp mới được an toàn, giữa

các đồng đội cũng sẽ xây dựng được niềm tin với nhau.

1.2.1. Người đỡ tháp

95

Người đỡ tháp được xây dựng bởi những thành viên làm nhiệm vụ

chống trụ cho đồng đội, trách nhiệm của người đỡ tháp đó là tạo nên giá đỡ

vững chắc, kiên cố, đồng thời hỗ trợ cho người lên tháp tiếp đất an toàn. Khi

đứng trên mặt đất, người đỡ tháp luôn ở trong tư thế chuẩn bị di chuyển, hơn

nữa còn phải sẵn sàng điều chỉnh tư thế nhằm bảo đảm độ ổn định cho động

tác lên tháp. Người đỡ tháp bắt buộc phải cố định, khống chế chắc đùi và cánh

tay khi đang thực hiện động tác. Người đỡ tháp cần sắp xếp thời gian một

cách tỉ mỉ và chính xác, thực hiện động tác chuẩn xác, nhẹ nhàng. Nếu 2

thành viên của nhóm người đỡ tháp đồng đều về cả chiều cao lẫn cân năng,

thì quá trình hoàn thành động tác tương đối ăn ý và thoải mái. Dưới đây là

một số yêu cầu kỹ thuật đối với người đỡ tháp:

- Ngực ưỡn, đầu ngẩng, lưng thẳng.

- Hai chân phải cố định.

- Khi đỡ, dùng sức của chân và phát lực theo phương hướng lên trên

- Khi có nhiều thành viên làm nhiệm vụ đỡ tháp, bắt buộc phải tựa sát

nhau trong suốt quá trình thực hiện, cự li giãn cách không được lớn hơn độ

rộng vai của đồng đội.

- Mắt phải nhìn theo đồng đội

- Khi hỗ trợ người lên tháp tiếp đất, vị trí đón phải cao

Phương pháp đứng và phương pháp nắm tay cơ bản của người đỡ

tháp.

Phương pháp đứng:

Đứng trên đùi: Mặt trong cánh tay của người đỡ tháp tỳ chắc vào phần

đùi hoặc đầu gối của người lên tháp, mặt ngoài cánh tay đẩy cao thành tay

kiểu Tây Ban Nha (hình 4-1)

Đứng trên vai: Khi người lên tháp đứng trên vai của người đỡ tháp,

tay người đỡ tháp tỳ chắc vào mặt trong cẳng chân người lên tháp nhằm duy

96

trì độ ổn định, đồng thời khuỷu tay hướng ra trước và bảo đảm luôn ở trong

trạng thái gồng chắc (hình 4-2)

Hình 4-1 Hình 4-2

Phương pháp nắm tay:

Kiểu bắt tay: Người đỡ tháp và đồng đội giữ liên kết theo kiểu tay bắt

tay (hình 4- 3)

Kiểu bốn ngón tay hướng ra trước: Mặt ngoài lòng bàn tay hướng lên

trên tỳ chắc vào cánh tay người lên tháp, mặt trong lòng bàn tay hướng lên

trên, bốn ngón tay hướng ra trước, ngón tay cái hướng ra sau đỡ vào hố nách

của người lên tháp (hình 4-4).

Hình 4- 3 Hình 4- 4

97

1.2.2. Người lên tháp

Trách nhiệm của người lên tháp là hoàn thành động tác tạo hình một

cách đẹp mắt. Yêu cầu người lên tháp cần có ý thức và khả năng khống chế

tốt. Khi thực hiện động tác, đòi hỏi người lên tháp thực hiện động tác tạo hình

phải ổn định, bao gồm từ rơi trong không trung đến khi toàn bộ động tác tạo

hình kết thúc. Dưới đây là một số yêu cầu kỹ thuật đối với người lên tháp:

- Trong quá trình lên tháp, cánh tay phải gồng chắc, nhằm tăng độ ổn

định cho cơ thể.

- Khi thực hiện động tác tạo hình, hai chân phải khép chặt, tránh

trường hợp khi tách rời, lực của chân sẽ đẩy các thành viên thuộc nhóm người

đỡ tháp ra.

- Khi giữ động tác tạo hình, phải hóp bụng, thẳng lưng, giữ chắc phần

hông.

- Vai, hông, khớp gối và cổ chân phải nằm trên một đường thẳng, duy

trì độ cố định tổng thể.

1.2. 3. Người bảo hiểm

Trách nhiệm chính của người bảo hiểm là giúp đỡ người lên tháp.

Người bảo hiểm luôn phải đứng ở dưới đất, phối hợp với người đỡ tháp và

người lên tháp trong quá trình thực hiện giúp tăng độ ổn định cần có. Do

người bảo hiểm bị khống chế về thời gian giúp đỡ, nên họ phải tập trung chú

ý cao độ, giúp đỡ kịp thời cho người lên tháo, tránh xảy ra những sự cố đáng

tiếc. Dưới đây là một số yêu cầu kỹ thuật đối với người bảo hiểm:

- Tập trung chú ý.

- Mắt nhìn theo người lên tháp.

- Khi đỡ tiếp đất, đứng ngay tại vị trí của người lên tháp.

- Hỗ trợ khống chế động tác lên tháp.

- Căn cứ theo yêu cầu động tác, bảo hiểm kịp thời cho người lên tháp.

98

2. Phân loại và yêu cầu đối với nhóm động tác lên tháp

Động tác lên tháp là một kỹ xảo đặc biệt trong thể dục cổ động, mục

đích ban đầu của việc ứng dụng động tác này đó là thực hiện giao lưu, hoạt

náo đối với những khán giả ngồi ở vị trí khá xa khi xem thi đấu. Phân loại

động tác lên tháp như sau:

Bảng 4.1. Phân loại động tác lên tháp

Phân loại lên tháp

Lên tháp vị trí hông Lên tháp vị trí vai Lên tháp vị trí cao

Lên tháp vị trí hông một Lên tháp vị trí vai một Lên tháp vị trí cao một

người đỡ người đỡ người đỡ

Lên tháp vị trí hông hai Lên tháp vị trí vai hai Lên tháp vị trí cao hai

người đỡ người đỡ người đỡ

Lên tháp vị trí vai ba Lên tháp vị trí cao ba

người đỡ người đỡ

2.1. Lên tháp vị trí hông

Điểm thấp nhất của cơ thể người lên tháp ở vào vị trí hông của người

đỡ tháp, được gọi là lên tháp vị trí hông

2.1.1. Lên tháp vị trí hông một người đỡ

Đứng chữ “L” (hình 4-5)

Người đỡ tháp: Bước một chân về trước tạo thành tư thế đứng chân

rộng trước sau (bất kỳ hướng nào đều được), chùng gối sao cho đùi song song

với mặt đất, khớp gối không được vượt qua mũi chân, chân sau duỗi thẳng và

gồng chắc. Khi người lên tháp đứng trên đùi, cánh tay và lòng bàn tay ôm

chắc lấy khớp gối, khiến tư thế đứng càng thêm ổn định. Ép chân đồng thời cơ

thể đổ về trước giúp duy trì thăng bằng cho những động tác khó. Khi người

lên tháp nâng chân còn lại, cố gắng nắm lấy phần gần nhất của cổ chân đồng

thời đẩy chân lên cao, duỗi thẳng cánh tay, tạo thành hình chữ “L”.

99

Người lên tháp: Đứng ở phía sau người đỡ tháp. Khi bước, song song

với đè ép lên vai của người đỡ tháp, nâng chân phía ngoài về trước, đứng lên

đùi của người đỡ tháp, gồng chắc và duỗi thẳng chân, trọng tâm chùng với

trọng tâm của người đỡ tháp nhằm duy trì thăng bằng. Sau khi đã thăng bằng,

nâng chân kia vòng qua sau đầu người đỡ tháp tạo thành hình “L”, để người

đỡ tháp giữ tay vào chân của mình. Mũi chân hướng về trước.

Người bảo hiểm: Khi người lên tháp nhảy lên bắt đầu thực hiện động

tác, đỡ vào lưng giúp cố định đồng thời hộ trợ cho những động tác có độ khó.

Khi người lên tháp tiếp đất, người bảo hiểm di chuyển sang một bên và giữ

chắc vào lưng của người lên tháp.

Hình 4-5

Đứng co gối 1 chân (hình 4-6)

Người đỡ tháp: Bước một chân về trước tạo thành tư thế đứng chân

rộng trước sau (bất kỳ hướng nào đều được). Khi người lên tháp bước lên,

dùng tay ngoài giữ chắc vào cổ chân của người thực hiện, tay kia giữ ở vị trí

khớp gối, giúp tư thế đứng của người lên tháp thêm ổn định.

Người lên tháp: Khi bước, chân dùng sức đạp đất tạo lực đứng lên trên

đùi của người đỡ tháp, khóa chặt và duỗi thẳng chân. Trọng tâm rơi vào trung

tâm của người đỡ tháp, nhằm duy trì thăng bằng. Nâng và co gối chân còn lại,

duỗi mũi chân. Tay nâng cao thành hình chữ “V”.

100

Người bảo hiểm: Khi người lên tháp bắt đầu thực hiện động tác, giữ

chắc giúp cố định phần hông đồng thời chú ý giúp đỡ trong suốt quá trình thực

hiện.

Hình 4-6

Đứng khống chế một chân (trước hoặc ngang) (hình 4-7)

Người đỡ tháp: Bước một chân về trước tạo thành tư thế đứng chân

rộng trước sau (bất kỳ hướng nào đều được). Khi người lên tháp bước lên,

dùng tay ngoài giữ chắc vào cổ chân của người thực hiện, tay kia giữ ở vị trí

khớp gối, giúp tư thế đứng của người lên tháp thêm ổn định.

Người lên tháp: Khi bước, chân phía trong dùng sức đạp đất tạo lực

đứng lên trên đùi của người đỡ tháp, khóa chặt và duỗi thẳng chân. Trọng tâm

rơi vào trung tâm của người đỡ tháp, nhằm duy trì thăng bằng. Chân ngoài đá

về trước, lên cao hoặc đá sang ngang, lên cao, mũi chân duỗi. Hai tay di

chuyển lên cao tạo thành hình chữ “V”.

Người bảo hiểm: Khi người lên tháp bắt đầu thực hiện động tác, giữ

chắc giúp cố định phần hông đồng thời chú ý giúp đỡ trong suốt quá trình

thực hiện.

Hình 4-7

101

2.1.2. Lên tháp vị trí hông hai người đỡ

Ý chỉ có hai người đỡ tháp đảm nhận nhiệm vụ chống trụ để hoàn

thành động tác lên tháp vị trí hông.

Lên tháp tư thế đứng hai chân hai người đỡ.

Hai người đỡ tháp đứng đối diện nhau với tư thế chân rộng trước sau,

một người chân trái bước lên trước, người kia chân phải bước lên trước.

Hướng của người lên tháp chùng với hướng cơ thể của người đỡ tháp, hai

chân người lên tháp đứng trên vị trí đùi chân bước về trước của hai người đỡ

tháp, thân trên ưỡn thẳng và giữ thăng bằng. Tay cùng phía với chân bước lên

trước của mỗi người đỡ tháp vòng qua sau một chân người lên tháp, co tay ôm

chặt chân trụ người lên tháp, giúp giữ thăng bằng cho cơ thể. (hình 4-8)

Hình 4-8

Chú ý: mũi chân trụ của hai người đỡ tháp có thể chếch hình chữ “V”

hoặc áp sát nhau.

2.2. Lên tháp vị trí vai

Điểm thấp nhất của cơ thể người lên tháp ở vị trí vai của người đỡ

tháp, được gọi là lên tháp vị trí vai.

2.2.1. Lên tháp vị trí vai một người đỡ

Lên tháp tư thế ngồi trên vai một người đỡ (hình 4-9)

102

Hình 4-9

Người đỡ tháp: Chùng khớp gối nhưng chú ý không nên vượt quá mũi

chân, gồng chắc hai chân. Bắt đấu bằng tư thế đứng tấn thấp, khi người lên

tháp đã ngồi trên vai, hai tay người đỡ tháp vòng ra ngoài, bám chắc vào hai

chân người lên tháp. Khi chuyển động tành tư thế đứng thẳng, duỗi hai chân

dùng sức tạo lực, lưng thẳng.

Người lên tháp: Đứng ở phía sau người đỡ tháp. Khi thực hiện động

tác lên tháp, chân ngoài bước lên đùi người đỡ tháp, sau khi thăng bằng, chân

còn lại bước tiếp lên vai người đỡ tháp, ngồi xuống và co hai chân kẹp vào

thân người đỡ tháp phía dưới vai người đỡ tháp, hai tay nắm hờ, chống hông.

Người bảo hiểm: Đứng ở phía sau người đỡ tháp, hai tay giữ chặt lấy

hông của người lên tháp.

Ngồi trên vai (Shoulder Straddle): Người lên tháp ngồi trên vai

người đỡ tháp. Đây là kỹ thuật cơ bản trong cổ động. Để thực hiện động tác

này, cách cơ bản là áp dụng các bước như thực hiện kỹ thuật bước lên một

chân đứng chữ L ở trên, thay vì đứng thẳng thì sẽ quàng chân còn lại qua cổ

người làm trụ, người làm trụ đứng thẳng lên và hai tay ôm vào 2 đầu gối của

người ngồi trên. Đây là cách lên dành cho người mới tập, còn với kỹ thuật

nâng cao (dành cho đôi nam nữ) thì chúng ta sẽ sử dụng lực tay của nam đỡ

103

và lực nhún của nữ lên tháp để phối hợp nâng lên cổ (Hình 4-10). Khi xuống

tháp trở về tư thế ban đầu thì thực hiện ngược lại (Hình 4-11).

Hình 4-10: Ngồi trên vai

Hình 4-11: Xuống khi ngồi trên hai vai

Lên tháp tư thế đứng trên vai một người đỡ (hình 4-12)

Người đỡ tháp: Hai chân giang ngang thành tư thế đứng tấn thấp, đưa

hai tay lên và sử dụng phương pháp nắm theo kiểu bắt tay, giữ chặt hai tay

của người lên tháp. Khi người lên tháp bước lên, lần lượt bỏ từng tay của

104

người lên tháp ra và giữ lấy cẳng chân của họ (phương pháp đứng trên vai),

đồng thời hướng khớp khuỷu về trước.

Hình 4-12

Người lên tháp: Đứng ở phía sau người đỡ tháp, sử dụng phương pháp

nắm kiểu bắt tay nắm lấy tay người đỡ tháp. Hai chân lần lượt bước lên vai

người đỡ tháp, khi duỗi chân kết hợp với giải phóng hai tay, đứng chắc và

ưỡn thân, tay tạo thành hình chữ “ V”.

Người bảo hiểm: Trong quá trình người lên tháp thực hiện động tác,

phải giữ chắc lần lượt phần hông, đùi và cẳng chân

Yếu điểm: Hai chân của người đỡ tháp chỉ giang rộng bằng vai, như

vậy sẽ giúp giữ thăng bằng được tốt hơn.

Lên tháp “kiểu Nga” (hình 4-13)

Người đỡ tháp: Hai chân giang ngang thành tư thế đứng tấn thấp, đầu

và lưng thẳng. Tay duỗi lên cao đỡ vào hố nách của người lên tháp. Song

song với chân dùng sức đạp đất tạo lực, hai tay duỗi thẳng lên cao.

Người lên tháp: Đứng ở phía sau người đỡ tháp, dùng sức mạnh từ

chân tạo lực bật nhảy lên cao, hai chân tách, hai tay nắm vào vị trí cổ cổ chân

hoặc cẳng chân, duỗi mũi chân, tay thẳng, ưỡn thân, ngẩng cao đầu.

105

Hình 4-13

Người bảo hiểm: Đứng ở phía sau người đỡ tháp, tay giữ chặt lấy hai

bên hông của người lên tháp

Lên tháp tư thế đứng một chân một người đỡ (hình 4-14)

Người đỡ tháp: Đứng sát cạnh người lên tháp, một tay nắm lấy cổ chân

người lên tháp, tay kia đỡ vào vị trí mông của người lên tháp, dùng sức mạnh từ

hai tay đưa người thực hiện lên vai để bắt đầu động tác.

Hình 4-14

Người lên tháp: Sử dụng phương pháp nắm theo kiểu bắt tay giữ chặt

lấy tay của người bảo hiểm. Khi nhảy lên cao, gập thân người, đồng thời duỗi

cánh tay; Khi đứng trên tay của người đỡ tháp, trọng tâm hơi ngả ra sau, vai

và mông phải cùng nằm trên một đường thẳng, chân còn lại co, đặt trên cánh

106

tay người đỡ tháp giúp giữ thăng bằng. Khi đã có thăng bằng, tay chếch cao

thành hình chữ “V”.

Người bảo hiểm: Đứng sát phía sau của người lên tháp, sử dụng

phương pháp nắm theo kiểu bắt tay, giữ chặt tay người lên tháp. Sau khi

người lên tháp đã có thăng bằng, tay đỡ vào hai bên hông của người lên tháp.

2.2.2. Lên tháp vị trí vai hai người đỡ

Lên tháp tư thế ngồi dạng chân hai người đỡ (hình 4-15)

Người đỡ tháp: Hai người đỡ tháp đứng đối diện nhau, chân rộng bằng

vai. Khi người lên tháp nâng chân phải, một tay người đỡ tháp nắm vào chân,

tay còn lại nắm vào cổ chân hoặc phần giữa cẳng chân người lên tháp. Khi

người lên tháp được nâng lên, hai tay người đỡ tháp thứ hai sẽ đỡ lấy mặt

dưới cổ chân và đùi chân còn lại của người lên tháp, đẩy họ lên vị trị vai.

Hình 4-15

Trong quá trình nâng người lên tháp, chân phía ngoài của hai người đỡ

tháp sẽ bước lên trước bên một bước tạo thành một góc nhỏ, để thêm ổn định

cho phần chống trụ.

Người lên tháp: Thực hiện theo tư thế ngồi dạng chân, hai tay chếch

cao thành hình chữ “V”

Người bảo hiểm: Tay đỡ vào vị trí mông của người lên tháp.

107

Lên tháp tư thế xoạc trên không hai người đỡ (hình 4-16)

Người đỡ tháp: Hai người đỡ tháp đứng đối diện nhau, chân rộng bằng

vai, ép chặt khớp khuỷu, lòng bàn tay hướng lên trên đỡ lấy cẳng chân người

lên tháp, nâng cổ chân người lên tháp đặt lên vị trí vai.

Người lên tháp: Hai chân duỗi thẳng, mũi chân duỗi, bảo đảm phần

đầu, vai và lưng nằm trên một đường thẳng.

Người bảo hiểm: Tay đỡ vào vị trí mông của người lên tháp.

Hình 4-16

Lên tháp tư thế đứng khống chế một chân hai người đỡ trước

ngực (hình 4-17)

Người đỡ tháp: Hai người đỡ tháp đứng đối diện nhau, gập cánh tay,

nâng người lên tháp từ vị trí vai. Người đỡ tháp thứ nhất: Xoè rộng 5 ngón tay

của mỗi bàn tay, lần lượt đỡ vào vị trí mũi chân và gót chân của người lên

tháp. Lòng bàn tay ở tay gần với hướng gót chân người lên tháp của người đỡ

tháp thứ hai mở rộng, đỡ vào vị trí lòng bàn chân của người lên tháp, 108ong

bàn tay ở tay kia cũng mở rộng, nắm vào mặt chính diện cẳng chân người lên

tháp, với mục đích tăng thêm sức mạnh chống trụ và cố định phần nào trọng

tâm của người lên tháp.

108

Hình 4-17

Sau khi thăng bằng, chân phía còn lại của người lên tháp có thể thực

hiện tiếp các động tác có độ khó khác, nhưng cần bảo đảm trọng tâm cơ thể

được ổn định.

Lên tháp tư thế đứng một chân trên vai hai người đỡ ( hình 4-18)

Hai người đỡ tháp đứng đối diện với tư thế chân rộng trước sau nhưng

chân ngược hướng nhau. Hướng của người lên tháp chùng với hướng cơ thể

của người đỡ tháp, một chân người lên tháp đứng trên vị trí đùi chân bước về

trước của một người đỡ tháp, chân kia đặt trên hai tay của người còn lại, ưỡn

thẳng thân trên và giữ thăng bằng. Tay cùng phía với chân bước về trước

được người lên tháp đứng lên sẽ vòng qua sau chân đứng trụ người lên tháp,

giúp giữ thăng bằng cho người thực hiện, hai tay của người đỡ tháp còn lại sẽ

đỡ lấy lòng bàn chân kia của người lên tháp, giúp giữ thăng bằng.

Hình 4-18

109

Người bảo hiểm đứng phía sau và giữ chặt hai bên hông của người lên

tháp. Khi trình độ người lên tháp tốt, có thể thực hiện những động tác có độ

khó cao hơn như đứng trụ co gối một chân, hoặc đứng trụ một chân, chân kia

đá về trước, lên cao....

Đứng trên hai tay ngang vai (Elevator) hay còn gọi là Prep/Half

extension: Kỹ thuật cần đến sự chuẩn xác trong phối hợp. Người lên tháp sẽ

đứng thẳng trên tay của người làm trụ, với độ cao tương đương với tháp đứng

trên vai. Mỗi chân của người lên tháp sẽ đặt trên hai tay của người làm trụ,

người giúp đỡ sẽ là người hỗ trợ phía sau, với người mới, người giúp đỡ sẽ

giữ ở vị trí kheo chân của người lên tháp. Còn để thẩm mỹ, người giúp đỡ

sẽ giữ ở cổ chân người lên tháp.( Hình 4-19). Khi xuống tháp trở về tư thế ban

đầu thì thực hiện ngược lại với cách thực hiện lên tháp (Hình 4-20)

Hình 4-19: Đứng trên hai tay ngang vai

110

Hình 4-20: Xuống từ đứng trên hai tay ngang vai

Lên tháp ngang vai quay 1800.

Người lên tháp: Đứng quay lưng lại với hướng thực hiện. Đặt tay lên

vai của người đỡ tháp. Nhún bật hai chân khỏi mặt đất đứng lên tay của người

đỡ tháp, chân phải để trước chân trái (hai chân chéo nhau) ở tư thế ngồi

xổm. Toàn bộ trọng lượng cơ thể được dồn lên hai tay và vai của người đỡ

tháp. Dùng lực của hai tay tỳ lên vai của người đỡ tháp rồi đứng lên và xoay

người 1800, hai tay V cao.

Người giúp đỡ: Đứng đối diện với người lên tháp, khi người lên tháp

bật lên hai tay người đỡ tháp thì nhanh chóng đỡ lấy hai đầu gối của người lên

tháp để giữ thang bằng. Khi người lên tháp thực hiện động tác đứng lên thì tiếp

thêm lực cho người lên tháp thực hiện được dễ dàng.

Người đỡ tháp: Hai người đỡ tháp quay mặt hướng vào nhau hai chân

chùng gối rộng bằng vai. Hai tay để chéo lên nhau, tay trái dưới, tay phải trên

đồng thời nắm vào gót chân và mũi chân của người lên tháp. Khi thực hiện lên

tháp thực hiện nhúm nhẹ xuống để tạo đà, khi thực hiện nâng tháp thì đồng thời

hai tay xoay theo chiều ngược kim đồng hồ và đẩy thẳng lên cao ngang vai. Kết

thúc động tác. (Hình 4-21 )

111

Hình 4-21

Lên tháp nằm vị trí vai ba người đỡ (hình 4-22)

Người đỡ tháp: Hai người đỡ tháp đứng đối diện, hai chân giang rộng

bằng vai. Khi chùng gối hạ thấp trọng tâm, một tay vòng ra phía sau đỡ lấy

cẳng chân người lên tháp, một tay đặt ở vị trị giữa lưng của người đứng đối

diện. Người đỡ tháp thứ ba đứng, tay đỡ vào phần lưng của người lên tháp.

Hình 4-22

Người lên tháp: Đứng lưng đối diện với người đỡ tháp, bật nhảy lên

cao sau đó ngả người ra sau, căng chắc cơ thể. Hai tay ép sát dọc thân người

hoặc tạo thành hình chữ “T”, duy trì đầu và thân người nằm trên một đường

thẳng.

2.3. Lên tháp vị trí cao

Tay của người đỡ tháp trong động tác lên tháp vị trí cao phải cao hơn

đầu, nhóm kỹ thuật này bao gồm động tác kỹ xảo một chân, được xem là kỹ

112

thuật khó nhất trong các kiểu lên tháp, lên tháp vị trí cao được chia thành lên

tháp vị trí cao một người đỡ, hai người đỡ và ba người đỡ. Trong kỹ thuật

này, tay của người đỡ tháp duỗi thẳng lên cao và đỡ lấy người lên tháp, đồng

thời động tác lên tháp phải được hoàn thành ở vị trí cao quá đầu.

2.3.1. Chuẩn bị từ vị trí vai đến vị trí cao

Người đỡ tháp: Đứng đối diện, chân rộng bằng vai. Người đỡ tháp thứ

nhất nắm lấy chân của người lên tháp, người đỡ tháp thứ hai cũng thực hiện

động tác tương tự. Dùng sức mạnh chân đạp đất tạo lực, chân phía ngoài của

hai người đỡ tháp nhanh chóng di chuyển vào trong một bước nhỏ, cơ thể hai

người sát gần nhau, tay của người đỡ tháp từ tư thế co trước ngực chuyển

thành đẩy cao lên trên, nâng người lên tháp đến vị trí cao qua đầu. Hình 4-23

Hình 4-23

Người lên tháp: Một chân đặt trên lòng bàn tay của người đỡ tháp thứ

nhất, dồn trọng lượng lên vai của người đó, chân kia bước lên vai của người

đỡ tháp thứ hai. Mở vai, duỗi thẳng chân để tiện cho người đỡ tháp nâng lên.

Trong quá trình nâng từ dưới lên cao, phải bảo đảm gồng chắc cơ thể.

Người bảo hiểm: Đầu tiên, khi người lên tháp bước chân, hai tay đỡ

vào hai bên mạn sườn của người thực hiện, giúp họ phát lực để chuẩn bị đạt

113

đến cao độ cần thiết. Khi người lên tháp đã đạt được cao độ như mong muốn,

hai tay giữ chắc vào cổ chân của họ, nhằm duy trì thêm độ ổn định.

Những sai lầm thường mắc:

- Khoảng cách bước chân của người đỡ tháp quá rộng.

Cách khắc phục: Khi ở tư thế đứng duỗi thẳng, hai chân của người đỡ

tháp nên gồng chắc.

- Thực hiện động tác duỗi chân chuẩn bị đứng lên quá chậm.

Cách khắc phục: Tăng tốc độ duỗi chân khi thực hiện.

- Người lên tháp không thể khống chế tốt cơ thể khi ở vị trí trên cao.

Cách khắc phục: Kiểm tra người đỡ tháp đã giữ chắc chưa, đồng thời

người lên tháp cần phải gồng chắc cơ thể.

2.3.2. Chuẩn bị từ tư thế chùng gối sang tư thế đứng

Người đỡ tháp: Người đỡ chính dùng tay đỡ lấy chân của người lên

tháp (hình 4-24), phát lực và nâng người thực hiện lên đứng ở trên vai mình

(hình 4-25), tiếp tục hạ thấp trọng tâm, thực hiện nâng người lên cao. Khi

người lên tháp đứng vững, một tay người đỡ tháp phụ sẽ nắm vào cổ chân

người thực hiện, còn tay kia đỡ lấy phần mông.

Hình 4-24 Hình 4-25

114

Người lên tháp: Đứng trên tay của người đỡ tháp chính, cố định chi

dưới, chân kia đặt trên vai của người đỡ phụ, gồng chắc cơ thể để chuẩn bị

cho động tác nâng người lên cao.

Người bảo hiểm: Toàn bộ quá trình được chia thanh 3 giai đoạn: một

tay người bảo hiểm đỡ vào gót chân người lên tháp, tay kia nắm vào cổ chân;

một tay người bảo hiểm đỡ vào phía sau đùi của người lên tháp, tay kia nắm

vào mặt trước của cổ chân; hai tay người đỡ tháp nắm vào phía sau của cổ

chân người lên tháp, hố trợ khống chế ổn định cho cổ chân (hình 4-26)

Hình 4-26

Những sai lầm thường mắc

- Cơ thể người lên tháp ngả ra sau.

Cách khắc phục: Bảo đảm người bảo hiểm đã giữ chắc phần lưng

người lên tháp. Người thực hiện cần giữ cho ngực, mông, gối và gót chân nằm

trên một đường thẳng, dồn trọng tâm vào vị trí chính giữa.

- Cơ thể người lên tháp ngả sang bên.

Cách khắc phục: Ở lần nhảy thứ hai, người lên tháp sẽ đặt một chân

lên vai người đỡ tháp, đồng thời di chuyển trọng tâm sang chân còn lại.

115

2.3.3. Chuẩn bị xoay người lên vị trí cao

Người đỡ tháp: Bắt đầu với lòng bàn tay đan chéo nhau. Khi người lên

tháp chuẩn bị thực hiện, người đỡ tháp chùng gối, xoay lòng bàn tay để nắm

được vào chân người thực hiện, sau đó di chuyển thành tư thế chuẩn bị duỗi

tay nâng người lên cao.

Người lên tháp: Bắt đầu bằng tư thế đứng đối diện với người đỡ tháp.

Hai chân chéo nhau, chân phải đặt trên lòng bàn tay của người đỡ tháp đứng

bên trái (hình 4-77), chân trái đặt trên tay của người đỡ tháp còn lại. Ba người

tự đếm nhịp với nhau, chùng gối sau đó tay đẩy vai người đỡ tháp, xoay

người, hai chân duỗi thẳng đứng thành tư thế ở trên cao (hình 4-28).

Hình 4-27 Hình 4-28

Người bảo hiểm: Nắm vào phía dưới phần bắp chân người lên tháp.

Tự đếm nhịp cho nhau, người thực hiện chùng gối, người bảo hiểm chỉ dẫn

chuyển động trên cao để thành tư thể chuẩn bị ở vị trí cao, hai tay nắm lấy

phía sau của cổ chân người lên tháp.

Những sai lầm thường mắc:

- Người lên tháp không thể đặt chân còn lại lên tay người đỡ tháp.

Cách khắc phục: người lên tháp hơi co một chân, người đỡ tháp phụ sẽ

giữ chắc, chân còn lại ép sát vào chân thứ nhất.

116

- Quá trình quay người lên cao quá sớm.

Cách khắc phục: người lên tháp luyện tập liên tục kỹ xảo động tác

thực hiện, dùng tay đẩy vai người đỡ tháp, sau đó chuyển động phần vai. Nếu

quá trình quay người quá sớm, thì động tác kỹ xảo này sẽ không thể hoàn

thành được.

2.3.4. Chuẩn bị từ tư thế ngồi đến vị trí cao

Người đỡ tháp: Chùng gối và đỡ lấy lòng bàn chân người lên tháp,

nâng người thực hiện đặt lên vai trái thành tư thế ngồi, hạ thấp trọng tâm đến

khi chuẩn bị thực hiện tư thế duỗi tay.

Người lên tháp: Đặt tay lên vai của người đỡ tháp và người bảo hiểm,

sau khi nhảy lên chuyển thành tư thế ngồi, chùng gối đến khi chuẩn bị thực

hiện tư thế duỗi thẳng, một chân đặt lên tay người đỡ tháp.

Người bảo hiểm: Khi bắt đầu, đứng về phí sau và nắm vào cổ chân

người lên tháp, sau đó thành tư thế ngồi, chùng gối và chuyển trọng tâm thành

tư thế chuẩn bị duỗi tay ở vị trí cao.

Những sai lầm thường mắc:

- Người lên tháp bị ngã sau khi di chuyển thành tư thế ngồi.

Cách khắc phục: Khi thành tư thế ngồi, người lên tháp nên tự khống

chế trọng tâm cơ thể, không nên thoái thác hoàn toàn cho người bảo hiểm.

- Người lên tháp gặp khó khăn khi đứng lên thành tư thế chuẩn bị duỗi

thẳng .

Cách khắc phục: Người đỡ tháp nên chùng gối sâu nhằm tạo thêm lực

cho người lên tháp khi đứng thẳng.

- Ở tư thế ngồi, chân của người lên tháp quá cao, dẫn đến thân người

đổ ra sau.

Cách khắc phục: Người đỡ tháp cần để cho chân người lên tháp buông

lỏng tự nhiên, tạo điều kiện duy trì trọng tâm cơ thể hướng lên.

117

2.3.5. Từ tư thế đứng đến tư thế chuẩn bị vị trí cao

Người đỡ tháp: Khi người lên tháp đặt chân lên tay người đỡ tháp thứ

nhất, người đỡ tháp thứ hai sẽ giữ chắc lấy chân trụ của người thực hiện (hình

4-29), giữ cho đến khi chuẩn bị thực hiện tư thế duỗi thẳng. Người đỡ tháp

thứ hai phải đứng hai chân trên một đường thẳng. Khi người lên tháp đứng,

giữ chắc hai tay nâng người lên tháp lên vị trí cao.

Hình 4-29

Người bảo hiểm: Đỡ lấy phần mông người lên tháp, tự đếm nhịp và

chùng gối, nắm vào cổ chân khi người thực hiện đứng ở vị trí cao.

Những sai lầm thường mắc

- Trọng tâm người lên tháp dồn ở phần mông khi di chuyển thành tư

thế chuẩn bị

Cách khắc phục: Người đỡ tháp di chuyển vai người lên tháp về phía

trước nhằm hỗ trợ phân chia lực đồng đều cho người thực hiện trong quá trình

thực hiện này.

- Người bảo hiểm không thể hỗ trợ và giúp đỡ cho người lên tháp khi

họ di chuyển lên trên thành tư thế chuẩn bị duỗi thẳng.

118

Cách khắc phục: Khi thay đổi tư thế, người lên tháp vẫn phải cố định

cánh tay để người bảo hiểm có thể sử dụng nó như một cánh tay đòn tiếp

thêm lực giúp hoàn thành kỹ xảo động tác.

- Động tác kỹ xảo bị lệch sang hướng nào đó trong quá trình chuẩn bị

chuyển thành tư thế duỗi thẳng vị trí cao.

Cách khắc phục: Người bảo hiểm xác định lại thời điểm nhằm bảo

đảm nhịp của cả hai chùng khớp với nhau. Tương tự, độ cao của người bảo

hiểm có thể ảnh hưởng đến quá trình thực thi của động tác.

2.3.6. Từ tạo hình chữ “T” nâng lên thành tư thế trên cao

Người đỡ tháp: Hai người đỡ tháp chờ sẵn trong tư thế chân giang

ngang thành đứng tấn thấp (hình 4-30). Khi người lên tháp ở vị trí trên không

(hình 4-31), chùng gối và phát lực nâng đến tư thế chuẩn bị duỗi thẳng trên

không (hình 4-32)

Hình 4-30 Hình 4-31 Hình 4-32

Người lên tháp: Tựa vào người bảo hiểm phía sau, thành tư thế hình

chữ “T”, khi được đẩy về trước, nhấc chân đặt vào lòng bàn tay người đỡ

tháp, giữ cho phần ngực luôn hướng trước, duỗi tay, đứng, đạt đến tư thế

chuẩn bị duỗi thẳng trên cao.

119

Người bảo hiểm: Giữ chắc phần mặt dưới cánh tay người lên tháp, di

chuyển người thực hiện về trước, khi người lên tháp chạm đến người nâng

tháp, đẩy cánh tay của họ giúp đạt đến tư thế chuẩn bị duỗi thẳng.

Những sai lầm thường mắc.

- Trọng tâm người lên tháp dồn ở phần mông khi di chuyển thành tư

thế chuẩn bị

Cách khắc phục: Người đỡ tháp di chuyển vai người lên tháp về phía

trước nhằm hỗ trợ phân chia lực đồng đều cho người thực hiện trong quá trình

thực hiện này.

- Người bảo hiểm không thể hỗ trợ và giúp đỡ cho người lên tháp khi

họ di chuyển lên trên thành tư thế chuẩn bị duỗi thẳng.

Cách khắc phục: Khi thay đổi tư thế, người lên tháp vẫn phải cố định

cánh tay để người bảo hiểm có thể sử dụng nó như một cánh tay đòn tiếp

thêm lực giúp hoàn thành kỹ xảo động tác.

- Động tác kỹ xảo bị lệch sang hướng nào đó trong quá trình chuẩn bị

chuyển thành tư thế duỗi thẳng vị trí cao.

Cách khắc phục: Người bảo hiểm xác định lại thời điểm nhằm bảo

đảm nhịp của cả hai chùng khớp với nhau. Tương tự, độ cao của người bảo

hiểm có thể ảnh hưởng đến quá trình thực thi của động tác.

2.3.7. Từ mặt đất lên vị trí cao bằng tư thế tự do

Người đỡ tháp chính: Bắt đầu với tư thế đứng tấn thấp, tay đặt ở vị trí

mũi chân và gót chân người lên tháp, tự đếm nhịp kết hợp với chùng gối, duỗi

tay cao quá đầu, đổi nắm tay ở vị trí trên đầu (vị trí cùng tư thế chuẩn bị động

tác duỗi thẳng của người đỡ tháp chính giống nhau).

Người đỡ tháp phụ: Bắt đầu với tư thế đứng tấn thấp, tay phải đặt dưới

bàn chân người lên tháp, tay trái nắm vào chân trái người thực hiện. Khi đếm

nhịp, chùng gối cùng duỗi thẳng cánh tay. Khi thực hiện kỹ thuật nâng người,

xoay vai trái hoặc vị trí đứng đến phía dưới người lên tháp, cùng với người đỡ

120

tháp chính chia sẻ bớt sức nặng về trọng lượng của người lên tháp, đếm nhịp

và chùng gối, khiến trọng tâm người lên tháp rơi vào mặt phẳng chống trụ.

Người lên tháp: Đặt chân phải lên tay người đỡ tháp, đếm nhịp và

dùng sức đẩy chân rời mặt đất kết hợp với bám vào vai người đỡ tháp, di

chuyển lên trên thành tư thế đứng. Để đạt đến vị trí của tư thế tự do, người lên

tháp cố định chân phải, nâng chân trái lên song song với mặt đất, gồng cứng

cổ chân trái (hình 4-33), hơi khép sát vào đầu gối chân phải.

Hình 4-33

Người bảo hiểm: người bảo hiểm phía sau đặt tay phải và tay trái lần

lượt lên hai vị trí là cổ chân và mông của người lên tháp. Đếm nhịp và chùng

gối, đẩy mông người thực hiện lên trên giúp họ rời đất. Khi người lên tháp

đứng ở vị trí trên cao, người bảo hiểm phía sau bám hai tay vào cổ chân người

thực hiện. Khi tiếp đất, người bảo hiểm phía sau chùng gối, tạo điểm tựa cho

phần đầu và vai của người lên tháp

Những sai lầm thướng mắc:

- Người đỡ tháp thực hiện động tác nặng nề, khó nhấc qua đầu.

Cách khắc phục: Kiểm tra kỹ xảo và cách bố trí thời gian thực hiện

giữa người đỡ tháp, người lên tháp và người bảo hiểm. Tập thể này không thể

121

cùng lúc chùng gối và phát lực, như thế động tác sẽ rất “ nặng ”, tập luyện

liên tục đến khi động tác kết hợp hài hòa.

- Khi duy trì tư thế đứng tự do dễ bị đổ sang phía bên phải của người

lên tháp

Cách khắc phục: Đẩy mông về phía trước, không phải đẩy sang phải.

Lộn trước chống tay lên tháp

Bước 1: Chuẩn bị. Hình 4-34

Người lên tháp: Chuẩn bị ở vị trí sẵn sàng để thực hiện một động tác lộn

chống trước với một chân ở phía trước.

Người đỡ tháp chính: Đứng phía đối diện với người lên tháp, thấp trọng

tâm, Tay phải trên cao, tay trái chếch dưới sẵn sàng để nắm bàn chân và đỡ phía

sau đùi của người thực hiện lên tháp.

Người đỡ hỗ trợ: Hai tay thực hiện động tác nắm đan chéo ở cổ tay,

đứng trước người thực hiện lên tháp, hai gối chùng thấp để chuẩn bị thực hiện

động tác đỡ lưng người lên tháp.

Hình 4-34

Bước 2: Thực hiện động tác lộn trước. Hình 4-35

Người lên tháp: Thực hiện một động tác lộn chống trước.

122

Người đỡ tháp chính: Đứng phía đối diện với người lên tháp, thấp trọng

tâm, Tay phải trên cao đỡ vào gót chân của người lên tháp, tay trái chếch dưới

đỡ phía sau đùi của người thực hiện lên tháp.

Người đỡ hỗ trợ: Hai tay thực hiện động tác nắm đan chéo ở cổ tay,

đứng trước người thực hiện lên tháp, hai gối chùng thấp thực hiện động tác đỡ

lưng người lên tháp.

Hình 4-35

Bước 3: Lên tháp. Hình 4-36

Người lên tháp: Thực hiện một động tác lộn chống trước. Dùng lực đẩy

của tay thân người giữ căng.

Người đỡ tháp chính: Tay phải trên cao đỡ và giữ chắc vào gót chân của

người lên tháp, tay trái chếch dưới đỡ phía sau đùi đẩy thêm lực của người thực

hiện lên tháp và thực hiện đỡ tháp.

Người đỡ hỗ trợ: Thực hiện động tác tiếp thêm lực vào lưng người lên

tháp. Sau khi người lên tháp rời khỉ mặt đất thì nhanh chóng chuyển tay nắm cổ

chân người lên tháp và di chuyển về vị trí đỡ tháp theo quy định.

123

Hình 4-36

Lên tháp một chân thăng bằng

Bước 1: Chuẩn bị. Hình 4-37

Người lên tháp: Chuẩn bị ở vị trí sẵn sàng để thực hiện một động tác lên

tháp với chân phải ở phía trước, chân trái đứng dưới đất để tạo đà. Hai tay nắm

vào hai cổ tay của người đỡ hỗ trợ.

Người đỡ tháp chính: Đứng phía trước vuông góc với người lên tháp,

hai chân rộng bằng vai, tay phải cầm chắc dưới lòng bàn chân phải của người

lên tháp, tay trái đỡ dưới đùi của người thực hiện lên tháp.

Người đỡ tháp phụ: Ngồi xổm vuông góc với người lên tháp, hai chân

rộng bằng vai, tay trái cầm chắc dưới lòng bàn chân trái của người lên tháp, tay

phải nắm cổ chân của người thực hiện lên tháp.

Người đỡ hỗ trợ: Hai tay thực hiện động tác nắm vào hai bên hông và

đứng sau người thực hiện lên tháp, hai chân rộng bằng vai để chuẩn bị thực hiện

động tác đỡ lưng người lên tháp.

Hình 4-37

124

Bước 2: Lên tháp. Hình 4-38

Người lên tháp: Phối hợp nhún mạnh chân trái tạo đà ra trước – lên trên

để thực hiện một động tác lên tháp. Hai tay đẩy mạnh lực vào hai cổ tay của

người đỡ hỗ trợ, vươn căng lên cao, chân trái lên thẳng và đưa ra sau để làm

động tác thăng bằng. Hoàn thiện động tác lên thăng bằng.

Người đỡ tháp chính: Tay phải cầm chắc dưới lòng bàn chân phải của

người lên tháp, tay trái đỡ dưới đùi của người thực hiện lên tháp. Khi phối hợp

thực hiện thì đưa nhanh tay phải về sát ngực để làm điểm tỳ, tay trái tiếp mạnh

lực vào phía dưới đùi rồi nhanh chóng đưa tay về đỡ dưới gót chân phải và đẩy

thẳng hai tay lên cao.

Người đỡ tháp phụ: Ngồi xổm vuông góc với người lên tháp, hai chân

rộng bằng vai, tay trái cầm chắc dưới lòng bàn chân trái của người lên tháp, tay

phải nắm cổ chân của người thực hiện lên tháp. Khi phối hợp thực hiện thì đỡ

dưới đẩy thẳng hai tay lên cao ra sau, nhanh chóng rời tay khỏi chân trái và di

chuyển sang nắm vào cổ chân phải của người lên tháp.

Người đỡ hỗ trợ: Hai tay thực hiện động tác nắm vào hai bên hông và

đứng sau người thực hiện lên tháp, hai chân rộng bằng vai để chuẩn bị thực hiện

động tác đỡ lưng người lên tháp. Khi phối hợp thực hiện thì đẩy thẳng hai tay

lên cao nâng người lên tháp lên cao, nhanh chóng rời khỏi than người lên tháp

và di chuyển sang nắm vào cổ chân, bắp chân phải của người lên tháp.

Hình 4-38

125

2.3.8. Các tư thế vị trí cao biến hóa từ tư thế đứng tự do

Nhiệm vụ của người đỡ tháp và người bảo hiểm giống như trong tư

thế đứng tự do. Nhưng trước khi thử sức với các động tác kỹ xảo này, người

lên tháp cần nắm vững thuần thục tính đàn hồi, thăng bằng cùng khả năng

khống chế của cơ thể, bởi vì các động tác này có yêu cầu rất cao đối với tính

khéo léo. Các tư thế được thể hiện minh họa trong các hình 4-39 đến hình

4-42. Đây là một vài hình thức biến hóa từ tư thế đứng tự do.

Hình 4-39 Hình 4-40 Hình 4-41 Hình 4-42

Trình tự các bước tập luyện

Bước 1. Hình 4-43

Người lên tháp: Thực hiện động tác hai chân đứng trên tay người đỡ

tháp ở tư thế thẳng chân, hai tay tỳ trên hai vai người đỡ tháp. Dùng lực đẩy của

tay thân người giữ căng.

Người đỡ tháp chính: Hai tay nắm bàn chân của người thực hiện lên

tháp và thực hiện đỡ tháp.

Người đỡ hỗ trợ: Thực hiện động tác nắm cổ chân người lên tháp.

126

Hình 4-43

Bước 2. Hình 4-44

Người lên tháp: Thực hiện động tác co chân trái lên ngang vai người đỡ

tháp trọng tâm dồn lên chân phải, tiếp tục co chân phải lên vị trí cao cửa người

đỡ tháp. Cuối cùng hai chân đứng trên tay người đỡ tháp ở tư thế thẳng chân,

hai tay V cao thân người giữ căng.

Người đỡ tháp chính: Hai tay nắm bàn chân của người thực hiện lên

tháp và thực hiện đỡ tháp theo từng bước trước ngực rồi lên cao.

Người đỡ hỗ trợ: Thực hiện động tác nắm cổ chân người lên tháp giữ

thăng bằng.

Hình 4-44

127

Bước 3. Hình 4-45

Người lên tháp: Thực hiện động tác co chân trái lên trọng tâm dồn lên

chân phải, hai tay V cao thân người giữ căng. Sau đó thực hiện biến hoá các tư

thế.

Người đỡ tháp chính: Hai tay nắm bàn chân phải của người thực hiện

lên tháp và thực hiện các hoạt động hỗ trợ khác.

Người đỡ hỗ trợ: Thực hiện động tác nắm cổ chân người lên tháp giữ

thăng bằng.

Hình 4-45

Các điểm lưu ý khi thực hiện một động tác lên tháp. Hình 4-46

1. Để giúp duy trì sự cân bằng, người lên tháp nhìn thẳng hoặc tập trung

vào một cái gì đó trực tiếp ở phía trước ngang tầm mắt hoặc trên, với vị trí đầu

thẳng về phía trước. Không nhìn xuống.

2. Cơ thể của người lên tháp nên được giữ thẳng, căng và khống chế

trong suốt thời gian trên tháp.

3. Cổ chân của phải duỗi thẳng mu bàn chân hướng về phía trước lòng

bàn chân đặt vững chắc ép sát bên cạnh đầu gối của chân trụ.

4. Đùi chân trụ của người lên tháp khống chế căng.

5. Trong điều kiện cho phép, tay của người đỡ tháp có thể nắm ở vị trí

này và đây là điều luật cho phép để đảm bảo giữ chắc cho người lên tháp.

128

1

2

3 4

5

6 7

9 8

11 10

12

Hình 4-46

6. Bàn chân của của người lên tháp nên được đặt trực tiếp lên long bàn

tay của người đỡ tháp.

7. Bàn tay của người đỡ tháp nên được đặt dưới chân của người lên

tháp, cho phép các ngón tay nắm xung quanh gót chân và đầu bàn chân.

8. Tay của người đỡ tháp luôn phải giữ thẳng và sự ổn định cho người

lên tháp.

9. Đôi mắt của mỗi người đỡ tháp luôn luôn phải được theo dõi các hoạt

động của người lên tháp.

10. Cả hai vai của người đỡ tháp phải được phối hợp chặt chẽ và cân đối

với nhau, không cho phép ngả về đằng sau vị trí đứng.

11. Thân người đỡ tháp luôn thẳng để hỗ trợ cho việc khắc phục trọng

lượng và kiểm soát cũng như ổn định chuyển động.

12. Trọng tâm của người đỡ tháp là yếu tố chính để ổn định tư thế khi

thực hiện đỡ tháp.

129

2.4. Tháp sử dụng trong bài thi

Là việc nâng tháp của các thành viên trong đội .

Chiều cao của tháp không vượt qua 2,5 lần chiều cao của vận động

viên. Tối thiểu phải có liên kết của 2 vận động viên (Hình 4-47).

Hình 4-47: Chiều cao hợp lệ của Tháp.

Tháp xuất hiện lần đầu trong bài thi phải liên kết các thành viên .

2.4.1. Một số cơ sở để lựa chọn tháp.

Phù hợp với trình độ của người tập trong đội .

Sử dụng hiệu quả ưu thế của mỗi thành viên trong nhóm .

2.4.2. Phân loại hình dạng tháp và các yêu cầu kỹ thuật

Hình dạng tháp có thể được chia thành hai tầng và ba tầng tháp.

2.4.2.1. Tháp hai tầng

Tháp thấp

Tháp dạng hướng vào trong

Thành viên đỡ tháp: Người đỡ tháp đứng chùng gối vào phía

trong. Khi các thành viên lên tháp đứng lên, người đỡ tháp điều chỉnh hai

chân đồng thời một tay quàng qua gối của người lên tháp để cho người lên

tháp ổn định và giữ thăng bằng. ( Hình 4-48)

130

Hình 4-48

Người lên tháp: Chân đặt trên đùi thành viên người đỡ tháp, hai tay

bám vào hai vai của người đỡ tháp, khi có khẩu lệnh nhanh chóng đứng lên

thành tư thế tháp.

Người bảo hiểm, giúp đỡ: Hai tay đỡ khớp hông đẩy người lên thành

tháp, và bảo hiểm sự an toàn của người lên tháp.

Lên tháp vị trí chân bên ngoài.

Thành viên đỡ tháp: Người đỡ tháp đứng chùng gối phía ngoài. Khi

các thành viên lên tháp đứng lên, người đỡ tháp điều chỉnh hai chân đồng thời

một tay quàng qua gối, một tay nắm cổ chân của người lên tháp để cho người

lên tháp ổn định và giữ thăng bằng. ( hình 4-49)

Hình 4-49

131

Người lên tháp: Chân đặt trên đùi thành viên người đỡ tháp, hai tay

bám vào hai vai của người đỡ tháp, khi có khẩu lệnh nhanh chóng đứng lên

thành tư thế tháp.

Người bảo hiểm, giúp đỡ: Hai tay đỡ khớp hông đẩy người lên thành

tháp, và bảo hiểm sự an toàn của người lên tháp.

Tháp cao

Chỉ giới hạn các vị trí hông và vai nâng lên tháp lên đồng thời kết hợp

các dạng biến hoá tháp trên cơ sở ở vị trí vai. Tháp kết hợp không thể vượt

quá 2.5 chiều cao cơ thể, nâng lên cao theo cùng một cách ngồi trên vai và

đứng trên vai ( hình 4-50) .

Hình 4-50

Thành viên đỡ tháp: Các tháp bên ngoài thực hiện lên tháp cao, giữ

chân cho người lên tháp để cho người lên tháp ổn định và giữ thăng bằng. Khi

phát khẩu lệnh, những người lên tháp nâng chân phía trong lên để tháp đỡ giữ

và ổn định. Tháp thấp bên trong kết nối hai tháp cao bằng cách đỡ chân của

người lên tháp cao.

Người trên tháp thấp bên trong: Sẵn sàng hỗ trợ tốt.

132

Người giúp đỡ, bảo hiểm: Đứng đằng sau người lên tháp và người đỡ

tháp. Giữ chân bên ngoài của người lên tháp phía trong mắt cá chân hoặc bắp

chân. Bảo vệ đầu và cổ của người lên tháp khi họ thực hiện xuống tháp.

Kết nối các tháp cao

Ba tháp đơn cao có thể được kết hợp, và được sửa đổi trên cơ sở tháp

này. Tháp kết hợp không thể vượt quá 2.5 chiều cao cơ thể. Các tháp được kết

nối với nhau khi đã ổn định tháp cao khi đứng trên hai vai.

Người đỡ tháp: Bên ngoài và bên trong phải đứng vững làm trụ để

người lên tháp đứng trên hai vai.

Người lên tháp: Bên ngoài và bên trong người lên tháp phải có tư thế

tốt nâng cao vai, cánh tay giơ cao ở phía trên cùng của tháp được kết nối với

nhau của người lên tháp (Hình 4-51 ).

Hình 4-51

Tháp vòng cung mở. Hình 4-52

Bắt đầu với tháp cao ở giữa, tiếp theo là đứng trên hai vai và đối diện

với nhau, và ngồi trên hai vai ở phía trước đối mặt với nhau. Tất cả những

người trên tháp kết nối vòng tay với nhau. Khi đã ổn định tháp thì tháp đứng

trên vai và thấp ngồi trên vai di chuyển dần về phía sau như mở cuốn sách. Giữ

ổn định tháp cho đến khi kết thúc.

133

Hình 4-52

Tháp cao thấp kết nối. Hình 4-53

Thực hiện giống liên kết Tháp vòng cung mở. Có thể thêm nhiều người

để kết nối thành nhiều tháp.

Hình 4-53

Tháp đôi thăng bằng. Hình 4-54

Thực hiện kỹ thuật giống các kỹ thuật lên tháp khác. Có thể thêm nhiều

người để kết nối thành nhiều tháp.

Hình 4-54

134

Tháp móc hình vòng cung. Hình 4-55

Thực hiện kỹ thuật giống các kỹ thuật lên tháp khác. Có thể thêm

nhiều người để kết nối thành nhiều tháp.

Hình 4-55

Tháp móc đỡ bụng Hình 4-56

Thực hiện kỹ thuật giống các kỹ thuật lên tháp khác. Có thể thêm nhiều

người để kết nối thành nhiều tháp.

Hình 4-56

Tháp không đối xứng. Hình 4-57

Thực hiện kỹ thuật giống các kỹ thuật lên tháp khác. Có thể thêm nhiều

người để kết nối thành nhiều tháp.

135

Hình 4-57

Tháp domino. Hình 4-58

Thực hiện kỹ thuật giống các kỹ thuật lên tháp khác. Có thể thêm nhiều

người để kết nối thành nhiều tháp.

Hình 4-58

2.4.2.2. Tháp ba tầng

Tháp cao ba tầng thấp.

Chỉ giới hạn ở hông và vai người đỡ tháp vị trí đỡ tháp có thể được kết

hợp bởi ba chữ và được sửa đổi trên cơ sở này, sự kết hợp không được nâng

lên cao hơn 2.5 chiều cao cơ thể.

Mô hình 3-2-1 (Hình 4-59)

Người đỡ tháp phía bên ngoài: Bước chân hướng vào phía trong chùng

gối, hai tay giữ chắc cổ chân và bàn chân của người lên tháp tầng hai.

136

Người đỡ tháp ở giữa: Hai chân chùng gối rộng sang hai bên làm vị trí

đứng cho người lên tháp tầng hai, hai tay ôm xung quanh đầu gối chân trong

của người lên tháp.

Hình 4-59

Người lên tháp tầng thứ hai: Chân phía trong đứng trên cả hai đùi của

người đỡ tháp giữa, chân ngoài đứng lên tay của người đỡ tháp ngoài, tay

ngoài nâng và giữ chân của người lên tháp tầng ba, một tay bám vào bên

trong của đầu gối.

Người lên tháp tầng thứ ba: Chân đứng trong tay của người lên tháp

tầng thứ hai, hai tay chếch trên bên (chữ V).

Mô hình 2-1-1 (Hình 4-60 )

Hình 4-60

137

Người đỡ tháp: Bước chân hướng vào phía trong chùng gối, một tay

giữ chắc cổ chân và bàn chân của người lên tháp tầng hai, một tay cầm bên

trong của đầu gối.

Người lên tháp tầng thứ hai: Chân đứng trên cả hai đùi phía trong của

người đỡ tháp, hai tay giữ người lên tháp tầng ba ở đầu gối, sau khi người lên

tháp tầng ba ổn định tư thế thì hai tay chếch trên bên.

Người lên tháp tầng ba: Ngồi trên vai của người lên tháp thứ hai, hai

chân kẹp ra phía sau lưng, hai tay chếch trên bên (chữ V).

Mô hình 2-2-1 (Hình 4-61 )

Hình 4-61

Tháp ba tầng kết nối

Ba tháp kết nối thành tháp cao ba tầng và có thể được kết hợp trên cơ

sở biến dạng khác nhau. sự kết hợp không được nâng lên cao hơn 2.5 chiều

cao cơ thể. Kết nối các tháp khi đã lên tháp ở vị trí ngồi trên vai, đứng trên vai

và tháp cao.

Tháp bước tiến (bậc thang) (Hình 4-62 )

Tháp đầu tiên: Ngồi trên vai.

Tháp thứ hai: Đứng trên hai vai.

Tháp thứ ba: Đứng trên hai tay cao.

Người lên tháp thứ nhất: Ngồi trên vai người đỡ tháp.

138

Hình 4-62

Người lên tháp thứ hai: Đứng trên hai tay ngang vai người đỡ tháp

hướng về tháp thứ nhất, thân người gập, tay chống lên trên vai của người trên

tháp thứ nhất đầu tiên.

Người lên tháp thứ ba: Đứng trên hai tay trên cao của người đỡ tháp,

khi đã chuẩn bị sẵn sang, một chân đứng tỳ trên lưng của người lên tháp thứ

hai.

Nếu có đủ người chơi tham gia ta có thể thực hiện cả hai hướng sẽ tạo

được tháp rất cân đối và ấn tượng

3. Tung và bắt trong thể dục cổ động.

Giá trị thưởng thức của thể dục cổ động kỹ xảo thể hiện ở tính mạo

hiểm về độ khó khi thực hiện động tác và một trong những phần mang hứng

thú đến cho người xem nhất phải kể đến đó là nhóm động tác tung và

bắt.Tung và bắt là động tác được tung lên từ đồng đội, sau đó được đồng đội

đỡ lại.

Tung và bắt được phối hợp bởi hai hoặc nhiều người cùng nhau hoàn

thành động tác trên không, gồm hai thành phần tổ hợp chính là tung, bắt, kỹ

thuật này có thể được xem như là sự liên kết của hàng loạt các động tác kiểu

nhào lộn cùng động tác có tính mềm dẻo. Căn cứ vào phương pháp hoàn

139

thành động tác tung và bắt, nội dung cơ bản gồm có: tung bắt, tung liên tiếp,

tung nhảy

Khi hoàn thiện một động tác tung bắt có độ khó, người lên tháp đảm

trách hoàn thành các động tác nhào lộn, quay người cùng các động tác khác

trên không, còn nhiệm vụ chủ yếu của người đồng đội đỡ tháp chính là phối

hợp hỗ trợ phát lực cho người lên tháp trong quá trình thực hiện, hoặc cũng có

thể giúp đỡ thêm cho người thực hiện tiếp đất sau khi hoàn thành những động

tác có độ khó trên không. Vì vậy, tung bắt cùng bảo hiểm luôn phải hoạt động

cùng nhau.

Khi thực hiện động tác tung và bắt mà không chính xác, không nhịp

nhàng, không phối hợp ăn ý, hoặc dùng sức quá mạnh, không tập trung, căng

thẳng hay hưng phấn quá độ cùng những tình huống khác sẽ rất dễ gây nên

chấn thương cho các thành viên. Do đó, yêu cầu khi hoàn thành bất kỳ động

tác có độ khó thuộc cấp nào, cũng phải nêu cao tinh thần phối hợp ăn ý cùng

đồng đội, cần điểu chỉnh đến trạng thái tâm lý tốt nhất trước khi thực hiện mỗi

động tác, đây là một trong những qui tắc bắt buộc giúp bảo đảm an toàn.

Tính an toàn của các động tác tung bắt có độ khó phụ thuộc ngay trên

mỗi một thành viên tham gia thực hiện. An toàn của người lên tháp thể hiện ở

chỗ: khi thực hiện động tác, cơ thể phải gồng chắc; khi được tung trên không,

phải hoàn thành mỗi một động tác một cách quyết đoán, không do dự, chỉ có

như vậy người lên tháp mới tạo được cơ sở giúp đỡ an toàn nhất cho đồng đội

đỡ tháp phía dưới. Tương tự, người đỡ tháp cũng cần có sự phối hợp ăn ý, khi

hỗ trợ thực hiện tung bắt, phải tạo cho người lên tháp một lực ổn định, đây

cũng là một trong những nền tảng quan trọng bảo đảm cho người lên tháp

hoàn thành động tác.Khi người lên tháp rơi xuống, yêu cầu người đỡ tháp

nhanh chóng phán đoán vị trí, thời gian cùng tư thế cơ thể của người thực

hiện, chủ động điều chỉnh để cơ thể ở vào vị trí bảo hiểm hợp lý nhất, đồng

thời lập tức duỗi thẳng tay, đón người lên tháp. Người đỡ tháp cũng cần căn

140

cứ thêm vào tốc độ rơi và tư thế cơ thể để lựa chọn thời điểm đỡ so cho hợp lý

nhất, an toàn nhất. Sau khi đỡ được người lên tháp, người đỡ tháp cần chú ý

tốc độ hoãn xung trước khi dừng lại phải chậm dần, nhằm tránh xảy ra chấn

thương. Khi tiến hành động tác tung bắt cần chú ý một vài điểm quan trọng

dưới đây:

Tập trung chú ý: So với các kỹ thuật khác, tung bắt cần độ tập trung

cao hơn rất nhiều, mỗi một thành viên trong đội cần duy trì tập trung cao độ,

khi tập luyện nên tắt nhạc, giảm thiểu đến mức tối đa những nhân tố rắc rối có

thể xảy ra.

Thời gian: Độ chính xác trong phán đoán về thời gian của người lên

tháp và người đỡ tháp là chìa khóa quyết định thành bại khi thực hiện động

tác tung bắt, thời gian tung bắt quá dài càng làm tăng thêm tính nguy hiểm khi

thực hiện.

Kiên trì: Bất kỳ động tác kỹ xảo nào cũng không thể thành thục trong

thời gian ngắn, đầu tư nhiều thời gian tập luyện kỹ thuật mới, mới có thể giảm

thiểu xác suất gây chấn thương.

Khi bắt đầu thực hiện động tác tung bắt, trước tiên nên xác định rõ

trình độ kỹ thuật của đội mình, tăng cường chuẩn tắc chỉ đạo an toàn, đề ra

tiêu chuẩn cụ thể đối với động tác, như vậy mới có thể hoàn thành một cách

an toàn. Do độ cao của động tác tung tối thiểu phải vượt qua độ cao của 2

người, cho nên bảo đảm đỡ được người lên tháp một cách thuận lợi chính là

tiền đề của tính an toàn khi thực hiện

3.1. Chuẩn bị của người đỡ tháp khi thực hiện động tác tung bắt

Người đỡ tháp nên đứng hai chận rộng bằng vai, chùng gối, thành tư

thế chuẩn bị của đứng tấn thấp. Người đỡ tháp nên bảo đảm cột sống duỗi

thẳng, tránh tạo thành tư thế gù lưng do trương lực quá lớn tạo nên. Nếu đầu

gối mở sang hai bên (tư thế này thường thấy ở thành viên đội thể dục cổ

141

động), sẽ khiến người đỡ tháp cảm thấy thoái mái hơn, nhưng cần lưu ý, như

thế sẽ giảm bớt độ cao của động tác tung bắt (hình 4-63)

Hình 4-63

Hai tay của người đỡ tháp lần lượt bám chắc vào nhau. Kiểu nắm này

rất đặc biệt trong thể dục cổ động, mỗi một người đỡ tháp sẽ nắm tay phải vào

vị trí cổ tay trái của chính mình, đứng đối diện và nắm vào cổ tay phải của

đồng đội, như thế sẽ tạo thành một “mặt đế” vững chắc cho người thực hiện

đứng lên (hình 4-64)

Hình 4-64

3.2. Huấn luyện cơ bản đối với động tác tung bắt

Đối với động tác tung bắt, những phương pháp huấn luyện này có thể

thực hiên ngay ở giai đoạn trước, trong và sau khi nắm vững kỹ xảo. Nếu kiểu

nắm tay của người đỡ tháp đúng, khống chế cơ thể của người lên tháp hợp lý,

thì phương pháp huấn luyện này sẽ có thể góp phần tạo nên nền tảng tốt cho

quá trình hoàn thành động tác

142

3.2.1. Huấn luyện phối hợp thời gian

Mục đích chính của phương pháp huấn luyện này đó là giúp người đỡ

tháp nắm bắt được thời gian tung người lên tháp, sau khi đã chuẩn bị xong tư

thế nắm tay.

Người đỡ tháp: Hai người nắm tay chặt theo tư thế yêu cầu và chuẩn

bị, hơi chùng khớp gối, thành tư thế đứng tấn thấp. Người thứ nhất “ bắt đầu”,

hai chân hơi đạp đất tạo lực. Người thứ hai “ bắt đầu”, hai chân cũng đạp đất

tạo lực, hai tay bám chắc vào nhau, tạo lực đẩy hướng lên trên cho người lên

tháp.

Người lên tháp: Dùng hai tay mô phỏng hai chân tiếp đất, đặt trên mu

bàn tay người đỡ tháp (hình 4-65). Trước tiên, đặt một tay lên bên phải của

người đỡ tháp, sau đó dùng lực tay đè xuống dưới, mô phỏng cảm giác sức

mạnh của chân đang dẫm lên, tiếp tục đặt tay kia lên phía trái của người đỡ

tháp. Hô to nhịp “ 1, 2, 3, lên ”, tại thời điểm cuối cùng người lên tháp rút tay

ra, tức mô phỏng bắt đầu thực hiện động tác tung bắt.

Hình 4-65

Chú ý: Huấn luyện nhấn mạnh tính đồng nhất khi dùng sức của hai

người đỡ tháp. Nếu thời gian phối hợp không ăn ý, tức là không dự đoán vị trí

di chuyển khi tung của người lên tháp, như vậy sẽ rất khó bảo đảm an toàn.

3.2.2. Huấn luyện cách bước lên

Phương pháp huấn luyện này nhằm tăng độ chính xác của người lên

tháp khi di chuyển từ mặt đất lên tay người đỡ tháp (hình 4-66)

143

Người đỡ tháp: Nắm chắc hai tay với nhau, thành tư thế đứng tấn thấp.

Người lên tháp: Đặt tay lên vai người đỡ tháp, chân trái đặt về bên

phải người đỡ tháp, đảm bảo có thể đứng vững được. Sau đó kết hợp với nhịp

“1, 2, 3, lên”, dùng chân đạp đất tạo lực, khắc phục trọng lượng cơ thể, hai

chân đứng trên tay người đỡ tháp. Khi cả hai chân đã đặt lên mặt phẳng trụ,

giữ tư thế thân người, phần chống trụ phía dưới cần bảo đảm độ ổn định.

Hình 4-66

Người bảo hiểm (quan sát viên): Khi người thực hiện chuẩn bị bước

lên, hỗ trợ người lên tháp khắc phục trọng lượng cơ thể, bám chắc người lên

tháp, tránh xảy ra nguy hiểm đáng tiếc.

3.2. 3. Huấn luyện tư thế động tác hoàn chỉnh

Mục đích huấn luyện của phương pháp này đó là giúp người lên tháp

có thể đứng thẳng trên mặt phẳng chống trụ. Nhiều trường hợp thành viên đội

cổ động khi đứng trên “chân đế” biểu hiện rất rõ sự căng thẳng, điều này cũng

gây hạn chế về cao độ khi thực hiện tung bắt.

Người đỡ tháp: Chuẩn bị sẵn sàng, khi người thực hiện bước lên, hơi

chùng khớp gối, hai tay nắm chắc. Sau khi duỗi thẳng hai tay, duy trì tư thế

của tay, hạ thấp vị trí hai tay, bám chặt vào tay đồng đội.

Người lên tháp: Một chân đặt lên mặt phẳng trụ trước, hai tay chống

lên vai người đỡ tháp, chân kia bước tiếp lên, sau đó nhanh chóng đứng thẳng

lên, hai tay duỗi trên cao (hình 4-67). Sau khi duỗi thẳng cơ thể, chùng khớp

gối, hai tay chống lại trên vai người đỡ tháp.

144

Hình 4-67

Người bảo hiểm sau lưng: Hỗ trợ người thực hiện bước lên mặt phẳng

trụ, khi người thực hiện đã bước lên và đứng thẳng, bám vào vị trí hông và cổ

chân giúp giữ ổn định. Khi người lên tháp bước xuống, đỡ lấy phần hông của

họ nhằm bảo đảm an toàn.

Mục đích thực sự của phương pháp này nhằm tạo thói quen đứng trên

tay người đỡ tháp cho người lên tháp. Tư thế động tác hoàn chỉnh này nên

được giữ lâu trên tay người đỡ tháp, cho đến khi người lên tháp đã thành thục

động tác và cảm giác có thể hoàn thành nó một cách dễ dàng.

4. Huấn luyện thể lực trong thể dục cổ động.

4.1. Khái niệm.

Bài tập phát triển thể lực trong thể dục cổ động là phương tiện chính

được sử dụng trong các phần của thể dục cổ động gồm những động tác thể

dục phối hợp được thực hiện với các mức độ căng cơ (tốc độ, biên độ, dùng

sức) khác nhau nhằm phát triển toàn diện cơ thể, nâng cao thể lực chung và

trang bị các kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết cho người tập.

4.2. Ý nghĩa.

Bài tập phát triển thể lực trong thể dục cổ động là những động tác hay

bài tập cụ thể được sử dụng rộng rãi từ các nội dung của thể dục phát triển

chung như: Thể dục cơ bản, thể dục dụng cụ, thể dục bổ trợ các môn thể

thao…

145

Thông qua tập luyện các bài tập phát triển thể lực nhằm giúp người

tập phát triển toàn diện cơ thể và các tố chất thể lực cũng như tạo nền tảng

tiếp thu kỹ năng kỹ xảo vận động phức tạp hơn.

Bài tập phát triển thể lực hết sức phong phú và đa dạng, có thể tập tay

không hoặc với các dụng cụ nhẹ như: tạ tay, gậy thể dục, ghế thể dục, dây

nhảy, dây cao su, lò xo, dụng cụ thi đấu… và có thể tập cá nhân hoặc theo

nhóm, theo tập thể.

Bài tập phát triển thể lực được áp dụng rộng rãi trong thể dục cổ động

và tất cả các môn thể thao, dễ tập luyện, dễ điều chỉnh lượng vận động theo

mục đích nên nó là phương tiện có hiệu quả để phát triển toàn diện cơ thể và

các tố chất thể lực cơ bản.

4.3. Đặc điểm và tính chất.

Các bài tập phát triển thể lực tương đối đơn giản, dễ tiếp thu và có nội

dung hết sức phong phú và đa dạng dể áp dụng.

Bài tập phát triển thể lực có tác dụng chọn lựa lên từng bộ phận cơ

thể, từng nhóm cơ, từng tố chất, tùy theo mục đích và phương pháp tập luyện.

Đặc điểm này cho phép lựa chọn bài tập nhằm phát triển cân đối cơ thể, phát

triển từng tố chất thể lực hay từng kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản, sửa

chữa các tư thế sai lệch hay bệnh lý, phục hồi các chức năng vận động hoặc

các cơ quan khác của cơ thể.

Việc tổ chức tập luyện các bài tập phát triển thể lực tương đối đơn

giản, có người hướng dẫn hoặc tự tập, không đòi hỏi các trang thiết bị, dụng

cụ phức tạp.

Các bài tập phát triển thể lực dễ điều chỉnh lượng vận động tùy theo

mục đích tập luyện. Việc điều chỉnh lượng vận động dựa trên các yếu tố cơ

bản như: tăng giảm số lần lặp lại động tác, tăng giảm nhịp điệu động tác (

nhanh, chậm) khác nhau, sử dụng các phụ trọng khác nhau như: gậy, bóng

146

đặc, dây cao su, các loại tạ tay… hoặc thay đổi tư thế cơ thể ban đầu hay kết

thúc động tác… tập liên tục hay giãn cách.

Các bài tập phát triển thể lực thường lặp lại dễ gây ức chế và mệt mỏi

nên tùy thuộc mục đích và tính chất bài tập có thể tiến hành dưới các hình

thức trò chơi để tạo hưng phấn, giảm căng thẳng và mệt mỏi hoặc thay đổi các

bài tập mới kết hợp các phương tiện như âm nhạc… giữa các giai đoạn nhằm

nâng cao hiệu quả tập luyện.

4.4. Phân loại và sử dụng các bài tập phát triển thể lực trong thể

dục cổ động.

Cơ sở chính để phân loại và sử dụng bài tập phát triển thể lực là dựa

trên việc tác dụng chọn lựa của các động tác bài tập đó lên từng phần, từng

nhóm cơ hay tố chất riêng biệt của cơ thể người tập để phân chia thành các

nhóm chính như sau:

4.4.1. Các bài tập cho tay và bả vai.

Các bài tập cho bàn tay và ngón tay gồm.

- Các bài tập phát triển sức mạnh.

Ví dụ: Động tác bóp bóng ten nít, bóp lực kế, các tư thế chống đẩy

bằng đầu ngón tay…

- Các bài tập tăng cường độ linh hoạt khớp.

Ví dụ: Các động tác làm kéo căng, gấp, duỗi và xoay tròn bàn tay…

Các bài tập cho cẳng tay gồm:

- Các bài tập phát triển sức mạnh cẳng tay.

Ví dụ: Hai tay cầm tạ tay, dây cao su hoặc lò xo làm động tác gập duỗi

cẳng tay lặp lại, co tay trên xà đơn, chống đẩy trên xà kép hoặc leo dây, nằm

sấp hoặc nằm ngửa chống đẩy tay…

- Các bài tập tăng cường độ linh hoạt khớp khuỷu.

Ví dụ: Các động tác gập duỗi và quay cẳng tay kết hợp cầm các dụng

cụ nhẹ như tạ tay, gậy…

147

Các bài tập cho cánh tay và bả vai gồm:

- Các bài tập phát triển sức mạnh gấp duỗi khớp vai.

Ví dụ: Hai tay vít dây cao su hoặc vật nặng qua ròng rọc từ trên cao

xuống thấp lặp lại hoặc vít ngược lại, bài tập với các vật nặng và lượng đối

kháng khác.

- Các bài tập tăng cường độ linh hoạt khớp vai.

Ví dụ: Động tác đánh tay cao thấp, quay tròn cánh tay và kéo căng

khớp vai theo các hướng khác nhau với thang dóng hoặc với gậy thể dục, dây

cao su…

4.4.2. Các bài tập cho cổ .

Các bài tập tăng cường sức mạnh cổ.

Ví dụ: Hai tay ôm gáy, gắng sức gập đầu về trước, ra sau khắc phục

lực cản của tay, gập đầu các hướng khắc phục lực cản bên ngoài như dây cao

su, lò xo, vật nặng khác…

Các bài tập tăng cường linh hoạt khớp cổ.

Ví dụ: Gập đầu hoặc quay tròn đầu theo các hướng khác nhau lặp lại

nhiều lần…

4.4.3. Các bài tập cho chân.

Các bài tập cho bàn chân và cẳng chân.

Bài tập phát triển sức mạnh như đứng bật nhảy liên tục bằng bàn chân

hoặc nhảy dây, gánh tạ hoặc vật nặng đứng lên ngồi xuống gấp duỗi bàn chân

hoặc bật nhảy liên tục, cố định thân trên làm động tác gấp duỗi bàn chân với

dây cao su hoặc lò xo…

- Bài tập tăng cường độ linh hoạt khớp cổ chân và bàn chân như các

động tác gấp duỗi, quay tròn và ngồi lên bàn chân gấp về sau….

Các bài tập cho cơ đùi.

- Bài tập phát triển sức mạnh như gánh tạ đứng lên ngồi xuống hoặc

khắc phục ngoại lực của dây cao su, lò xo hay các vật nặng khác

148

- Bài tập tăng cường độ linh hoạt của khớp hông như các động tác đá

lăng chân với biên độ lớn theo các hướng, các động tác xoạc dọc hay xoạc

ngang kết hợp ngoại lực kéo căng khớp hông, đứng dạng chân quay tròn thân

giữa…

4.4.4. Các bài tập cho cơ thân mình.

Các bài tập tăng cường sức mạnh cơ phía trước.

Ví dụ: Nằm ngửa gập duỗi thân mình hoặc cố định tay hay chân làm

động tác gấp duỗi thân lặp lại kết hợp vật nặng hay khắc phục lượng đối

kháng bên ngoài.

Các bài tập tăng cường sức mạnh cơ phía sau.

Ví dụ: Nằm ngửa làm động tác gấp duỗi cơ lưng kết hợp khắc phục

ngoại lực khác như dây cao su và vật nặng, đứng gập thân gánh tạ gấp duỗi

lưng…

Các bài tập tăng cường sức mạnh cơ lườn.

Ví dụ: Nằm nghiêng làm động tác gấp duỗi cơ lườn lặp lại và kết hợp

khắc phục các ngoại lực khác.

Các bài tập phối hợp toàn thân.

Bài tập phối hợp toàn thân thường là các bài tập có tác dụng luân

phiên hoặc đồng thời lên các nhóm cơ chính của toàn thân hoặc các động tác

phối hợp ở nhiều tư thế (đứng, ngồi, nằm…) và có biên độ hoạt động lớn.

Ví dụ: - Nằm sấp chống đẩy tay kết hợp nâng và hạ từng chân ra sau.

- Nằm ngửa uốn cầu hoặc đứng ngả sau uốn cầu.

- Chống đẩy trên xà kép kết hợp ke chân vuông góc.

- Các bài tập với vật nặng luân phiên ở các tư thế và các nhóm cơ khác

nhau.

Các bài tập tăng cường linh hoạt cột sống.

Ví dụ:

149

- Gập duỗi và quay thân trên các hướng ở các tư thế đứng, ngồi hoặc

nằm .

- Lặp lại các động tác trên kết hợp khắc phục ngoại lực hay vật nặng

kéo căng phần thân trên.

4.5. Tổ chức tập luyện các bài tập phát triển thể lực.

4.5.1. Nguyên tắc lựa chọn và sắp xếp bài tập.

Nguyên tắc lựa chọn.

Động tác bài tập được lựa chọn phải phù hợp với mục đích và yêu cầu

buổi tập đặt ra.

Bài tập phải có tác dụng toàn diện lên cơ thể người tập (tác dụng lên

các nhóm cơ và phát triển các tố chất thể lực cơ bản).

Bài tập phải phù hợp với lứa tuổi, giới tính và trình độ thể lực của

người tập.

Nguyên tắc sắp xếp các động tác.

Phần đầu là các động tác có tác dụng rèn luyện tư thế cơ bản, đúng,

đẹp để làm nền tảng cho việc thực hiện các động tác sau. Yêu cầu này đặc biệt

cần thiết đối với các lứa tuổi nhỏ đang trưởng thành.

Tiếp sau là những động tác có cấu trúc đơn giản,nhưng có tác động

lên những nhóm cơ lớn và các cơ quan của cơ thể (như các động tác gập

thân kết hợp hoạt động tay vai, động tác chạy bộ nâng cao đùi).

Tiếp theo là các động tác ảnh hưởng trực tiếp đến các nhóm cơ của

từng phần cơ thể như (tay vai, cổ, chân, thân mình) với độ khó và mức độ

dùng sức tăng dần nhằm đảm bảo tăng lượng vận động và luân phiên tác động

lên từng phần của cơ thể, vừa kết hợp nghỉ ngơi tích cực nâng cao hiệu quả

tập luyện.

Tiếp sau là các động tác phối hợp phức tạp và huy động thể lực cao để

phát triển toàn diện cơ thể.

150

Cuối cùng là các động tác có cường độ trung bình để ổn định và rèn

luyện tư thế cơ bản.

Mỗi động tác hoặc bài tập liên hợp có thể lặp lại khoảng 4 lần 8 nhịp

hoặc nhiều hơn. Có thể tập tay không hoặc với các dụng cụ nhẹ như dây nhảy,

gậy thể dục, tạ tay, bóng đặc, dây cao su, tạ cử hay các động tác trên các dụng

cụ.

Hình thức tập luyện có thể tập cá nhân, hai người hay tập thể, tập

đồng loạt hoặc theo nhóm lệch pha kế tiếp nhau 1/2 hay 1/4 nhịp, có thể thực

hiện luân phiên giúp đỡ lẫn nhau, tập tại chổ hoặc di chuyển…

4.5.2. Phương pháp tổ chức lên lớp.

Phương pháp bình thường. Trước lúc thực hiện người tập được xem

làm mẫu hay thị phạm, sau đó giải thích ngắn gọn và nêu yêu cầu thực hiện,

tiếp theo sử dụng khẩu lệnh để chỉ huy và điều khiển tập luyện. Phương pháp

này thường được áp dụng rộng rãi.

Phương pháp liên tục

- Là tất cả các động tác hay bài tập được thực hiện liên tục từ động tác

này đến động tác khác không có dừng lại, nhằm làm tăng mật độ vận động

của bài tập và tăng cường hoạt động của các chức năng trong cơ thể, làm tăng

hiệu quả phát triển thể lực. Phương pháp này áp dụng phù hợp cho đối tượng

đã có trình độ chuẩn bị về thể lực và kỹ thuật nhất định.

- Khi thực hiện phương pháp này cần chú ý sử dụng các động tác

tương đối dễ và quen thuộc và có sự chuyển tiếp dễ dàng giữa các động tác.

Giảng viên kết hợp giữa lời nói, làm mẫu và dẫn dắt động tác mới ngay trong

lúc người tập đang thực hiện các nhịp cuối của động tác trước.

- Đặc điểm về phương pháp này là thực hiện động tác trong quá trình

di chuyển nên có thể tập bình thường hoặc kết hợp với nhảy múa hay nhào

lộn đơn giản, hoặc các hình thức khác để tăng tính hấp dẫn và tác dụng của

bài tập.

151

Chương 5

ĐIỀU LỆ THI ĐẤU GIẢI THỂ DỤC CỔ ĐỘNG

1. Những quy định chung khi tiến hành biên soạn điều lệ giải

1.1. Quy định đối tượng, đăng ký tham gia

Đối tượng tham gia:

Các vận động viên tham gia đội tuyển phải đảm bảo 03 tiêu chuẩn sau:

- Là học sinh, sinh viên hiện đang học tại các trường ở Việt Nam. Có độ

tuổi từ 6 đến 25 tuổi.

- Có đạo đức tốt và học lực từ trung bình trở lên.

- Có xác nhận đủ sức khỏe tham gia hoạt động thể thao của Giải do cơ

quan có thẩm quyền cấp.

- Mỗi vận động viên chỉ được thi đấu cho 01 trường.

Quy định đăng ký tham gia

- Tuỳ thuộc vào các cấp học và phạm vi tổ chức giải.

- Số lượng Vận Động Viên : Tối thiểu tham dự giải là 15 VĐV/trường.

- Bản đăng ký phải theo mẫu do Ban Tổ chức cung cấp (có dấu xác nhận

của Ban Giám hiệu nhà trường), trong đó có:

+ 01 ảnh (10x15cm) chụp chung tất cả các thành viên của đội tham dự.

+ Mỗi vận động viên nộp 03 tấm hình chân dung 3x4cm (ảnh chụp chưa

quá 06 tháng), trong đó 01 ảnh dán trực tiếp vào đơn đăng ký tham dự và có

đóng dấu giáp lai, 02 ảnh còn lại đính kèm hồ sơ; 01 chứng minh nhân dân

photo hoặc thẻ Học sinh, Sinh viên photo (không cần công chứng); 01 bảng

điểm học tập và điểm rèn luyện của học kỳ gần nhất khi tham dự phải có xác

nhận từ nhà trường.

+ Mỗi vận động viên phải nộp 01 giấy xác nhận đầy đủ sức khỏe tham

dự các hoạt động thể thao do cơ quan có thẩm quyền cấp.

2. Nội dung thi đấu

152

2.1. Cấu trúc:

- Có phần mở bài và phần kết thúc.

- Phải có ít nhất 05 đội hình di chuyển, khuyến khích nhiều đội hình

phong phú và đa dạng hơn.

- Phải có 03 động tác bật nhảy bắt buộc trong bài thi: Bật tách chân chữ

V gập thân, bật khép chân gập thân và bật cossack (tất cả các thành viên của đội

đều phải thực hiện).

- Phải có các kỹ thuật sau: Ít nhất 02 lần tung hứng, ít nhất 02 lần nhào

lộn, ít nhất có 03 đội hình xếp tháp trong bài dự thi.

2.1. Hô cổ động (Cheer):

- Hô cổ động ít nhất 10 giây, tối đa 30 giây, các đoạn cổ động phải vui

tươi, lành mạnh, gây được sự chú ý và sự phấn khích của khán giả. Nội dung hô

cổ động cần làm nổi bật lên thông điệp, tên trường, tên đội của mình, tên giải

hoặc tên sản phẩm của nhà tài trợ bằng tiếng Anh hoặc tiếng Việt và phải bằng

giọng thật của các thành viên trong đội.

- Được sử dụng tất cả các dụng cụ mang tính cổ động như bông tua,

bảng chữ, ống loa, cờ,… (tất cả các vật dụng khi mang vào sử dụng phải thông

báo trước cho đại diện Ban Tổ chức trước 3 ngày để đảm bảo an toàn khi thi

đấu).

* Lưu ý: Các đội có thể thực hiện bài thi có hoặc không có dụng cụ.

2.3. Nâng người (Partner stunts)(được sử dụng người bảo hiểm):

- Yêu cầu phải có động tác lên và động tác xuống rõ ràng.

- Kỹ thuật được chấp nhận khi thực hiện với 02 đế (hoặc 01 đế).

- Yêu cầu chuyển đổi các tư thế trên tay bạn diễn liên tục (lưu ý các tư

thế chuyển đổi không được lặp lại quá 02 lần trên 01 động tác nâng người).

2.4. Tư thế cơ bản. Đứng thẳng trên tay đế (Extension/Elevator).

2.5. Tư thế trung bình:

- Một chân thẳng một chân co ngang gối (Liberty).

153

- Thăng bằng trước, ngang.

- Thăng bằng sau (Scale).

2.6. Tư thế nâng cao:

- Tư thế bọ cạp (Scorpion), tư thế giương cung (Bow and Arrow).

- Phải được thực hiện với tất cả các thành viên của đội (đội 20 người

phải có 5 nhóm thực hiện).

2.7. Xếp tháp (Pyramid):

- Yêu cầu trong bài thi phải có tối thiểu 3 lần nâng tháp trở lên.

- Phải thực hiện nhiều chuyển động hoặc thay đổi tư thế khi tạo hình

tháp.

- Tháp được thực hiện với tất cả các thành viên trong đội.

2.8. Tung hứng (Basket Tosses):

- Hành động tung hứng sẽ được tính bằng cách khi chân người được

tung rời khỏi tay của người tung và kết thúc trên tay đồng đội.

- Yêu cầu độ cao khi tung hứng phải vượt qua chiều cao 02 người đứng.

- Khi tung hứng trên không có thể thực hiện các động tác của thể dục

như:

+ Bật thẳng (Straight Ride).

+ Bật tách chân chữ V gập thân ( Toe touch), bật khép chân gập thân

(Pike).

+ Bật căng thân chữ X (X – out).

+ Santo trước, Santo sau.

2.9. Kỹ thuật Nhào lộn (Acrobatic – Jump):

- Nhào lộn cơ bản: lộn chống nghiêng.

- Chống lộn trước (bật cầu trước một chân hoặc hai chân).

- Chống lộn sau (bật chống, santo ôm gối, santo thẳng người).

- Bật căng thân chữ X (X-out).

154

- Bật dạng gập thân, bật gập thân co duỗi 01 chân, bật gập thân kép 02

chân.

2.10. Vũ đạo dance:

- Các bước nhảy mang tính mạnh mẽ của thể dục cổ động và các động

tác chuyển tiếp (có tiết tấu thay đổi phù hợp và khớp với vũ đạo).

- Có thể áp dụng, kết hợp tất cả các loại hình nhảy cho phần dự thi, ví

dụ: Hip-hop, Breakin’, Poppin’, Lockin’, House, Krumpin’, Jazz, dance sport,

belly dance, …

2.11. Thời gian thi đấu: Thời gian bài thi đấu: 4’00’’ ± 15’’ (từ nhịp

nhạc đầu tiên đến nhịp nhạc cuối cùng);

2.12. Âm nhạc: Nhạc phải được ghi trên đĩa CD, USB riêng biệt, sử

dụng nhạc nền có lời hoặc không lời, được ghi âm liên tục (nếu dừng không

được phép quá 30’’). Một đại diện của đội sẽ đưa tín hiệu bắt đầu và dừng nhạc.

Các đội phải nộp bài nhạc cho Ban Tổ chức bằng USB và đĩa CD với chất

lượng âm thanh tốt và chịu trách nhiệm về nội dung và bản quyền.

2.13. Những động tác không được phép:

- Cấm sử dụng hiệu ứng âm thanh để hô cổ động.

- Cấm đeo trang sức và đeo kính cận, sử dụng trợ thính.

- Cấm các chủ đề về bạo lực, tôn giáo, phân biệt chủng tộc, giới tính và

đạo đức.

2.14. Sàn thi đấu: kích thước 15 x 15m

2.15. Trang phục thi đấu:

- Phải là chất liệu thun co giãn dễ cử động, sử dụng giày thể thao mềm

dễ thực hiện bài thi, tung hứng, nâng tháp và đồng phục phải thống nhất trong

toàn đội.

- Bài thi phải thể hiện sự sáng tạo và nội dung đặc trưng của Nhảy và Cổ

động (Cheerdance) thể hiện các động tác khỏe khoắn, phù hợp với khả năng

155

vận động của các thành viên trong đội, phần trình diễn phải mang tính tương

tác, phối hợp của toàn đội.

* Đối với Nam: Quần thun ngắn hoặc dài, áo thun dài tay, ngắn tay hoặc

sát nách.

* Đối với Nữ:

- Quần thun ngắn hoặc dài, váy, áo thun dài tay hoặc ngắn tay hoặc sát

nách (được phép hở bụng).

- Tóc phải được buộc gọn gàng không gây ảnh hưởng trong quá trình

thực hiện bài thi, đặc biệt là tránh gây chấn thương vì tầm nhìn bị che khuất.

- Được phép trang điểm, trang trí với những hình ảnh thể hiện nội dung

lành mạnh, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

3. Hình thức thi đấu

Vòng loại (trường, Quận – huyên, thành phố, khu vực)

Vòng chung kết (trường, Quận – huyên, thành phố, khu vực)

Vòng chung kết toàn quốc:

- Các đội sẽ thể hiện bài dự thi của mình theo thứ tự bốc thăm. Ban Tổ

chức sẽ xét theo tổng số điểm đạt đạt được để xếp thứ hạng.

1. Điều lệ (ví dụ mẫu).

156

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Độc lập –Tự do – Hạnh phúc

LIÊN ĐOÀN THỂ DỤC

Số : …/ĐL-LĐTD ……….., ngày … tháng … năm ….

ĐIỀU LỆ GIẢI

THỂ DỤC CỔ ĐỘNG SINH VIÊN & THANH NIÊN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG MỞ RỘNG NĂM …….

CÚP ……………

Điều 1. Mục đích ý nghĩa:

- Tiếp tục đẩy mạnh phong trào rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ

vĩ đại.

- Nhằm xây dựng phong trào tập luyện Thể dục Thể thao và tạo sân

chơi bổ ích cho Học sinh, Sinh viên tại các trường TH phổ thông , Đại học,

Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp. Sở giáo dục và Đào tạo, Liên đoàn

Thể dục Việt nam, Trung tâm TDTT ………………… phối hợp tổ chức với

sự tài trợ của nhãn hàng …………….

Điều 2 : Đối tượng - điều kiện tham dự:

a. Đối tượng:

- Tất cả Học sinh, Sinh viên đang học tập ở các trường Trung học phổ

thông, Đại học, Cao đẳng và Trung học cấp chuyên nghiệp trên địa bàn TP.Đà

Nẵng.

b. Điều kiện tham dự:

- Mỗi đơn vị được quyền đăng ký nhiều đội (VĐV chỉ được đăng ký thi

đấu cho 01 đội )

- Số lượng tham dự: Từ 15 đến 20 VĐV (và 2 VĐV dự bị).

- Danh sách đăng ký tham dự phải có xác nhận của đơn vị chủ quản

(theo mẫu)

157

Điều 3. Tính chất thi đấu:

a. Tính chất:

Khối TH phổ thông : lớp 10 - 12

Khối Đại học,Cao đẳng ,Trung cấp chuyên nghiệp:

Bảng A: Các trường chuyên nghiệp và có thành tích các giải TDCĐ

Bảng B: Các trường không chuyên và chưa có thành tích các giải

TDCĐ

- Vòng loại: mỗi bảng Ban tổ chức chọn 05 đội có số điểm cao nhất

vào thi chung kết

- Chung kết: 05 đội của mỗi khối, bảng sẽ tranh thứ hạng : Nhất, Nhì,

Ba và 02 giải khuyến khích.

b. Luật thi đấu:

Thời gian bài thi: 2 phút 30” ± 10” (từ nhịp nhạc đầu tiên đến nhịp

nhạc cuối cùng)

- Âm nhạc: Sử dụng nhạc nền có lời hoặc không lời, nhạc phải được ghi

liên tục (nếu dừng không được phép quá 10”), được ghi trên một đĩa nhạc riêng

biệt và ghi tên đơn vị.

- Các đội phải nộp bài nhạc cho BTC đĩa CD với chất lượng âm thanh

tốt và tự chịu trách nhiệm về nội dung và bản quyền;

- Trang phục: quần short, Short váy, áo thun dài tay, ngắn tay hoặc sát

nách được phép hở bụng đối với Nữ. Quần dài, áo tay dài hoặc ngắn tay đối

với Nam nhưng phải là chất liệu thun co giãn dễ cử động. Sử dụng giầy thể

thao mềm dễ thực hiện bài thi, tung hứng, nâng tháp và đồng phục phải thống

nhất trong toàn đội;

- Tóc phải được buộc gọn gàng không gây ảnh hưởng trong quá trình

thực hiện bài thi, đặc biệt là tránh gây chấn thương vì tầm nhìn bị che khuất;

158

- Được phép trang điểm, trang trí với những hình ảnh thể hiện nội

dung lành mạnh, phát huy bản sắc nền văn hoá dân tộc truyền thống của Việt

Nam;

* Được phép

- Có mở bài và kết thúc khớp với nhạc nền;

- Hô khẩu hiệu ít nhất 10”, các đoạn Cheer phải vui tươi, lành mạnh.

Nêu bật được nội dung muốn cổ động của đội mình, tên trường, tên đội, tên

Giải hoặc tên sản phẩm của nhà tài trợ cho Giải bằng tiếng Việt và phải bằng

giọng thật của các thành viên trong đội;

- Bài thi phải thể hiện sự sáng tạo và nội dung đặc trưng của thể dục

cổ động thể hiện những động tác khỏe khoắn, phù hợp với khả năng vận động

của các thành viên trong đội, phần trình diễn phải mang tính tương tác, phối

hợp của toàn đội.

- Phải có ít nhất 5 đội hình di chuyển, khuyến khích nhiều đội hình phong

phú và đa dạng;

- Sử dụng các bước nhảy hiện đại, đa dạng như: Hiphop Dance, Break

Dance….

- Phải có 03 động tác bật nhảy bắt buộc trong bài thi: Bật dạng gập

thân, bật dạng chân chữ X và bật cossack (phải được thực hiện tất cả các

thành viên của đội).

- Phải nâng tháp: Đôi, ba, bốn người…. trở lên (cho phép HLV bảo

hiểm).

- Các động tác thể dục nhào lộn như : Lộn xuôi, Lộn chống nghiêng,

Lộn chống ,Xanto trước, xanto sau ….

- Các động tác tung hứng mạo hiểm (Stunt): Hành động tung hứng bạn

diễn sẽ được tính bằng cách chân… rời khỏi tay của đồng đội, tiếp đất hoặc

trên tay đồng đội. Được sử dụng tất cả các dụng cụ mang tính cổ động như

bông tua, lụa, vòng, hoa, cờ, quạt.

159

* Không được phép

- Cấm sử dụng các động tác Ballet.

- Cấm rơi xuống sàn bằng đùi hoặc mông.

- Cấm đeo trang sức và đeo kính cận, dụng cụ trợ thính.

- Cấm các chủ đề về bạo lực, tôn giáo, phân biệt chủng tộc, giới tính

và đạo đức.

* Quy định về chấm điểm:

A. Thang điểm đánh giá bài thi: Tổng điểm: 100 điểm

1. Ấn tượng chung, phong cách biểu diễn lôi cuốn: 20 điểm

- Xuất sắc : 17 - 20 điểm

- Tốt : 13 - 16 điểm

- Khá : 09 - 12 điểm

- Trung bình : 05 - 08 điểm

- Dưới trung bình : 01 - 04 điểm

2. Nghệ thuật cổ động, kỹ năng quảng cáo và thể hiện tinh thần: 20

điểm

- Xuất sắc : 17 – 20 điểm

- Tốt : 13 – 16 điểm

- Khá : 09 – 12 điểm

- Trung bình : 05 – 08 điểm

- Dưới trung bình : 01 – 04 điểm

3. Kỹ năng thực hiện chung và các bước nhảy: 15 điểm

- Xuất sắc : 13 – 15 điểm

- Tốt : 10 – 12 điểm

- Khá : 07 – 09 điểm

- Trung bình : 04 – 06 điểm

- Dưới trung bình : 01 – 03 điểm

4. Bố trí khoảng cách và di chuyển đội hình: 10 điểm

160

- Xuất sắc : 09 – 10 điểm

- Tốt : 07 – 08 điểm

- Khá : 05 – 06 điểm

- Trung bình : 03 – 04 điểm

- Dưới trung bình : 01 – 02 điểm

5. Thực hiện các động tác thể dục: 15 điểm

- Xuất sắc : 13 – 15 điểm

- Tốt : 10 – 12 điểm

- Khá : 07 – 09 điểm

- Trung bình : 04 – 06 điểm

- Dưới trung bình : 01 – 03 điểm

6. Thực hiện các động tác nhào lộn: 20 điểm

- Xuất sắc : 17 – 20 điểm

- Tốt : 13 – 16 điểm

- Khá : 09 – 12 điểm

- Trung bình : 05 – 08 điểm

- Dưới trung bình : 01 – 04 điểm

B. Các điểm bị trừ:

- Trang phục không đúng : Trừ 5 điểm.

- Vi phạm thời gian: Thừa/thiếu thời gian < 10” : Trừ 2 điểm

Thừa/thiếu thời gian > 10” : Trừ 5 điểm

- Thiếu kỹ thuật bật nhảy quy định : Trừ 5 điểm/ động tác

- Độ cao của tháp quá 02 người đứng : Trừ 5điểm/lần

- Thiếu các bước nhảy : Trừ 15 điểm

- Thiếu các động tác thể dục : Trừ 15 điểm

- Các động tác, nội dung bị cấm : Trừ 5 điểm/lần

- Đeo trang sức : Trừ 1 điểm/người

161

- Các đội và HLV không mặc đúng trang phục thể thao và ngồi không

đúng vị trí do BTC quy định : Trừ 5 điểm/đội

Điểm của mỗi đội được tính bằng cách lấy trung bình cộng số điểm

của các thành viên BGK (Tổng điểm các giám khảo chia cho số giám khảo),

lấy từ cao xuống thấp.

Trong trường hợp bằng điểm sẽ căn cứ vào các điểm được xếp theo

thứ tự từ cao xuống thấp như sau để xếp hạng:

1. Thực hiện các động tác nhào lộn.

2. Kỹ năng thực hiện chung và các bước nhảy.

3. Thực hiện các động tác thể dục.

4. Nghệ thuật cổ động, kỹ năng quảng cáo và thể hiện tinh thần.

5. Bố trí khoảng cách và di chuyển đội hình.

Điều 4. Thời gian – Địa điểm thi đấu:

- Hạn chót đăng ký: 04/11/20……

- Họp lãnh đội và bốc thăm xếp lịch: 06/12/20…... (09g00)

- Thi vòng loại 26/12/20… (17g30)

- Thi chung kết 27/12/20… (17g30)

- Địa điểm đăng ký, họp lãnh đội, bốc thăm và thi đấu:

Tại Trung tâm TDTT…………………………………………….

- Nhận hồ sơ đăng ký thi đấu :

Nhà Trung tâm TDTT ……………… : Anh (chị) …………..

– Điện thoại : …………………..

Điều 5. Giải thưởng – Kỷ luật

a. Khen thưởng:

Ban tổ chức sẽ trao giải thưởng Cúp và tiền mặt: Nhất – Nhì – Ba và

02 khuyến khích theo nhóm như sau:

1- Khối : Trung học phổ thông : Nhất ,Nhì , Ba và 02 khuyến khích

2- Khối Đại học , cao đẳng :

162

- Bảng A : Nhất ,Nhì , Ba và 02 khuyến khích

- Bảng B : Nhất ,Nhì , Ba và 02 khuyến khích

Giải thưởng phụ:

* Giải Nam - Nữ khoẻ đẹp (VĐV có gương mặt đẹp, hình dáng khoẻ

mạnh và thực hiện tốt bài thi )

* Giải Cổ động viên trên khán đài: 100 người trở lên (có dụng cụ cổ

động)

b. Kỷ luật:

- Ban tổ chức sẽ đình chỉ việc chỉ đạo của HLV và thi đấu của VĐV

khi phát hiện có thái độ không đứng đắn với Ban tổ chức và Trọng tài.

- Ban tổ chức sẽ hủy kết quả thi đấu khi VĐV không dự lễ trao

thưởng.

Điều 7. Các điều khoản khác :

- Các đơn vị tham dự giải tự túc về kinh phí .

- Các đội không được quyền khiếu nại về kết quả điểm và phải chấp

hành theo sự phán quyết của Hội đồng trọng tài và BTC.

- Chỉ có Ban tổ chức mới có quyền thay đổi điều lệ này./

Nơi nhận:

- Hội Sinh viên Thành phố;

- Liên đoàn Thể dục;

- Đảng ủy, BGH các trường;

- Thành viên Ban Tổ chức;

- Lưu: VP.

163

ĐƠN VỊ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

_______________________ Độc lập –Tự do – Hạnh phúc

_______________________

DANH SÁCH ĐĂNG KÝ

GIẢI THỂ DỤC CỔ ĐỘNG (CHEERLEADING)

SINH VIÊN & THANH NIÊN MỞ RỘNG NĂM ……………

Lãnh đội : _____________________ Điện thoại :_______________

HLV : _______________________ Điện thoại :_______________

Nhóm : _________________________________________________

ẢNH VĐV HỌ VÀ TÊN NĂM SINH

Họ và tên :____________ Họ và tên :__________ Họ và tên :__________

N.Sinh : ______________ N.Sinh : ____________ N.Sinh : ___________

Họ và tên :___________ Họ và tên :__________ Họ và tên :__________

N.Sinh : _____________ N.Sinh : ____________ N.Sinh : ___________

Họ và tên :___________ Họ và tên :__________ Họ và tên :__________

N.Sinh : _____________ N.Sinh : ____________ N.Sinh : ___________

……………. ,ngày tháng năm

Hiệu trưởng

164

4. Quy tắc cho điểm môn thể dục cổ động

4.1. Cách đánh giá.

4.1.1. Bài biên soạn.

Thể dục cổ động vũ đạo

Động tác phải dựa trên nền nhạc để biên soạn, phải mang đặc thù của

môn thể dục cổ động vũ đạo. Áp dụng hoạt động của tay, hoạt động của chân,

thân mình và bật nhảy kết hợp với nhiều loại nhân tố vũ đạo, đạo cụ, khẩu

hiệu...thông qua biến hóa thay đổi về thời gian, phương hướng, đội hình, nhịp

điệu làm nổi bật rõ nét đặc trưng và phong cách của bộ môn này. Trong thể dục

cổ động vũ đạo nếu xuất hiện nhóm động tác nhào lộn thì cũng không được

đánh giá là có độ khó. Thể dục cổ động vũ đạo cho phép xuất hiện tạo hình tháp

với chủ đề chính là vũ đạo, nhưng không được vượt quá độ cao của 2 người, tạo

hình tháp này chỉ xuất hiện với vai trò là cơ sở của bài qui định.

Thể dục cổ động kỹ xảo

Động tác phải dựa trên nền nhạc để biên soạn, phải mang đặc thù của

môn thể dục cổ động kỹ xảo. Bài qui định phải bao hàm được động tác thuộc 4

nhóm độ khó của thể dục cổ động kỹ xảo, mỗi loại phải xuất hiện ít nhất một

lần, áp dụng các động tác cơ bản của thể dục cổ động kết hợp với yếu tố vũ đạo,

đạo cụ, khẩu hiểu..., tận dụng những chuyển biến về không gian, phương

hướng, đội hình để thể hiện đặc trưng chuyên môn cùng kỹ năng tập thể vượt

trội của thể dục cổ động

4.1.2. Mức độ hoàn thành.

Các động tác trong bài qui định phải được hoàn thành một cách chính

xác và hoàn mĩ, bao gồm chính xác trong cả tư thế cơ thể và vị trí tay, kỹ thuật

kỹ xảo, động tác khó, kết hợp đạo cụ, tính rõ ràng của động tác, lực, tính nhất

quán, khả năng thể hiện, kết hợp với âm nhạc cùng những nội dung khác khi

thực hiện động tác.

4.1.3. Động tác khó

165

Thể dục cổ động vũ đạo

Phân loại độ khó của động tác theo bài trong thể dục cổ động vũ đạo

chia làm 3 nhóm: lần lượt là nhóm thăng bằng quay người, nhóm bật nhảy và

nhóm đá chân. Tiêu chuẩn hoàn thành thấp nhất của 3 nhóm độ khó như sau:

- Nhóm thăng bằng và quay người: Khi kết thúc động tác, góc quay phải

trọn vẹn, trọng tâm ổn định.

- Nhóm bật nhảy: Thực hiện rõ ràng về tư thế, góc độ và độ mở đối với

mỗi một loại động tác bật nhảy.

- Nhóm đá chân: Động tác mở đầu và kết thúc phải hoàn chỉnh, rõ ràng,

cao độ khi đá chân cần đạt được yêu cầu của bảng độ khó, nhóm động tác thăng

bằng phải giữ trong 2 giây.

Thể dục cổ động kỹ xảo

Phân loại độ khó của động tác theo bài trong thể dục cổ động kỹ xảo

chia làm 4 nhóm: lần lượt là nhóm nhào lộn, nhóm lên tháp cơ bản, nhóm tạo

hình kim tự tháp (lên tháp phức tạp) và nhóm tung-bắt. Tiêu chuẩn hoàn thành

thấp nhất của 4 nhóm độ khó như sau:

- Nhóm nhào lộn: Góc quay người khi kết thúc động tác phải hoàn

chỉnh, khi thực hiện động tác nhào lộn cho phép các thành viên khác bảo hiểm.

- Nhóm lên tháp cơ bản: Thể hiện rõ ràng hình dạng của tháp đồng thời

giữ khống chế trong 2 giây, các động tác quá độ khi lên tháp không được tính là

tạo hình mới của tháp, nhưng đối với những động tác quá độ hình thành nên tạo

hình tháp mới và giữ được sau 2 giây sẽ được xem như là tạo hình tháp, vì vậy

vẫn được tính độ khó cũng như cho điểm.

- Nhóm lên tháp phức tạp: Thể hiện rõ ràng hình dạng của tháp phức tạp

đồng thời giữ khống chế trong 2 giây, các động tác quá độ khi lên tháp phức tạp

không được tính là tạo hình mới của tháp, nhưng đối với những động tác quá độ

hình thành nên tạo hình tháp mới và giữ được sau 2 giây sẽ được xem như là tạo

hình tháp, vì vậy vẫn được tính độ khó cũng như cho điểm.

166

- Nhóm tung- bắt: Mở đầu và kết thúc của động tác phải hoàn thiện, rõ

ràng, tư thái của người thực hiện trên không phải đạt được yêu cầu về độ khó.

4.2. Thang điểm đánh giá. (tổng điểm: 100)

4.2.1. Bài biên soạn (50 điểm)

Được cấu thành bởi 6 nội dung, bao gồm: thiết kế động tác, chủ đề và

phong cách kỹ thuật, thực hiện và liên kết, âm nhạc sử dụng, biểu diễn và phục

trang, động tác bắt buộc. Tiêu chuẩn đánh giá như sau:

Rất tốt: 8- 10 điểm

Tốt: 6-7 điểm

Trung bình: 4-5 điểm

Kém: 2-3 điểm

Rất kém: 0-1 điểm

Thiết kế động tác (10 điểm)

Thiết kế động tác theo bài phải thể hiện được tính đa dạng và tính sáng

tạo của chủ đề, nhằm nổi bật tính phức tạp và giá trị nghệ thuật của nhóm động

tác này.

Chủ đề và phong cách kỹ thuật (10 điểm)

Động tác theo bài cần nổi trội sự mới mẻ của chủ đề biểu diễn. Khái

niệm của chủ đề biểu diễn rất rộng, nó có thể là một dạng tinh thần, một kiểu tư

tưởng, hay một màn biểu diễn kinh kịch mang tính tượng trưng.... Động tác

theo bài có thể được thể hiện kết hợp cùng đạo cụ, khi sử dụng đạo cụ phải nổi

bật được giá trị, ví dụ nội dung phong phú hay những gì mà chủ đề yêu cầu.

Phong cách kỹ thuật đặc thù của thể dục cổ động không giống với thể

dục nhịp điệu hay vũ đạo, nó tập trung thể hiện nhiều hơn quá trình chuyển

động của cơ thể thông qua những hoạt động trong thời gian ngắn, tốc độ, có

định vị rõ ràng, nhằm toát lên cảm giác sức mạnh riêng biệt trong thể dục cổ

động, những động tác chậm rãi tương đối có thể được chấp nhận, nhưng lưu ý

chỉ nên xuất hiện với vai trò là động tác quá độ

167

Thực hiện và liên kết (10 điểm)

Thể dục cổ động vũ đạo: Thực hiện và liên kết của mỗi một động tác

hay một nhóm động tác phải thể hiện được tính hợp lý, tính độc đáo, tính tổng

thể của tập thể, nó bao gồm cả thực hiện và liên kết giữa độ khó của động tác

Thể dục cổ động kỹ xảo: Thực hiện và liên kết của mỗi một động tác

hay một nhóm động tác phải thể hiện được tính hợp lý, tính độc đáo, tính tổng

thể của tập thể, nó bao gồm cả thực hiện cùng liên kết của động tác lên và xuống

khi thực hiện lên tháp cơ bản cũng như lên tháp phức tạp

Sử dụng âm nhạc (10 điểm)

Thiết kế động tác theo bài bắt buộc phải ăn khớp với phong cách, nhịp

điệu và chủ đề của nhạc.

Biều diễn và phục trang (10 điểm)

VĐV khi thực hiện động tác theo bài cần thông qua nhiều hình thức

khác nhau thể hiện sự tự tin và sức sống lành mạnh, mỗi một đội dự thi cần có

những cách riêng để tăng sự lôi cuốn khi xuất hiện, từ đó nổi bật lên phong thái

tốt nhất.

Động tác bắt buộc

Động tác bắt buộc là những động tác được qui định đặc biệt trong nhóm

động tác theo bài, nó phải xuất hiện trong bài thi, thiếu một nhóm động tác bắt

buộc sẽ bị trừ một điểm.

Thể dục cổ động vũ đạo.

- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện 1 nhóm động tác tổ

hợp đối chiếu gồm 2 lần 8 nhịp, nếu thiếu sẽ bị trừ 1 điểm.

- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện 1 nhóm tổ hợp động

tác tay cơ bản của thể dục cổ động gồm 4 lần 8 nhịp, nếu thiếu sẽ bị trừ 1 điểm.

- Biến hóa về đội hình trong động tác theo không được dưới 5 lần, nếu

thiếu 1 lần sẽ bị trừ 1 điểm.

168

- Trong động tác theo bài, mỗi một tổ hợp 1 lần 8 nhịp phải xuất hiện 1

lần thay đổi về phương hướng, nếu vượt quá 8 nhịp, mỗi lần sẽ bị trừ 1 điểm.

- Trong động tác theo bài, mỗi một tổ hợp 4 lần 8 nhịp phải xuất hiện 1

lần thay đổi lên xuống trong không trung, nếu vượt quá qui định, mỗi lần sẽ bị

trừ 1 điểm.

- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện một nhóm tổ hợp

động tác vũ đạo có cá tính ít nhất gồm 6 lần 8 nhịp, nếu thiếu sẽ bị trừ 1 điểm.

Thể dục cổ động kỹ xảo

- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện 1 nhóm động tác tổ

hợp đối chiếu gồm 2 lần 8 nhịp, nếu thiếu sẽ bị trừ 1 điểm.

- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện 1 nhóm tổ hợp động

tác tay cơ bản của thể dục cổ động gồm 4 lần 8 nhịp, nếu thiếu sẽ bị trừ 1 điểm.

- Trong thể dục cổ động bắt buộc phải thiết kế một nhóm khẩu hiệu kéo

dài 30 giây, cho phép trước sau có 5 giây mở (không tính), nếu thiếu sẽ bị trừ 1

điểm

- Biến hóa về đội hình trong động tác theo không được dưới 5 lần, nếu

thiếu 1 lần sẽ bị trừ 1 điểm

- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện một nhóm tổ hợp

động tác vũ đạo có cá tính ít nhất gồm 6 lần 8 nhịp, nếu thiếu sẽ bị trừ 1 điểm.

- Trong động tác theo bài bắt buộc phải xuất hiện một nhóm động tác tổ

hợp bật nhảy tại chỗ,nếu thiếu hoặc vượt quá sẽ bị trừ 1 điểm.

4.2.2. Mức độ hoàn thành (50 điểm)

Nếu thực hiện nhưng chưa đạt đến tiêu chuẩn thì sẽ căn cứ vào mức độ

hoàn thành thực tế dựa trên những nhân tố dưới đây tiến hành trừ điểm.

169

Thể dục cổ động vũ đạo

Bảng 5.1 Tiêu chuẩn trừ điểm đối với mức độ hoàn thiện

Mức độ lỗi Mô tả lỗi Tiêu chuẩn trừ điểm

Các lỗi nhỏ, khác biệt không đáng Mỗi lần trừ 0.2 điểm Lỗi rất nhỏ kể so với hoàn thành chính xác

Lỗi có sự khác biệt tương đối rõ so Mỗi lần trừ 0.3 điểm Lỗi nhỏ với hoàn thành chính xác

Lỗi có sự khác biệt rõ so với hoàn Mỗi lần trừ 0.4 điểm Lỗi trung thành chính xác

Lỗi nghiêm trọng có sự khác biệt rất Mỗi lần trừ 0.5 điểm Lỗi lớn rõ so với hoàn thành chính xác

Do cơ thể thiếu khống chế nên dẫn Mỗi lần trừ 2 điểm

đến trường hợp rơi tự do, thậm chí là Sai phạm những trường hợp tiếp đất bất bình

thường

Sai phạm trong mỗi một động tác Trừ tối đa: 1 điểm Động tác khó khó

Sai tiết tấu nhạc Động tác không ăn khớp với nhạc Mỗi lần trừ 0.3 điểm

Lỗi đồng bộ Xuất hiện lỗi đồng bộ Mỗi lần trừ 0.3 điểm

Động tác bị dừng trong vòng 8 nhịp Mỗi lần trừ 1 điểm Động tác gián

đoạn Động tác bị dừng trên 8 nhịp Mỗi lần trừ 2 điểm

Nhanh chóng nhặt lại đạo cụ sau khi Mỗi lần trừ 1 điểm

rơi và tiếp tục thực hiện động tác

Rơi đạo cụ Không nhặt lại đạo cụ và tiếp tục Mỗi lần trừ 2 điểm

thực hiện động tác sẽ bị xem là mất

đạo cụ

170

Thể dục cổ động kỹ xảo

Bảng 5.2 Tiêu chuẩn trừ điểm đối với mức độ hoàn thiện

Tiêu chuẩn trừ Mức độ lỗi Mô tả lỗi điểm

Các lỗi nhỏ, khác biệt không đáng kể Mỗi lần trừ 0.2 điểm Lỗi rất nhỏ so với hoàn thành chính xác

Lỗi có sự khác biệt tương đối rõ so Mỗi lần trừ 0.3 điểm Lỗi nhỏ với hoàn thành chính xác

Lỗi có sự khác biệt rõ so với hoàn Mỗi lần trừ 0.4 điểm Lỗi trung thành chính xác

Lỗi nghiêm trọng có sự khác biệt rất Mỗi lần trừ 0.5 điểm Lỗi lớn rõ so với hoàn thành chính xác

Do cơ thể thiếu khống chế nên dẫn Mỗi lần trừ 2 điểm

đến trường hợp rơi tự do, thậm chí là Sai phạm những trường hợp tiếp đất bất bình

thường

Động tác khó Sai phạm trong mỗi một động tác khó Trừ tối đa: 1 điểm

Sai tiết tấu nhạc Động tác không ăn khớp với nhạc Mỗi lần trừ 0.3 điểm

Lỗi đồng bộ Xuất hiện lỗi đồng bộ Mỗi lần trừ 0.3 điểm

Động tác bị dừng trong vòng 8 nhịp Mỗi lần trừ 1 điểm Động tác gián

đoạn Động tác bị dừng trên 8 nhịp Mỗi lần trừ 2 điểm

Nhanh chóng nhặt lại đạo cụ sau khi Mỗi lần trừ 1 điểm

rơi và tiếp tục thực hiện động tác Rơi đạo cụ Không nhặt lại đạo cụ và tiếp tục thực Mỗi lần trừ 2 điểm

hiện động tác sẽ bị xem là mất đạo cụ

Từ ngữ đoạn khẩu hiệu không rõ ràng Trừ 1 điểm Sai khẩu hiệu Âm lượng đoạn khẩu hiệu không đủ Trừ 1 điểm

171

4.3. Động tác khó (điểm cộng dồn/ điểm tích lũy)

4.3.1. Thể dục cổ động vũ đạo

Đối với động tác thể dục cổ động vũ đạo theo bài, trong 3 nhóm động

tác khó, mỗi nhóm bắt buộc phải xuất hiện ít nhất 1 lần. Khi thiếu một nhóm, sẽ

bị trọng tài bắt lỗi độ khó trừ 1 điểm, trong động tác theo bài, tối đa có thể thực

hiện 15 động tác khó, mỗi lần vượt quá một động tác, bị trừ 1 điểm.

4.3.2. Thể dục cổ động kỹ xảo

Đối với động tác thể dục cổ động vũ đạo theo bài, trong 4 nhóm động

tác khó, mỗi nhóm bắt buộc phải xuất hiện ít nhất 1 lần. Khi thiếu một nhóm, sẽ

bị trọng tài bắt lỗi độ khó trừ 1 điểm, trong động tác theo bài, tối đa có thể thực

hiện 15 động tác khó, mỗi lần vượt quá một động tác, bị trừ 1 điểm.

5. Điểm trừ lỗi vi phạm

5.1. Điểm trừ lỗi chung

Vượt qua vạch giới hạn: vạch giới hạn là một phần của sân thi đấu, do

đó, cho phép dẫm lên vạch giới hạn, nhưng bất kỳ bộ phận nào của cơ thể chạm

vào phần sân bên ngoài vạch giới hạn sẽ bị trừ điểm, cơ thể vượt qua vạch giới

hạn nhưng ở giai đoạn trên không sẽ không bị trừ điểm, mỗi lần vượt qua vạch

giới hạn sẽ bị trọng tài đường biên trừ 1 điểm.

5.2. Điểm trừ lỗi kỹ thuật

Trong thi đấu thể dục cổ động vũ đạo và thể dục cổ động kỹ xảo, lỗi vi

phạm kỹ thuật sẽ do trọng tài độ khó căn cứ vào quá trình thực hiện động tác trừ

điểm, mỗi lỗi xuất hiện sẽ bị trừ 1 điểm.

5.3. Điểm trừ từ trọng tài trưởng

- Thời gian thực hiện nhóm động tác theo bài không đủ, trừ 1 điểm.

- Thời gian thực hiện nhóm động tác theo bài vượt quá qui định, trừ 1

điểm.

- Động tác theo bài sai, trừ 5 điểm.

- Thời gian hô khẩu hiệu không đủ, trừ 1 điểm.

172

- Thời gian hô khẩu hiệu vượt quá qui định, trừ 1 điểm.

- Khẩu hiệu trái với luật qui định, trừ 2 điểm.

- Vượt quá 20 giây tính từ thời điểm VĐV được ban trọng tài gọi tên thi

đấu mà không thấy xuất hiện, trừ 1 điểm.

- Vượt quá 60 giây tính từ thời điểm VĐV được ban trọng tài gọi tên thi

đấu mà không thấy xuất hiện, hủy bỏ tư cách thi đấu.

- Trang phục thi đấu của VĐV không đúng qui định, trừ 1 điểm.

- VĐV trang điểm không đúng qui định, trừ 1 điểm.

- Vị phạm điều lệ thi đấu, trừ 1 điểm.

- Các động tác có chủ đề liên quan đến tuyên truyền bạo lực, tín ngưỡng

tôn giáo, phân biệt chủng tộc hay khiêu gợi, trừ 1 điểm.

- Sử dụng đạo cụ không đúng, trừ 1 điểm.

- Âm thanh có chất lượng hiệu quả không cao, trừ 1 điểm.

6. Ban trọng tài

Được xây dựng bởi hai thành phần chính đó là tổ trọng tài cấp cao và tổ

trọng tài. Tổ trọng tài cấp cao gồm: 1 tổng trọng tài trưởng, 2 phó tổng trọng tài

trưởng. Tổ trọng tài gồm: 3 trọng tài nghệ thuật, 3 trọng tài hoàn thành, 2 trọng

tài độ khó, 2 trọng tài đường biên, 1 trọng tài thời gian, trợ lý trọng tài (1 thư kí

trưởng, 2 thư kí, 1 kiểm soát trưởng, 2 kiểm soát viên, 1 nhân viên phụ trách âm

nhạc, 2 phát thanh viên, 3 đến 4 nhân viên chăm sóc y tế). Các trọng tài được

phân công công việc rõ ràng, thực hiện tốt trọng trách và nhiệm vụ của từng cá

nhân, nhằm bảo đảm cho trận đấu diễn ra một cách thuận lợi

7. Cách tính điểm chính thức.( Phương pháp tính điểm)

Sử dụng phương pháp hiển thị điểm công khai, điểm nhỏ nhất mà mỗi

một trọng tài được cho là điểm số có một chữ số ở hàng thập phân, điểm tổng

cộng được phép bảo lưu hai chữ số ở hàng thập phân, điểm chính thức được

phép bảo lưu hai chữ số ở hàng thập phân.

7.1. Tính điểm

173

- Điểm nghệ thuật: Lấy tổng điểm của 3 trọng tài chia cho 3, được điểm

nghệ thuật.

- Điểm thực hiện: Lấy tổng điểm của 3 trọng tài chia cho 3, được điểm

thực hiện

- Điểm độ khó: Điểm độ khó có cùng quan điểm thống nhất sẽ là điểm

cuối cùng, nếu có ý kiến trái chiều, sẽ lấy điểm trung bình cộng ; điểm trừ của

độ khó có cùng quan điểm thống nhất sẽ là điểm trừ cuối cùng, nếu có ý kiến

trái chiều, sẽ lấy điểm trung bình cộng.

- Điểm tổng cộng: Là tổng điểm của điểm nghệ thuật, điểm độ khó và

điểm thực hiện.

- Điểm chính thức: Là hiệu số của điểm tổng cộng và điểm trừ.

7.2. Tính thành tích cuối cùng

Thành tích vòng sơ loại không được tính vào vòng chung kết, thành tích

vòng chung kết được tính là thành tích cuối cùng, VĐV có điểm cao hơn sẽ

được xếp đầu bảng, nếu thành tích tương đồng, sẽ có cùng vị thứ xếp hạng,

nhưng không trừ đi vị thứ xếp hạng kế tiếp

8. Trường hợp đặc biệt

- Lỗi phát âm nhạc.

- Do lỗi thiết bị âm thanh gây hưởng đến chất lượng đoạn băng được

phát.

- Do lỗi thiết bị sân bãi gây ảnh hưởng đến thi đấu như mất điện, lún,

sập sân thi đấu...

- Vật lạ rơi vào khu vực thi đấu.

- Nếu VĐV gặp phải bất kỳ một trường hợp nào trên đây, cần lập tức

dừng thực hiện động tác. Kháng nghị được đưa ra sau khi kết thúc bài thi sẽ

không được chập nhận; Căn cứ vào quyết định của tổng trọng tài trưởng, sau

khi vấn đề được giải quyết có thể thực hiện lại bài dự thi, nhưng điểm cũ không

có hiệu lực.

174

Chương 6

CÁC BÀI TẬP THƯỜNG SỬ DỤNG TRONG THỂ DỤC CỔ ĐỘNG.

1. Các bài tập vũ đạo cơ bản

1.1. Giới thiệu chung

Các bài tập mẫu này tập hợp nhiều động tác mới mẻ, là sự kết hợp lý

tưởng của nhiều loại nhân tố vũ đạo, có thể tạo nên bầu không khí sôi nổi, trở

thành điểm sáng cho buổi thi đấu.

1.2. Giới thiệu động tác

Tư thế chuẩn bị: Cơ thể đứng quay lưng theo hướng 5 giờ, hai chân tách

trước sau, chùng gối chân trái, đồng thời hai tay duỗi thẳng, đan chéo trước

trên, lòng bàn tay hướng ra trước, 5 ngón tay xoè rộng.

Động tác 1. (hình 6-1 )

Hình 6-1

Nhịp 1 đến 4: Thực hiện như tư thế chuẩn bị.

Nhịp 5 đến 6: Xoay hông theo hình số 8, thực hiện 1 lần, sang trái.

Nhịp 7 đến 8: Xoay hông theo hình số 8, thực hiện 1 lần, sang phải.

Động tác 2. (hình 6-2 )

Nhịp 1 đến 4: Quay sang phải 1800, hai chân đan chéo (chân phải ở phía

trước), hai tay buông dọc thân người, cơ thể đứng theo hướng 5 giờ.

175

Hình 6-2

Nhịp 5 đến 6: Bật lên cao theo tư thế hai chân đan chéo, chân trái ở

trước, đầu cúi, hai tay dang ngang, gập khớp khuỷu, lòng bàn tay hướng ra sau.

Nhịp 7 đến 8: Gập gối chân phải quì xuống đất, chân trái đặt phía trước.

Động tác 3. (hình 6-3 )

Nhịp 1: Hai chân rộng bằng vai; tay trái duỗi thẳng lên cao, lòng bàn tay

nắm hờ; tay phải gập cẳng tay sát sườn, lòng bàn tay hướng ra trước.

Nhịp 2: Hai chân chùng, đan chéo nhau, chân trái ở trước, đồng thời gập

khuỷu tay, đan chéo trước ngực, ngón tay xoè.

Nhịp 3: Mặt theo hướng 1 giờ, cơ thể theo hướng 8 giờ, hai chân đứng

yên, hai tay buông dọc thân người, lòng bàn tay hướng xuống dưới, 5 ngón xoè

rộng, đầu ngón tay hướng ra ngoài.

Nhịp 4: Quay phải 3600, khi kết thúc , cơ thể đứng theo hướng 1 giờ.

176

Nhịp 5 : Hai chân sang ngang; tay phải giang ngang, lòng bàn tay hướng

ra sau, đầu nghiêng sang trái.

Nhịp 6: Gập gối chân phải về sau, tay phải nắm hờ, gập ra sau đầu,

trọng tâm cơ thể dồn lên chân trái.

Nhịp 7: Gập gối chân phải về trước, hai tay giang ngang, lòng bàn tay

hướng về sau, xoè rộng các ngón tay, đầu cúi.

Nhịp 8: Chân trái tỳ trước, dựng cổ chân; tay phải gập trước ngực, lòng

bàn tay hướng lên trên, xoè rộng các ngón tay và chĩa ra trước.

Động tác 4. (hình 6-4 )

1-4 5-6 7 8

Hình 6-4

Nhịp 1 đến 4: Chân phải bước về trước sau đó thu chân trái lên;

Nhịp 5 đến 6: Bật xoạc co gối trái, đổng thời vung hai tay từ dưới ra

trước lên cao; đầu ngửa.

Nhịp 7: Chân trái đặt ở trước chùng gối, chân phải duỗi thẳng; tay trái

co trước ngực, lòng bàn tay nắm; tay phải duỗi thẳng, buông dọc thân người,

lòng bàn tay nắm, cơ thể đứng theo hướng 7 giờ.

Nhịp 8: Thu chân phải về thành tư thế nghiêm; tay phải gập trước ngực,

tay nắm hờ, lòng bàn tay hướng ra sau; tay trái buông dọc thân người, bàn tay

nắm.

177

Động tác 5. (hình 6-5)

1 2 3-4 5-6 7-8

Hình 6-5

Nhịp 1: Từ tư thế đứng thẳng (bàn chân phải cao hơn bàn chân trái 1/3)

chùng gối hai chân; đẩy khớp hông về trước, trọng tâm dồn lên chân phải; đồng

thời hai tay chếch trên bên, gập cổ tay, lòng bàn tay hướng ra ngoài (thành hình

giống tay của múa bale).

Nhịp 2: Chuyển trọng tâm từ chân phải sang chân trái, tay trái đặt sau

lưng, tay phải tì lên vai trái, cơ thể theo hướng 5 giờ.

Nhịp 3 - 4: Bước chân trái về trước; chân trái đặt trước, đồng thời tay

trái đặt sau lưng, tay phải đưa về trước, dựng cổ tay, các ngón tay xoè rộng.

Nhịp 5 - 6: Bật nhảy bước xoạc (cắt kéo).

Nhịp 7 - 8: Đá chân trái sang ngang lên cao; thân người nghiêng sang

phải, song song với mặt đất.

Động tác 6. (hình 6-6)

Nhịp 1: Cơ thể đứng theo hướng 8 giờ; chân phải tỳ trước, dựng cổ

chân; tay trái chống hông, tay phải chếch trước trên, xoè rộng ngón tay.

Nhịp 2: Cơ thể theo hướng 1 giờ, hai chân giang ngang, tay trái chống

hông, tay phải để ở sau đầu.

Nhịp 3 đến 4: Chân đứng yên, tay trái chống hông, tay phải để sau đầu,

xoay khớp hông sang trái vòng ra sau và sang phải thành 1 vòng.

178

Nhịp 5: Chân phải đặt trước, hai chân đan chéo vào nhau; tay co trước

ngực, cẳng tay đan chéo nhau, nắm hờ, lòng bàn tay hướng ra sau,

Nhịp 6: Cơ thể đứng theo hướng 5 giờ; hai chân tách rộng trước sau,

chân phải ở trước; tay trái chếch trước dưới, tay phải chếch dưới sau, lòng bàn

tay hướng xuống dưới.

Nhịp 7: Động tác thực hiện giống nhịp 5.

Nhịp 8: Cơ thể đứng theo hướng 5 giờ; chân trái bước về trước một

bước; hai tay chếch trên bên, ngón tay xoè, gập cổ tay, lòng bàn tay hướng ra

ngoài.

Động tác 7. (hình 6-7)

Nhịp 1 - 6: Bật chụm chân sang phải 3 lần.

Nhịp 7 - 8: Bật nhảy cắt kéo dạng chân, chân trái trước, chân phải sau.

Hình 6-7

179

Động tác 8. (hình 6-8 )

Nhịp 1 – 4: Đứng trên chân trái, chân phải tỳ trước, di chuyển mũi chân

hai vòng.

Nhịp 5 - 8: Quay người sang phải một góc 3600

Hình 6-8

Động tác 9. (hình 6-9)

Nhịp 1: Chân đứng trước sau, chân trái ở trước; hai tay co trước ngực,

cẳng tay đan chéo nhau,lòng bàn tay nắm hờ.

Nhịp 2: Chân đứng trước sau, chân phải ở trước; hai tay buông dọc thân

người, lòng bàn tay hướng xuống dưới, xoè rộng ngón tay.

Nhịp 3 - 4: Cơ thể đứng theo hướng 7 giờ; mắt nhìn theo hướng 1 giờ;

tay phải quay 1 vòng ngược chiều kim đồng hồ; tay trái trên cao.

Nhịp 5 - 6: Cổ tay quay 1 vòng theo chiều từ dưới lên trên,

180

Nhịp 7 - 8: Quay người về hướng chính diện; chân đứng trước sau, chân

phải về trước; nâng cẳng tay trái vuông góc trước ngực, tay phải sang ngang.

Động tác 10. (hình 6-10)

Nhịp 1 đến 4: Co gối trái, mở hông; thực hiện quay cẳng chân 2 vòng.

Nhịp 5-8: Hai chân rộng bằng vai, chân phải tỳ trước bên, dựng cổ

chân; tay phải sang ngang; tay trái chếch trên bên, thực hiện xoay cổ tay từ trên

xuống dưới, gập cổ tay; đầu quay sang phải.

Hình 6-10

Động tác 11. (hình 6-11)

Nhịp 1: Bật xoạc co gối phải ( hoặc trái); hai tay chếch trên bên, lòng

bàn tay hướng lên trên.

Nhịp 2: Chùng gối chân trái, chân phải quì; hai tay buông dọc thân

người; đầu cúi.

Nhịp 3 - 6: Quì gối chân phải, hai tay chống về trước; thực hiện động tác

xoay vai từ trái sang phải; sau đó đứng thẳng dậy

Nhip 7 đến 8: Cơ thể đứng theo hướng 2 giờ, chân trái tỳ sau, dựng cổ

chân.

181

Động tác 12. (hình 6-12)

Nhịp 1 đến 4: Thực hiện bật nhảy bước hóp mở sang trái, hai tay chếch

trên bên.

Nhịp 5-8: Bước chân phải về trước thực hiện động bật tách hẹp (dậm

nhảy bằng chân phải).

Hình 6-12

Động tác 13. (hình 6-13)

Nhịp 1: Chân trái tỳ trước, đồng thời đẩy trọng tâm về trước; hai tay

chếch trên bên; lòng bàn tay hướng ra ngoài.

182

Nhịp 2: Hai chân tách rộng trước sau, chân trái phía trước; tay trái đặt

sau lưng; tay phải co trước ngực; đầu cúi.

Nhịp 3- 4: Cơ thể đứng theo hướng 4 giờ, đồng thời di chuyển bước dồn

sang trái 2 bước; tay trái chếch trên bên; tay phải chếch dưới sau; lòng bàn tay

hướng lên trên.

Nhịp 5 - 6: Chân trái đặt trước khuỵu gối; tay phải chếch trước trên; tay

trái chếch dưới sau, hai tay nằm trên một đường thẳng; thân người đổ về trước;

đầu cúi; cơ thể theo hướng 7 giờ.

Nhịp 7 - 8: Hai chân khép, duỗi hông, ngực ưỡn; hai tay chếch trên bên.

Động tác 14. (hình 6-14)

Nhịp 1 - 2: Cơ thể đứng theo hướng 2 giờ; co gối chân trái; tay trái trên

cao; tay phải co trước ngực, ngón tay xoè.

Nhịp 3 - 4: Chân trái di chuyển sang ngang một bước, đồng thời gập

cẳng tay phải, quay một vòng trên đầu

Nhịp 5: Chùng gối chân phải, quay một vòng từ ngoài vào trong; 2 tay

buông dọc thân người

Nhịp 6: Chùng gối chân trái, quay một vòng từ ngoài vào trong, 2 tay

giữ yên

183

Nhịp 7: Cơ thể đứng theo hướng 7 giờ; chân trái ở trước, chùng khớp

gối; hai tay buông dọc thân người; thực hiện hai lần động tác hóp mở ngực

Nhịp 8: Cơ thể đứng theo hướng 7 giờ; quỳ gối chân phải; thân trên gập;

đầu cúi; hai tay chống về trước.

Động tác 15. (hình 6-15)

Nhịp 1 đến 8: Bật nhảy chéo chân co gối lần lượt tiếp đất bằng tư thế

quỳ gối phải và quỳ gối trái; ngực hóp,đầu cúi; hai tay chống về trước.

Hình 6-15

184

Động tác 16. (hình 6-16)

Hình 6 - 16

Nhịp 1: Chùng gối chân trái; kiễng gót chân phải; tay phải về trước; tay

trái duỗi sau; hai tay nằm trên một đường thẳng, lòng bàn tay đối nhau; đầu cúi;

cơ thể quay sang hướng 8 giờ

Nhịp 2: Lùi chân phải về sau, sang phải một bước; chân trái tỳ trước,

dựng cổ chân; hai tay mở sang ngang, gập cẳng tay; lòng bàn tay hướng trước

Nhịp 3: Chân trái tỳ trước, dựng cổ chân, chùng gối; hai tay đan chéo

trước ngực; cơ thể đứng theo hướng 1 giờ

Nhịp 4: Giữ nguyên động tác ở nhịp 3, quay đầu một vòng từ trái sang

phải.

Nhịp 5: Hai tay buông dọc thân người; hai chân đan chéo nhau, chân

phải ở trước.

Nhịp 6 đến 8: Quay người sang trái một góc 3600

Động tác 17. (hình 6-17)

Nhịp 1 - 2: hai tay buông lỏng tự nhiên, lòng bàn tay nắm; chân phải đá

cao trước bên.

Nhịp 3- 4: động tác như nhịp 1-2 nhưng đổi bên.

Nhịp 5 -6: lặp lại động tác nhịp 1-2.

Nhịp 7-8 : lặp lại động tác nhịp 3-4.

185

Hình 6-17

Động tác 18. (hình 6-18)

Hình 6-18

Nhịp 1- 2: Cơ thể đứng theo hướng 1 giờ; chân trái ở trước, chùng gối;

co tay phải, cẳng tay song song với mặt đất; tay trái sang ngang,

Nhịp 3- 4: Quay sang phải một góc 3600; chân phải làm trụ; khi quay

người, chân trái tách rộng sang ngang.

Nhịp 5- 6: Lặp lại động tác nhịp 3-4.

Nhịp 7- 8: Hai tay vòng trước dưới; quay người sang phải một góc 1800;

chân phải làm trụ; co gối chân trái, tỳ trên gối chân phải, mở hông

Động tác 19. (hình 6-19)

Nhịp 1- 2: Tay trái về trước, dựng cổ tay; chân phải ở trước, hơi chùng

gối phải.

186

Hình 6-19

Nhịp 3- 4: Tay phải co trước ngực, lòng bàn tay hướng ra sau, xoè rộng

ngón tay; tay trái chống hông, xoè ngón tay; xoay người sang phải, mắt nhìn

theo hướng 1 giờ

Nhịp 5 đến 8: Hai tay trước ngực, cao ngang vai; xoè rộng ngón tay,

lòng bàn tay hướng xuống dưới, đồng thời rung cẳng tay.

Động tác 20. (hình 6-20)

1-2 3-4 5-8

Hình 6-20

Nhịp 1- 2: Chùng gối chân phải, quay gối sang phải một vòng.

Nhịp 3 -4: Thực hiện động tác giống nhịp 1-2 nhưng đổi chân.

Nhịp 5 đến 8: Hai tay trước ngực, cao ngang vai; xoè rộng ngón tay,

lòng bàn tay hướng xuống dưới, đồng thời rung cẳng tay.

187

Động tác 21. (hình 6-21)

Nhịp 1: Tay phải lên cao, ra sau; tay trái vung ra sau, lòng bàn tay nắm;

chân trái bước về trước, chùng gối.

Nhịp 2: Thực hiện động tác giống nhịp 1 nhưng đổi bên.

Nhịp 3: Hai tay buông lỏng tự nhiên sát thân người, chân phải đặt ở

trước, chùng gối.

Nhịp 4: Chân phải đặt trước, chùng gối; ngón tay xoè rộng, ngang tai;

quay người 1800; thực hiện động tác sóng thân.

Nhịp 5: Hạ hai tay, buông dọc sát thân; xoè rộng ngón tay.

Nhịp 6: Thu chân trái về thành tư thế nghiêm.

Nhịp 7- 8: Quay người, đồng thời chân trái đặt trước, chùng khớp gối;

tay phải trên cao; tay trái sang ngang.

Động tác 22. (hình 6-22)

Nhịp 1: Hai tay buông lỏng tự nhiên dọc thân người, gập gối chân trái,

nâng lên cao.

Nhịp 2: Hạ chân trái; đá chân phải về trước, lên cao; mũi chân duỗi.

188

Nhịp 3: Tay phải chống đất; tay trái đặt trên gối trái; gập gối trái vuông

góc với mặt đất; chân phải duỗi thẳng ra sau.

Nhịp 4: Ngồi tách rộng chân, hai tay đặt về trước, sát thân.

Nhịp 5 đến 8: Thực hiện động tác giống nhịp 4.

Động tác 23. (hình 6-23)

Nhịp 1 đến 4: Ngồi tách rộng chân, hai tay đặt về trước, sát thân.

Nhịp 5 đến 8: Ngồi tách rộng chân, hai tay chếch trên bên, lòng bàn tay

hướng vào trong.

Hình 6-23

Động tác 24. (hình 6-24)

Nhịp 1 đến 4: Ngồi tách rộng chân, hai tay đặt về trước, sát thân.

189

Nhịp 5 đến 8: Tay trái chống đất; quay người sang trái một góc 450; tay

phải lên cao, xoay cổ tay; đồng thời thực hiện sóng thân người; hai chân cùng

lúc co gối sang phải; mắt nhìn theo tay trái.

Hình 6-24

Động tác 25. (hình 6-25)

Nhịp 1: Ngồi hai tay đan chéo trước gối; đầu cúi.

Nhịp 2 đến 4: Quay người sang phải một góc 900, xoạc dọc, chân phải ở

trước; tay phải lên cao; tay trái ngang; mắt nhìn theo hướng 1 giờ.

Nhịp 5 đến 8: Xoay cổ tay một vòng.

Hình 6-25

Động tác 26. (hình 6-26)

Nhịp 1: Quay người sang trái thành tư thế nằm sấp, hai chân duỗi thẳng.

Nhịp 2: Nâng mông lên cao; hơi co gối; hai tay chống xuống đất.

190

Hình 6-26

Nhịp 3 - 4: Giống nhịp 2, nhưng hai tay nâng lên khỏi mặt đất, sát thân

người; lòng bàn tay mở.

Nhịp 5 đến 8: Quay cổ tay, mắt nhìn về trước.

Động tác 27. (hình 6-27)

Nhịp 1- 2: Ngồi trên gót chân; hai tay đan chéo trước ngực, ngón tay

chạm vai; đầu cúi

Nhịp 3 đến 8: Hai tay chếch trên bên; quay cổ tay; mắt nhìn theo tay

trái.

Hình 6-27

Động tác 28. (hình 6-28)

Nhịp 1 đến 4: Chân trái ở trước; lấy chân phải làm trụ, quay sang phải

một góc 2700, sau đó đứng thẳng.

Nhịp 5 đến 8: Về tư thế nghiêm.

191

Hình 6-28

2. Các động tác mẫu kỹ năng cơ bản

Động tác 1 (Hình 6-29 ):

Nhịp 1: Bước chân phải lên trước, tay phải trên cao, bàn tay xoè rộng ,

lòng bàn tay về phía trước, cánh tay trái dưới thả tự nhiên .

Nhịp 2: Thu chân trái lên hai chân chụm vào nhau, hai tay nắm đan

chéo nhau trước ngực hướng vào trong, ngực hóp.

Nhịp 3 - 6 : Dậm chân tại chỗ bắt đầu bước chân trái, rồi đến chân

phải, hai tay nắm thả lỏng dưới bên.

Nhịp 7: Bước chân trái sang trái 450, cơ thể xoay hướng 450, hai tay

nắm thả lỏng dưới bên.

Nhịp 8: Thu chân phải, tay trái co ngang giống động tác chào, tay phải

ngang, lòng bàn tay hướng xuống dưới .

192

Động tác 2 ( hình 6-30)

Hình 6-30

Nhịp 1: Bật nhảy hai chân rộng bằng vai, hai tay qua ngang lên cao rồi

thực hiện chéo trước ngực bàn tay nắm (X thấp).

Nhịp 2: Đẩy hông sang trái, chân phải chùng gối, nghiêng người sang

trái hai tay ngang gập khuỷu cẳng tay vuông góc với cánh tay (W trước).

Nhịp 3 -1: Đẩy hông sang phải, chân trái chùng gối, nghiêng người

sang phải hai tay ngang gập khuỷu cẳng tay vuông góc với cánh tay (W

trước).

Nhịp 3-2: thực hiện giống nhịp 2.

Nhịp 4: Đẩy hông sang phải, chân trái chùng gối, tay trái chếch trước

dưới, gập khuỷu tay phải trước ngực.

Nhịp 5 : Kéo chân trái về phía sau một bước chéo sau chân phải, xoay

người sang trái 360 ° hai tay dưới.

193

Nhịp 6 : Tiếp tục xoay người sang trái 360 ° hai tay dưới.

Nhịp 7 -1: Bật nhẹ hai chân tách rộng bằng vai, hai cánh tay nâng

ngang, cẳng tay gập vuông góc hướng mặt đất, lòng bàn tay hướng sau, bàn

tay xoè rộng.

Nhịp 7-2 : Hai tay đan chéo trước mặt.

Nhịp 8 : Bật thu chân hai tay chếch dưới bên rồi hạ về tư thế đứng

nghiêm.

Động tác 3 (hình 6-31)

1-2 3-4 5-8

Hình 6-31

Nhịp 1- 2: Bước lướt chân trái lên trước, hai tay trên cao, lòng bàn tay

hướng về phía trước .

Nhịp 3 - 4 : Thu chân phải về ngang chân trái chùng gối, hai tay hạ

chếch trước dưới, lòng bàn tay úp xuống.

Nhịp 5- 8 : Bật nhảy dang chân sang ngang, hai tay vung sang ngang

chạm mũi chân. Rơi về tư thế chuẩn bị hoãn xung và đứng nghiêm.

Động tác 4 (hình 6-32)

Nhịp 1: Đứng thẳng, hai tay vung qua ngang lên cao vỗ tay.

Nhịp 2 : Co tay vỗ trước ngực.

194

Nhịp 3 - 6 : Dậm chân tại chỗ, bước chân trái, tay chếch dưới bên

hoặc thả lỏng tự nhiên.

Nhịp 7 : Bật nhẹ xoay người sang trái, chân trái trước chùng gối, tay

dưới thả lỏng tự nhiên.

Nhịp 8 : Bật nhẹ xoay người sang phải, tay trái chống hông, tay phải

nâng lên gập khuỷu giống động tác chào.

Động tác 5 (hình 6-33)

Hình 6-33

Nhịp 1: Chân trái bước chếch phía trước, tay trái nâng ngang cẳng tay

gập trước ngực, tay phải dưới.

195

Nhịp 2: Chân phải bước lên ngang chân trái, tay phải nâng ngang cẳng

tay gập trước ngực, tay trái dữ nguyên.

Nhịp 3: Bật chụm hai chân, hai tay đẩy lên cao chếch trên bên, bàn tay

nắm hướng ra ngoài.

Nhịp 4: Bật nhẹ đưa chân trái về phía trước chùng gối, hai tay co vỗ

tay trước ngực.

Nhịp 5: Xoay người sang phải 1800, chùng chân phải, hai tay chếch

dưới bên.

Nhịp 6: Xoay người sang trái 1800, ngồi quỳ gối trên chân phải, than

người gập, hai tay chống trên thảm.

Nhịp 7: Chân không di chuyển, than người vươn căng, tay phải trên

cao, lòng bàn tay hướng ngoài; tay trái thả lỏng tự nhiên.

Nhịp 8: Giống nhịp 7, tay phải co gập trước ngực.

Động tác 6 (hình 6-34)

Hình 6-34

Nhịp 1 - 2: Đứng nghiêm.

Nhịp 3- 4: Bật nhẹ chân phải trước chùng gối, hai tay ngang, bàn tay

xoè rộng, lòng bàn tay về phía trước.

Nhịp 5: Trọng tâm dồn đều lên hai chân, hai tay vỗ trước ngực.

196

Nhịp 6: Bật thu hai chân lại với nhau, hai tay đẩy lên cao (chữ A).

Nhịp 7: Bật tách chân, tay phải ngang, tay trái co gập trước ngực

(cung tên nhỏ).

Nhịp 8: Đứng chân bên phải, chân trái co sau chân phải, tay hai tay vỗ

trước ngực, nghiêng người sang phải.

Động tác 7 ( hình 6-35)

Hình 6-35

Nhịp 1- 4: Bật nhảy về phía trước thành xoạc dọc, hai tay tay chống

xuống thảm.

Nhịp 5- 6: Đá chân phải về phía trước và khép hai chân thẳng thành tư

thế ngồi, tiếp tục xoay người sang trái 2700, co gối đầu nghiêng sang trái, hai

tay tay chống xuống thảm.

Nhịp 7: Ngồi yên đầu nghiêng sang phải.

Nhịp 8: Đá chân trái về phía trước, đầu trở về tư thế thẳng.

Động tác 8 ( Hình 6-36)

Nhịp 1 - 2: Tiếp theo nhịp 8 tổ hợp 7, chân trái đưa sang phải tiếp tục

di chuyển sang phải chống vuông góc, chân phải chống trên đầu gối chân

phải, trong khi bàn tay trái trên đầu gối, bàn tay phải chống xuống thảm.

197

Hình 6-36

Nhịp 3 - 4: Đứng thẳng lên xoay người sang bên phải 1800, đá chân

phải lên phía trước bên phải, hai tay chếch dưới bên.

Nhịp 5 - 6: Hạ chân phải, chân trái đá ngang lên cao, thân người

nghiêng sang phải, tay trái đặt ở bên cạnh thân, tay phải chống xuống thảm.

Nhịp 7- 8: Đảy tay hạ chân trái về vị trí đứng nghiêm.

Động tác 9 ( hình 6-37)

Hình 6-37

Nhịp 1: Chân phải bước lên phía trước, tay phải ngang, tay trái cao,

hai tay nắm đấm.

Nhịp 2: Chi dưới không di chuyển, tay phải ngang, tay trái chếch

trước dưới, hai tay nắm đấm.

Nhịp 3: Chi dưới không di chuyển, Hai tay thẳng vỗ trước ngực.

Nhịp 4: Đứng trên chân trái, chân phải nâng lên trước vuông góc co

gối hai tay co vỗ trước ngực.

198

Nhịp 5: Hạ chân phải về trước, hai tay chếch trên bên lòng bàn tay

hướng vào trong, bàn tay xoè hoa.

Nhịp 6: Xoay người sang trái 1800, chân trái về phía, hai tay chếch

trên bên lòng bàn tay hướng vào trong, bàn tay xoè hoa.

Nhịp 7 - 8 : Xoay người sang trái 1800 chân phải đưa về phía trước,

cánh tay thẳng tại vỗ tay trên cao, cúi đầu.

Động tác 10 (Hình 6-38)

Hình 6-38

Nhịp 1- 8: Lên tháp hai tầng kết nối một tháp cao đừng trên hai tay

trước ngực, một tháp đứng trên hai tay cao.

Động tác 11 (Hình 6-39)

Hình 6-39

Nhịp 1: Bật tách chân phải sang phải 450, hai tay co gập ngang vai

vuông góc trước mặt, bàn tay nắm đấm.

199

Nhịp 2: Bật thu chân phải và chân trái với nhau, xoay người sang trái

450 hai tay giữ nguyên xoè rộng bàn tay.

Nhịp 3: Bật tách hai chân rộng bằng vai, tay trái chếch trên bên, ngực

ưỡn căng, tay phải gập cánh tay ngang ngực.

Nhịp 4: Bật thu hai chân lại với nhau, tay trái không di chuyển, cánh

tay phải bên nâng cao chếch trên bên, bàn tay nắm.

Nhịp 5 - 8: Bật tách hai chân rộng bằng vai, than người gập xuống, hai

tay đan chéo ở cổ tay, ngón tay mở, lòng bàn tay hướng vào trong.

Động tác 12 (Hình 6-40):

Hình 6-40

Nhịp 1 - 4: Tiếp theo nhịp 8 tổ hợp 11, thân người thẳng lên và xoay

sang trái 900 hơi đổ về phia trước, chân trái phía trước và chân phải phía sau,

di chuyển cánh tay phải trước trên, xoè rộng bàn tay, lòng bàn tay hướng ra

ngoài.

Nhịp 5 - 8: Bật thu hai chân lại với nhau, thân người gập, chân chạy

bước nhỏ tại chỗ, hai tay nắm chếch dưới bên.

Động tác 13 (Hình 6-41)

Nhịp : Bật tách hai chân rộng, hai tay chếch dưới bên, bàn tay nắm.

Nhịp 2: Bước chân trái sang bên phải để sau chân phải, hai tay chếch

dưới bên phía bên phải.

200

Hình 6-41

Nhịp 3: Bước chân trái sang bên trái, hai tay chếch dưới bên, bàn tay

nắm, đầu nghiêng sang trái.

Nhịp 4: Bật thu chân về tư thế chuẩn bị.

Nhịp 5 - 6: Vỗ tay trước ngực, đẩy hai tay lên cao kiễng gót, đầu ngửa.

Nhịp 7 - 8: Thực hiện vung tay chéo trước mặt chùng gối, tiếp tục bật

nhảy bước vượt rào, rơi về tư thế chuẩn bị.

Động tác 14 ( Hình 6-42)

Hình 6-42

3. Kỹ thuật tung và bắt trong thể dục cổ động

Tung và bắt trong thể dục cổ động được xem là một pha nguy hiểm mà

khi thực hiện tung người từ mặt đất hoặc trên tháp. Vì vậy, khi thực hiện kỹ

201

thuật yêu cầu người được tung và người bảo hiểm phải thuần thục kỹ thuật và

luôn đảm bảo an toàn khi thực hiện các kỹ thuật tung và bắt lại.

3.1. Thực hiện tung người trên mặt đất

Một người tung một người. (Hình 6-42)

Người thực hiện: Hai tay nắm vào cổ tay của người tung, phối hợp

nhún nhẹ hai chân chùng gối, thực hiện bật mạnh hai chân, hai tay ấn mạnh

lực vào tay người đỡ thực hiện động tác bay trên không, thân người giữ căng,

hai tay V cao hoặc V thấp.

Khi thực hiện động tác tiếp đất, hai tay nắm lại cổ tay coả người đỡ,

hai chân tiếp đát từ mũi bà chân qua cung bàn chân và cả bàn chân, tiếp tục

chùng gối hoàn xung. Khi ổn định thì thực hiện duỗi căng kết thúc động tác.

Người giúp đỡ: Hai tay bám chắc vào hông của người thực hiện phối

hợp tạo đà cùng người lên tháp, khi ngời lên tháp bật lên cao thì hai tay tiếp

lực tung người thực hiện lên trên. Khi đỡ người thực hiện xuống thì hai tay

theo sát người thực hiện từ trên cao, khi ngang tầm đỡ thì nắm lại hông của họ

và thực hiện hoãn xung xuống đất và bỏ tay khỉ người thực hiện.

Hình 6-42

3.2. Thực hiện tung người trên tháp.

Người thực hiện: Bắt đầu thực hiện trên tháp, luôn thực hiện kỹ

thuật động tác với sự ổn định cao của các kỹ thuật và cố gắng không bay ra

202

khỏi vị trí người tung tháp, khi xuống thân người luôn căng và mở rộng hai

tay và rơi vào vị trí của ngời đỡ.

Người giúp đỡ: Nhún hai chân tạo đà, khi bạn duỗi lên tung người

thực hiện lên cao, nhớ phối hợp nhịp nhàng với các người đỡ khác. Giữ cánh

tay của bạn trên cao. Khi người thực hiện rơi xuống đi xuống, các người đờ

tay đan so le không nắm vào nhau tạo thành hình như cái võng hoãn xung lực

đỡ vào lưng, hông, mông và đùi của người thực hiện.

Tung người gập thân chụm chân tay chếch (Hình 6-43 )

Hình 6-43

Tung người gập thân chụm chân tay trước (Hình 6-44 )

Hình 6-44

Tung người gập thân dạng chân tay chếch (Hình 6-45 )

203

Hình 6-45

Tung người chữ X (Hình 6-46 )

Hình 6-46

Tung người quay 1800 (Hình 6-47 )

Người đỡ tháp: Từ tư thế chuẩn bị duỗi thẳng, chùng gối đến duỗi

thẳng cánh tay và khống chế, đón lấy cơ thể người lên tháp bằng động tác tạo

hình giống cái giá đỡ.

Người lên tháp: Đợi pha tung người của người đỡ tháp, đồng thời hai

tay đan chéo đặt trước ngực chạm vào phần đầu và vai. Khi thực hiện chuyển

động, mở tay thành tư thế tiêu chuẩn theo yêu cầu.

Người bảo hiểm: Người bảo hiểm thứ nhất đỡ vào vị trí xương bả vai

của người lên tháp. Tay phải người bảo hiểm ở phía trước nắm vào cổ chân

phải người lên tháp. Khi người lên tháp xoay sang trái, thì đặt tay trái ở phía

dưới, khi xoay sang phải, tay phải sẽ đặt xuống dưới.

Những sai lầm thường mắc:

204

- Người lên tháp tiếp xúc bằng bụng.

Cách khắc phục: Người đỡ tháp luôn nhìn theo vai của người lên tháp

cho đến khi đón được họ rơi vào vị trí cần thiết.

- Trước khi rơi vào vị trí đỡ, người lên tháp không có thời gian dừng

trên không.

Cách khắc phục: Người đỡ tháp phối hợp chùng gối sâu, kéo dài thời

gian trên không cho người thực hiện.

- Người lên tháp không thể thực hiện động tác quay.

Cách khắc phục: Trong quá trình xoay người, người lên tháp cần bảo

đảm mông phải và vai nằm trên một đường thẳng.

Hình 6-42

205

Chương 7

TỔNG QUAN VỀ THỂ DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN KHÁN ĐÀI

1. Nguồn gốc và sự phát triển của thể dục cổ động trên khán đài

1.1. Sơ lược lịch sử

Nhằm mục đích hưởng ứng không khí thi đấu trên sân, người hâm mộ

luôn nghĩ ra nhiều hình thức cổ vũ đa dạng và phong phú. Ngoài reo hò, hát

múa, đánh trống….thì hình thức được xem là hoành tráng nhất, thu hút được

nhiều sự chú ý của các tuyển thủ trên sân nhất đó là biểu diễn “sóng người

kiểu Mexico” . Năm 1986, tại giải Cúp Bóng Đá Thế Giới lần thứ 13 tổ chức

tại Mexico, một nhóm người hâm mộ sau khi giơ thẳng hai tay lên rồi hạ

xuống, nhóm bên cạnh liền nối tiếp thực hiện tương tự giơ tay lên cao rồi hạ

xuống, từ đó, màn biểu diễn “sóng người kiểu Mexico” ra đời.

Thể dục cổ động khán đài thuộc thể dục cổ động, do đó lịch sử của nó

cũng có những nét riêng so với thể dục cổ động trên sân, nó thực sự được mọi

người chú ý đến đó là vào khoảng thời gian diễn ra Cúp Bóng Đá Thế Giới

năm 2002, tổ chức tại Hàn - Nhật, khung cảnh hoành tráng nhất được thể hiện

đó là màn cổ vũ của đội “quỷ đỏ” do chính những người hâm mộ nước Hàn

lập nên.

Đội cổ động “quỷ đỏ” của Hàn Quốc được giới hâm mộ bóng đá chính

thức biết đến và tôn trọng kể từ khi diễn ra mùa giải, phương thức cổ vũ mới

mẻ, động tác đồng đều cùng hành vi văn minh không vứt bỏ bất kỳ một mảnh

rác nào trên khán đài sau khi xem thi đấu đều được đông đảo người xem tán

thưởng và ngưỡng mộ. Đội cổ động “quỷ đỏ” với trang phục quen thuộc màu

đỏ, đeo mặt nạ thiên vương đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn

hóa bóng đá xứ sở kim chi này.

Ngày 20 tháng 12 năm 2004, trong khuôn khổ vòng thi đấu cọ sát của

đội tuyển bóng đá Đức tại Châu Á, đội tuyển Hàn Quốc với ưu thế của độ chủ

206

nhà đã đánh bại đội tuyển Đức với tỉ số thuyết phục 3-1, trong trận đấu đó có

5000 người của đội “quỷ đỏ” đến tận sân để cổ vũ cho đội nhà. Năm 2006, tại

giải Cúp Bóng Đá Thế Giới diễn ra ở Đức, tiếng cổ vũ reo hò của 5000 người

đội “quỷ đỏ” đã áp đảo được tinh thần của 30 nghìn người hâm mộ nước

Pháp, thậm chí đây còn được ví là kiệt tác kinh điển của thể dục cổ động trên

thế giới.

Olympic Bắc Kinh năm 2008 cần một đội ngũ khán giả mang màu sắc

Trung Quốc, am hiểu văn hóa, có ý thức văn minh, có tác phong chuyên

nghiệp, đây là những người được xem là “khán giả nòng cốt”. Những “khán

giả nòng cốt” này là đại diện tiêu biểu nhất và bắt đầu tạo được sức chú ý trên

đấu trường quốc tế, phải kể đến trước tiên chính là đội cổ động “quỷ đỏ” được

những người hâm mộ bóng đá Hàn Quốc lập nên trong mùa thi đấu Cúp Bóng

Đá Thế Giới được tổ chức tại Hàn Quốc và Nhật Bản. Đội cổ động này đã để

lại ấn cho những tín đồ đam mê bóng đá trên khắp thế giới, nhưng điều thực

sự làm cho cả thế giới phải cảm động đằng sau những màn cổ vũ mãnh liệt đó

chính là ý thức vệ sinh và kỷ cương trật tự của họ trên khán đài.

1.2. Xu hướng phát triển của thể dục cổ động trên khán đài

Thể dục cổ động trên khán đài được xem là một trong những môn thể

thao mới nổi, tính đến thời điểm này, những hoạt động thể dục cổ động triển

khai dưới hình thức có qui mô trên thế giới vẫn chưa nhiều. Ở Trung Quốc, chỉ

có hoạt động thể dục cổ động trên khán đài của Bắc Kinh được xem là phát triển

nổi trội nhất.

Tháng 12 năm 2005, dưới sự hướng dẫn của thầy Châu Quốc Anh,

Trung Tâm Quản Lý Hoạt Động Sinh Viên Thành Phố Bắc Kinh phối hợp cùng

Hiệp Hội Thể Thao Đào Tạo Nghề Bắc Kinh tổ chức cuộc thi thể dục cổ động

trên khán đài học sinh Bắc Kinh lần thứ nhất, nhằm chuẩn bị cho sự kiện

Olympic sắp đến. Mặc dù số học sinh tham dự giải lúc đó chỉ có 1500 em đến từ

207

15 trường trong thành phố, nhưng nét đặc sắc trong màn dự thi của các đội vẫn

tạo được sức hấp dẫn và lôi cuốn với người xem.

Tháng 10 năm 2006, Sở Thể Thao Thành Phố Bắc Kinh cùng Ủy Ban

Giáo Dục Thành Phố Bắc Kinh là đơn vị chính, với sự đồng tài trợ của Trung

Tâm Quản Lý Thể Thao Xã Hội Thành Phố Bắc Kinh, Trung Tâm Quản Lý

Hoạt Động Sinh Viên Thành Phố Bắc Kinh, Hiệp Hội Thể Thao Sinh Viên Bắc

Kinh tổ chức Giải Thể Dục Cổ Động Văn Minh Lần Thứ Nhất Thành Phố Bắc

Kinh, buổi lễ khai mạc được tổ chức tại Cung Thể Thao Thạch Cảnh Sơn. Khi

đó, Ban Tổ Chức đã bắt đầu phân chia nội dung thi đấu thành 2 mảng lớn đó là

thể dục cổ động trên sân và thể dục cổ động trên khán đài, với 4 nhóm khác

nhau là nhóm học sinh tiểu học, nhóm trung học, nhóm đại học và nhóm xã hội,

có hơn 6000 VĐV đến từ 110 đội, thuộc 80 đơn vị khác nhau cùng về tham dự

mùa giải. Trong đó, nhóm thể dục cổ động trên sân có 81 đội và 35 đội thuộc

nhóm thể dục cổ động trên khán đài. Phần cho điểm đối với các nội dung tham

gia giải sẽ căn cứ vào thời gian thi đấu, yêu cầu động tác, phục trang, sân bãi,

âm nhạc, khẩu hiểu chủ đề cùng các tiêu chuẩn khác của động tác theo bài

nhóm thể dục cổ động trên sân và trên khán đài để đánh giá.

Ngày 18 tháng 7 năm 2007, mùa giải Thể Dục Cổ Động Văn Minh Lần

Thứ Hai Thành Phố Bắc Kinh Cúp Kim Long Ngư chính thức bắt đầu, giải chia

thành 5 nhóm đối tượng tham gia gồm: nhóm tiểu học, nhóm trung học, nhóm

đại học, nhóm nghề và nhóm xã hội, độ tuổi VĐV tham dự giải trải rộng từ

thiếu niên nhi đồng đến trung niên. Khác với mùa giải lần thứ nhất, tại Cúp Kim

Long Ngư lần thứ hai này, Ban Tổ Chức chú trọng nhiều hơn đến thể dục cổ

động trên khán đài dành cho mọi đối tượng trong xã hội, thực hiện cải cách, gia

tăng đáng kể đối với số lượng các đội tham gia dự thi thể dục cổ động trên khán

đài. Trong điều kiện đảm bảo số lượng đội dự thi thể dục cổ động trên sân

không thay đổi, số đội dự thi thể dục cổ động trên khán đài từ hơn 20 đội ban

đầu đã tăng vọt lên thành hơn 130 đội, vượt qua so với con số 80 đội tham gia

208

thể dục cổ động trên sân. Thông qua giải sơ tuyển, đã phần nào xây dựng được

ý thức và hành vi văn minh khi xem thi đấu cho khán giả, đồng thời cũng mang

lại tác dụng thúc đẩy đối với sự phát triển của thể dục cổ động trên khán đài.

2. Khái niệm và đặc điểm của thể dục cổ động trên khán đài

2.1. Khái niệm

Thể dục cổ động trên khán đài được xây dựng bởi yếu tố thành viên,

phục trang, đạo cụ, khẩu hiệu, chỉ huy cùng các nội dung khác. Nếu xét theo ý

nghĩa tên gọi, thì thể dục cổ động trên khán đài ý chỉ các màn biểu diễn của

hoạt náo viên trên khán đài. Mặc dù sức lôi cuốn của thể dục cổ động trên

khán đài hạn chế hơn so với thể dục cổ động trên sân, song với ưu điểm áp

đảo về quân số, thể dục cổ động trên khán đài lại chiếm ưu thế hơn ở phương

diện tạo bầu không khí sôi nổi.

Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có khái niệm cụ thể dành cho thể dục

cổ động trên khán đài, thông qua quá trình phỏng vấn những huấn luyện viên

thể dục cổ động và Aerobic chuyên nghiệp, chúng tôi mạnh dạn đưa ra khái

niệm như sau: Thể dục cổ động trên khán đài là hệ thống các hoạt động reo hò

trợ uy có tổ chức được thực hiện trên hàng ghế khán giả khi xem thi đấu.

2.1.1. Đặc điểm của thể dục cổ động trên khán đài

Tính đơn giản

Động tác biên đạo của thể dục cổ động trên khán đài đơn giản hơn so

với thể dục cổ động trên sân, do đó các trường học, đơn vị hoặc khu phố đều

có thể tổ chức được những đội thể dục cổ động trên khán đài. Mặt khác, thể

dục cổ động trên khán đài không đưa ra yêu cầu quá cao đối với người tham

gia, biên độ động tác, hoạt động của chi dưới cũng không phức tạp như của

thể dục cổ động trên sân.

Tính quần chúng

Do cường độ động tác không lớn, động tác thực hiện đơn giản, nên

không giới hạn độ tuổi là đặc điểm nổi bật của thể dục cổ động trên khán đài,

209

có thể nói, thể dục cổ động trên khán đài thích nghi được với mọi độ tuổi.

Trải qua quá trình phát triển, thể dục cổ động trên khán đài ngày nay đã phát

triển rộng khắp từ khu phố, đoàn thể đến các đơn vị xí nghiệp, bội đội, thậm

chí là cả khu vực nông thôn. Cùng với tinh thần thể thao, phong trào thể dục

cổ động trên khán đài ngày càng được động đảo toàn dân hưởng ứng

Tính sôi động

Thể dục cổ động trên khán đài thông qua các động tác gập duỗi, quay

vòng của tay kết hợp với di chuyển biên độ nhỏ của các động tác co gối chi

dưới xen kẽ với đạo cụ cùng khẩu hiệu, mang lại hiệu quả ngay ngắn, đồng

đều hóa về thị giác, sôi động hơn so với các hoạt động trợ uy khác của thể dục

cổ động trên sân, tạo thêm được hiệu quả mạnh mẽ về bầu không khí náo

nhiệt.

Tính linh hoạt

Thể dục cổ động trên khán đài phát triển dựa trên sự tự giác tình

nguyện của khán giả, do đó những qui định bắt buộc và giới hạn của bộ môn

này không khắt khe như đối với thể dục cổ động trên sân, mà chỉ mang ý

nghĩa tương đối. Điều này đem lại sự phổ biến và linh hoạt hơn cho quá trình

triển khai hoạt động thể dục cổ động trên khán đài.

Tính văn minh

Thể dục cổ động trên khán đài không những có thể lôi cuốn được khán

giả, tham gia trợ uy cho VĐV thi đấu trên sân, mà nó còn góp phần xây dựng

hình ảnh văn hóa trên sân thi đấu. Không chỉ có tác dụng thể hiện nét văn

minh khi xem thi đấu, tại các hoạt động qui mô lớn nhỏ khác nhau khác, thể

dục cổ động trên khán đài còn phát huy tác dụng làm đầu tầu dẫn đường, trở

thành bộ phận quan trọng không thể thiếu của quá trình truyền tải văn minh.

3. Phân loại và qui mô của thể dục cổ động trên khán đài

3.1. Phân loại

210

Căn cứ vào dụng cụ cầm trên tay của hoạt náo viên tham gia cổ động,

có thể chia thành thể dục cổ động trên khán đài tay không và thể dục cổ động

trên khán đài có đạo cụ nhẹ. Ở loại thứ hai, hoạt náo viên có thể sử dụng các

đạo cụ như: kèn, còi, trống, chai nhựa rỗng, bóng bay, quat…

3.2. Qui mô

Căn cứ vào số người tham gia, có thể chia thể dục cổ động trên khán

đài thành 3 đẳng cấp qui mô nhỏ, trung bình và lớn. Thông thường, qui mô

nhỏ sẽ từ 30 - 60 người, từ 61-100 người sẽ thuộc qui mô trung bình và trên

100 người sẽ xếp vào qui mô lớn.

4. Nhiệm vụ, ý nghĩa và tầm quan trọng của thể dục cổ động trên

khán đài

4.1. Nhiệm vụ

Nhiệm vụ của thể dục cổ động trên khán đài đó là thông qua hoạt

động reo hò trợ uy có tổ chức của khán giả, nhằm đạt được mục đích cổ động,

khích lệ tinh thần cho VĐV thi đấu và hoạt náo bầu không khí trên sân.

4.2. Ý nghĩa và tầm quan trọng

4.2.1. Thể hiện văn hóa dân tộc và nội hàm tinh thần

Ở những giải đấu qui mô lớn như Đại Hội Olympic, hoạt động biểu

diễn trợ uy của thể dục cổ động trên khán đài không chỉ được giới hạn trong

một trận đấu, ý nghĩa của nó cón nâng lên đến tầm thể hiện nét văn hóa dân

tộc của cả một quốc gia. Không chỉ nổi bật tinh thần đoàn kết, đồng tâm hiệp

lực, thể hiện tự hào, năng lực và thực lực dân tộc, thể dục cổ động còn có tác

dụng tăng thêm lòng tự tôn, khích lệ tinh thần thi đấu, thể hiện sức mạnh tập

thể của một đất nước.

4.2.2. Tạo môi trường thi đấu văn minh, hòa bình

Thể dục cổ động trên khán đài góp phần thể hiện vai trò tích cực trong

xây dựng nét văn minh, tạo bầu không khí hòa bình trên sân thi đấu, khởi

xướng cho trào lưu văn minh khi xem thi đấu.

211

4.2.3. Tăng cường xây dựng văn hóa trường học

Xét từ khía cạnh xu hướng phát triển của xã hội, bản chất cuộc sống

của nhân loại được xây dựng dựa trên sự thoả mãn về vật chất và ngày càng

chú trọng hơn đến nhu cầu cuộc sống tinh thần. Điều này khiến chúng ta cần

không ngừng khởi sướng trào lưu xây dựng văn hóa tinh thần, tăng cường bồi

dưỡng giáo dục tinh thần nhân văn trong cuộc sống, nhằm phong phú hơn nội

hàm của cuộc sống. Trong khi đó xây dựng văn hóa trường học được xem là

bộ phận cấu thành quan trọng của xây dựng văn hóa hiện đại, là đối tượng

chính của xây dựng văn hóa trong thanh thiếu niên. Các nhà tâm lý học giáo

dục đã chỉ ra: học sinh lứa tuổi thanh thiếu niên đang ở trong giai đoạn sinh

trưởng và phát dục nhanh chóng về tâm lý lẫn sinh lý, tư duy hoạt bát, rất dễ

đón nhận những sự việc mới mẻ, rất dễ phá vỡ và hình thành nên tư tưởng

quan niệm mới. Do đó, lựa chọn các môn thể thao đúng đắn và lành mạnh là

nhiệm vụ vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của các

em. Môn thể dục cổ động trên khán đài bắt nguồn từ những âm thanh reo hò

đơn giản phát triển đến hoạt động có tổ chức, có qui mô và trở thành môn thi

đấu chính thức như ngày hôm nay, không chỉ đơn thuần là do môn thể thao

này nổi bật được sức sống của tuổi trẻ, thời thượng, kịch tính, mà quan trọng

hơn cả, nó bồi dưỡng được cho VĐV tinh thần hợp tác tập thể, xây dựng lối

sống lành mạnh tích cực.

212

Chương 8

YẾU TỐ CẤU THÀNH THỂ DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN KHÁN ĐÀI

1. Thành viên và người điều khiển cổ động trên khán đài

1.1. Thành viên

Là những người thông qua ngôn ngữ cơ thể hay đạo cụ trên tay tham

gia cổ vũ trợ uy trên khán đài dưới sự bố trí có tổ chức của đoàn thể, đồng

thời họ góp phần tạo nên bầu không khí sôi động cho trận đấu. Yêu cầu đối

với thành viên đội cổ động trên khán đài:

Ý thức hợp tác cùng tinh thần tập thể cao

Thể dục cổ động trên khán đài yêu cầu rất cao đối với ý thức hợp tác

đoàn thể và tinh thần tập thể, yêu cầu sự phối hợp ăn ý giữa các thành viên

trong đội với cả người điều khiển, nhằm đạt được hiệu quả mỹ quan chỉnh

thể, chứ không phải chỉ yêu cầu hiệu quả của một cá nhân. Vì vậy, yêu cầu

các thành viên phải có tinh thần trách nhiệm cao, quan niệm tập thể cùng ý

thức cá nhân tốt

Có hiểu biết về văn hóa xem thi đấu cùng luật thi đấu

Mục đích hình thành của môn thể dục cổ động trên khán đài đó là xây

dựng và khởi sướng cho trào lưu văn hóa, tạo bầu không khí hòa bình khi xem

thi đấu, thành viên trong đội chính là những hạt nhân sức mạnh thúc đẩy sự

phát triển của nét văn hóa này. Do đó, với vai trò là thành viên của đội cổ

động trên khán đài, cần phải được bồi dưỡng kỹ càng về văn hóa khi xem thi

đấu, tìm hiểu luật thi đấu, từ đó nâng cao tu dưỡng phẩm chất cá nhân.

Có thể lực và ý chí

Theo dõi suốt toàn trận đấu, đồng thời reo hò trợ uy vào những thời

điểm thích hợp, điều này đòi hỏi rất cao về thể lực của cá nhân. Đối với môn

thể dục cổ động trên khán đài, hoạt động chi trên của các thành viên đội cổ

động tương đối nhiều, do đó, cần có thêm yêu cầu về sức mạnh chi trên, đồng

213

thời, phải có khả năng khống chế cơ thể tốt. Trong giai đoạn thi đấu, một khi

xuất hiện thể lực giảm sút, thành viên đội cổ động cần phải có ý chí để tiếp

tục tham gia cổ vũ, vì vậy, trong quá trình tập luyện thường ngày, VĐV cần

phải chú trọng trên cả 2 phương diện đó là tăng cường thể lực và phẩm chất ý

chí.

Thái độ tích cực và nhiệt huyết

Thể dục cổ động trên khán đài có tác dụng trực tiếp đối với xây dựng

và điều động bầu không khí sôi nổi đến khán giả trực tiếp xem thi đấu. Vì

vậy, là thành viên của đội cổ động, cần có thái độ tích cực cùng bầu nhiệt

huyết, mới có thể khơi dậy không khí cho người xem. Ngoài ra, còn phải thân

thiện, có sức khỏe, luôn mỉm cười, thông qua ngôn ngữ cơ thể cùng tinh thần

sôi động truyền cảm hứng đến cho người xem.

Khả năng cảm nhịp tốt

Khẩu hiệu và đạo cụ sử dụng trong thể dục cổ động đều có nhịp phách

nhất định, vì vậy yêu cầu VĐV phải có khả năng cảm nhịp tốt.

Phát âm chuẩn và giọng vang, rõ

VĐV thể dục cổ động thông qua sức mạnh ngôn ngữ để truyền tải, thể

hiện nhiệt huyết khi xem thi đấu, do đó, yêu cầu VĐV đội thể dục cổ động

cần phải phát âm chuẩn và giọng vang, rõ.

1.2. Người điều khiển.

Là người đóng vai trò chỉ huy chủ đạo trong suốt quá trình vận hành

của thể dục cổ động trên khán đài. Ngoài những yêu cầu cơ bản của một thành

viên đội thể dục cổ động ra, cần phải có thêm năng lực lãnh đạo tốt. Yêu cầu

đối với người điều khiển thể dục cổ động trên khán đài:

Có khả năng hiệu triệu, thân thiện và có sức khỏe

Người điều khiển là hạt nhân nòng cốt của đội thể dục cổ động trên

khán đài, phải chỉ huy một đội ngũ từ vài chục người đến hàng trăm người,

phải có nhiệm vụ truyền nhiệt huyết cho các thành viên trong đội, thậm chí là

214

điều động không khí sôi nổi trong suốt trận đấu. Do đó, người điều khiển còn

cần phải được trang bị khả năng hiệu triệu, thân thiện và có sức khỏe.

Có tinh thần trách nhiệm cao và năng lực tổ chức tốt

Để điều hành được toàn cục diện, người điều khiển cần hiểu rõ về

chính bản thân cũng như những thành viên khác trong đội. Để thể hiện được

màn biểu diễn một cách có trật tự, đồng đều trên khán đài, người điều khiển

cần có năng lực tổ chức tốt. Người điều khiển phải căn cứ vào tình hình thực

tế để điều động và làm trỗi dậy không khí sôi nổi trên sân, có trách nhiệm đối

với đội cổ động, đối với từng thành viên trong đội.

Chỉ huy quyết đoán, giọng vang, từ ngữ rõ ràng, điều động được

không khí toàn đội một cách hiệu quả

Trong quá trình chỉ huy, người điều khiển cần nắm bắt nhanh nhạy và

hợp lý thời cơ phát khẩu lệnh. Giọng của người điều khiển phải vang, nhả chữ

rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu. Người điều khiển còn có thể phát huy triệt để cá

tính, tạo sức hút riêng, lôi cuốn mọi người cùng tham gia cổ vũ , khích lệ tinh

thần, tận hưởng niềm vui do trận đấu mang lại.

Chỉ huy linh hoạt, nhạy bén, có sáng tạo

Người điều khiển cần linh hoạt và nhạy bén sử dụng các bài thể dục

cổ động có sẵn, trước khi vào trận đấu, trong quá trình thi đấu, căn cứ vào tình

hình thức tế, mới lựa chọn tiếp các bài thể dục cổ động trợ uy khác. Còn cần

căn cứ vào các tình huống chuyển biến bất ngờ trên sân để biên soạn các động

tác hay khẩu hiểu mang tính ngẫu hứng và sáng tạo, do đó người điều khiển

cần luôn giữ cho đầu óc minh mẫn, tư duy nhạy bén và có khả năng sáng tạo

trong biên soạn.

2. Khẩu hiệu và âm nhạc cổ động trên khán đài

2.1. Khẩu hiệu

Là những câu ngắn có tác dụng tuyên truyền bằng miệng mang tính

cương lĩnh. Khẩu hiệu là những câu nói ngắn gọn, xúc tích, có thể truyền tải

215

cảm xúc, tốt nhất nên mang tính đại diện và có ngôn từ sâu sắc. Cần sử dụng

ngôn từ chính xác để biểu đạt tư tưởng lành mạnh, khẩu hiệu thường sử dụng

các từ ngữ thông dụng, không dùng các từ khó hiểu, có ẩn ý, thiếu văn hóa;

dùng từ có ý nghĩa rõ ràng, trực tiếp, sử dụng đoản ngữ, câu ngắn, hạn chế

hoặc không dùng các câu dài có nhiều biện pháp tu từ khác nhau. Như vậy,

mới có thể truyền tải được nội dung một cách đơn giản và rõ ràng.

2.1.1. Tác dụng của khẩu hiệu

Khẩu hiệu có vai trò vô cùng quan trọng trong màn biểu diễn của thể

dục cổ động trên khán đài, là một trong những phương pháp làm tăng tính tích

cực có hiệu quả nhất, trực tiếp nhất.

2.1.2. Giới thiệu một số khẩu hiệu thường dùng

Những giải thi đấu trước đây và trên khán đài thường xuất hiện các

khẩu hiệu như: “ 1,2, Đập bóng”, “Việt Nam…

2.1.3. Yêu cầu đối với khẩu hiệu

Khẩu hiệu nên rõ ràng, dễ nhớ, khẩu hiệu biểu ngữ bắt buộc phải có

tiết tấu, nhịp điệu, như vậy mới dễ hô và truyền tải, mang lại hứng thú cho

người nghe, nhằm thu về hiệu quả như mong đợi. Dưới đây là một số yêu cầu

đối với khẩu hiệu:

- Khi chọn lựa khẩu hiệu, cần chọn những khẩu hiệu lành mạnh, tích

cực.

- Khi chọn từ ngữ, cần chú ý âm điệu phải tương đương, như vậy mới

dễ hô và hấp dẫn người nghe.

- Khẩu hiệu được chọn phải phục vụ cho một mục đích nhất định, phải

cổ vũ được tinh thần, thôi thúc người nghe hành động theo, vì vậy cần mang

tính khích lệ cao.

- Khi biên soạn khẩu hiệu, cần chú ý sáng tạo, phản chiếu được văn

minh của thời đại. Khẩu hiệu tuyên truyền cần phù hợp với môi trường và

hoàn cảnh, tránh những ngữ khí khô cứng, lạnh lùng.

216

2.1.4. Tập hô khẩu hiệu

Những điểm cần lưu ý khi tập khẩu hiệu:

Chú ý kỹ thuật phát âm: cũng giống như lúc luyện thanh, khi mới bắt

đầu, rất nhiều người không hiểu phải phát âm, khẩu hình, trọng âm và dừng

như thế nào. Lấy phát âm làm ví dụ, đa phần đều sử dụng âm cổ để hô khẩu

hiệu, như thế âm thanh không những không lớn, thời gian dài, cổ họng còn dễ

bị tổn thương. Cách hô khẩu hiệu đúng đó là phát âm từ khoang bụng, âm

phát ra trong trường hợp này sẽ to, hơn nữa còn bảo vệ được cổ họng.

Chú ý âm lượng, âm điệu và tốc độ từ trong khẩu hiệu: thể dục cổ

động căn cứ vào âm lượng, âm điệu và tốc độ từ để truyền tải ý nghĩa khác

nhau. Khẩu hiệu chúng ta thường dùng có tốc độ đều hoặc biến tốc, có khẩu

hiệu âm thanh cao vút, lại có khẩu hiệu âm thanh trầm xuống. Do đó, khi tập

luyện cần chú ý phối hớp âm thanh cao thấp, nhe, nặng hay sử dụng các âm

lượng, âm điệu, tốc độ khác nhau để biểu đạt những ý nghĩa riêng.

Chú ý kết hợp giữa khẩu hiệu với âm nhạc, tiếng vỗ tay, đạo cụ: khẩu

hiệu phải đồng nhất với tiếng vỗ tay, đạo cụ và nhịp điệu của âm nhác mới đạt

được hiệu quả hoàn mỹ, nếu không sẽ phản tác dụng.

2.2. Âm nhạc

2.2.1. Tác dụng của âm nhạc

Thể dục cổ động trên khán đài chia thành 2 nhóm lớn: một loại là

không kèm theo âm nhạc, chỉ có động tác tay, tiếng vỗ tay, khẩu hiệu hoặc

phối hợp cùng đạo cụ, hình thức này được sử dụng rất phổ biển trong thực tế,

chủ yếu dùng cho các hoạt động cổ vũ trợ uy cho thi đấu trên sân. Loại thứ

hai là sử dụng kết hợp với âm nhạc, được dùng chủ yếu cho thể dục cổ động

trên khán đài khi xem thi đấu

Đối với thể dục cổ động trên khán đài có phối hợp với âm nhạc, ý đồ

và phong cách âm nhạc chính là điểm nhấn tạo nên sắc màu cho màn biểu

diễn, dưới tiết tấu của nền nhạc, cả hai kết hợp thành một khối thống nhất,

217

mang lại hiệu quả càng cao. Âm nhạc sử dụng thích hợp nhất đối với thể dục

cổ động trên khán đài đó là các bản nhạc kịch tính, phong phú và có sức kêu

gọi, nó đạt đến giới hạn của sự ăn ý, khiến mọi người quên hết mệt nhọc, dồn

tập trung vào hoạt động thể thao đầy kịch tính này, đạt được hiệu quả lên đến

đỉnh điểm của một tinh thần thoải mái cùng một cơ thể hưng phấn. Thông qua

ảnh hưởng của âm nhạc, nâng cao khả năng tập trung chú ý cho các thành

viên trong đội, kích thích óc sáng tạo và trí tưởng tượng. Thay đổi đa dạng

của giai điệu kéo theo sự biến hóa tương ứng về tiết tấu động tác của thể dục

cổ động trên khán đài, tao nên sức hấp dẫn đặc biệt trong thế giới tinh thần ở

mỗi người

2.2.2. Yêu cầu đặc biệt đội với âm nhạc

Lựa chọn nhạc nền dựa trên luật thi đấu của thể dục cổ động.

Cần căn cứ vào luật thi đấu để chọn nhạc, ví dụ như thời gian, loại

nhạc, nhịp điệu, hiệu quả âm thanh, cách thu thanh....tốt nhất nên chọn các bài

có giai điệu lên xuống, tiết tấu rõ ràng, dễ để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng

người nghe.

Lựa chọn nhạc nền dựa trên khẩu hiệu và động tác biên soạn.

Tốc độ của bài nhạc phải phù hợp với khẩu hiệu và động tác đã biên

soạn, tiết tấu quá nhanh sẽ ảnh hưởng đến động tác của VĐV không chuẩn

xác, biến hóa của động tác cũng không rõ ràng, tiết tấu quá chậm khiến động

tác uể oải, thiếu dứt khoát và kịch tính. Do đó, lựa chọn nền nhạc cần phù hợp

với đặc điểm của môn thể dục cổ động trên khán đài, tiết tấu âm nhạc phải rõ

ràng, dứt khoát, có hiệu quả về thính giác và sức lôi cuốn nhất định trên sân.

Khẩu hiệu và âm nhạc, giai điệu cũng cần phối hợp ăn ý, như vậy mới có thể

tạo nên sự đồng cảm cho khán giả, cảm nhận được nhiệt huyết và sức hấp

dẫn.

218

Lựa chọn nhạc nền dựa trên đặc điểm của đạo cụ.

Căn cứ vào đặc điểm đạo cụ lựa chọn nhạc nền giúp thể hiện tối ưu

chủ đề và ưu thế của thể dục cổ động, dựa trên độ tuổi, nghề nghiệp và sở

thích của VĐV, chọn lựa đạo cụ sao cho phù hợp, sau đó kết hợp với trình độ

kỹ thuật và ưu điểm của VĐV, lựa chọn nhạc nền.

Lựa chọn nhạc nền dựa trên nhân tố điểu kiện tác động bên ngoài.

Đối với những trận thi đấu khác nhau, lựa chọn nhạc nền và động tác

cũng khác nhau. Sự khác biệt về bố cục của sân thi đấu, diện tích không gian

xung quanh, thiết kế đạo cụ biểu diễn tạo nên sự khác biệt trong biên đạo

động tác và nhạc nền. Tốc độ bài nhạc nền không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi

diện tích sân thi đấu, nhưng cùng một giai điệu, cảm giác nghe trên sân thi

đấu với diện tích lớn sẽ chậm hơn so với trên sân diện tích nhỏ, như vậy sẽ

phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả âm thanh vốn có, đồng thời cũng ảnh

hưởng đến hiệu quả biểu diễn chung, cần chú trọng vừa nhấn mạnh được tính

hiệu quả, mới mẻ nhưng vẫn phải nổi bật đặc sắc của âm nhạc cùng động tác

3. Đạo cụ và trang phục

3.1. Đạo cụ

Đạo cụ là những vật dụng đa dạng được sử dụng trong quá trình thực

hiện màn biểu diễn thể dục cổ động trên khán đài.

3.1.1. Tác dụng của đạo cụ

Đạo cụ trong thể dục cổ động có thể hâm nóng bầu không khí thi đấu

trên sân, nó không chỉ ảnh hưởng đến cảm xúc của VĐV và khán giả, mà còn

ảnh hưởng đến xây dựng hình ảnh văn hóa trên khán đài. Vì vậy, đạo cụ góp

phần mang lại nét phong phú cho văn hóa trên khán đài.

3.1.2. Giới thiệu một số đạo cụ thường sử dụng

Những đạo cụ được sử dụng thường xuyên trong thể dục cổ động trên

khán đài đó là: Khăn tay, cờ, cầu hoa, còi, kèn, bảng biểu ngữ, trống, bóng

219

bay, cây nhựa, vòng tay....cũng có thể dựa trên văn hóa địa phương để lựa

chọn đạo cụ.

3.1.3. Những điểm cần lưu ý khi lựa chọn đạo cụ

Đạo cụ phải bắt mắt, rực rỡ, thay đổi đa dạng, phong phú, dựa vào

màu sắc nổi trội gia tăng hiệu quả thị giác. Như thế sẽ tăng hiệu quả khi thực

hiện các động tác biên đạo cũng như nổi bật khí thế tập thể.

Màu sắc của đạo cụ phải phù hợp với màu sắc của trang phục, tạo nên

hiệu quả về thị giác.

Hình thức của đạo cụ không có giới hạn, có thể phong phú và đa sắc

màu, nhưng cần chú ý đến yếu tố an toàn khi sử dụng.

3.2. Trang phục

3.2.1. Sử dụng trang phục

Trang phục đồng bộ có thể góp phần hâm nóng thêm bầu không khí

thi đấu trên sân, tạo nên sức mạnh lây lan cực kỳ hiệu quả. Do thể dục cổ

động trên khán đài không có bất kỳ yêu cầu bắt buộc nào đối với qui cách của

trang phục, nên trang phục của các cổ động viên chủ yếu được thể hiện thông

qua thiết kế về màu sắc và mẫu mã. Cùng với những phong cách chung khác

của thể dục cổ động trên khán đài, trang phục của bộ môn này cũng mang đặc

điểm về sức sống mới, sự tươi trẻ. Các trang phục được thiết kế đa phần là sự

phối hợp của các nhóm màu nổi, bắt mắt, nhằm mang lại cảm giác tuổi trẻ,

năng động, tươi sáng cho người xem.

3.2.2. Những điểm cần lưu ý khi lựa chọn trang phục

Nguyên liệu của trang phục

Chủ yếu sử dụng các sợi tự nhiên, sợi nhân tạo hoặc là những lạo vải

tổng hợp giữa sợi tự nhiên với sợi nhân tạo. Bởi vì độ đàn hồi, cảm giác khi

tiếp xúc với da, màu sắc, tính hút ẩm, độ thông khí của các dạng sợi này rất

tốt, hơn nữa giá thành lại hợp lý, do đó đây là một trong những nguyên liệu

được ưa chuộng trong thiết kế trang phục của thể dục cổ động trên khán đài.

220

Kiểu dáng của trang phục

Mẫu mã của trang phục thi đấu thể dục cổ động không bị giới hạn.

Song, màu sắc và mẫu mã của kiểu dáng của trang phục cần bám sát với chủ

đề cổ vũ của cả đội. Xét về kiểu dáng, trang phục của thể dục cổ động trên

khán đài nên đáp ứng được nhu cầu về tính kinh tế, sự đơn giản; mẫu thiết kế

nên rộng rãi, có độ co dãn, để phù hợp với các hoạt động của cơ thể khi VĐV

tham gia cổ vũ. Nhưng trong thi đấu, nhằm tăng thêm hiệu quả, khuyến khích

thể bổ sung thêm một số phụ kiện trang sức khác. Do đặc điểm đa dạng hóa

của bộ môn thể thao này, cho nên chủng loại về trang phục cũng khá phong

phú, thể hiện được nhiều phong cách khác nhau.

Màu sắc của trang phục

Khi lựa chọn màu sắc có thể ưu tiên nổi bật phong cách dân tộc. Sử

dụng các gam màu mạnh nhằm tăng thêm hiệu quả về thị giác. Màu sắc trang

phục được lựa chọn còn cần phù hợp với đạo cụ cũng như khung cảnh smôi

trường thi đấu trên sân.

4. Động tác cơ bản trên khán đài

4.1. Động tác tay không

4.1.1. Tư thế chuẩn bị

Tư thế ngồi: Ngẩng đầu ưỡn ngực, vai mở căng ra sau, hóp bụng,

thẳng lưng, hai tay đặt tự nhiên trên đùi, hai chân khép, cẳng chân vuông góc

với mặt đất, đầu gối và mũi chân cùng hướng về một phía (hình 8-1)

Hình 8-1 Hình 8-2

221

Tư thế đứng: Ngẩng đầu ưỡn ngực, xương bả vai mở căng ra sau, hóp

bụng, thẳng lưng, hai tay buông dọc thân người, hai chân khép (hình 8-2)

4.2.2. Các động tác tay

Nâng tay:

Các động tác nâng tay thường gặp trong thể dục cổ động gồm: tay

trước ngực, tay trên cao, tay sang ngang (hình 8-3)

Hình 8-3

Vỗ tay

Các động tác vỗ tay thường gặp trong thể dục cổ động gồm: vỗ tay

trước ngực, vỗ tay trên đầu, vỗ tay ngang tai (hình 8-4)

Hình 8-4

222

Phương pháp vỗ tay: Khép 4 ngón tay của một bàn tay đặt lên bàn tay

kia ở vị trí hổ khẩu.

Rung tay

Các động tác rung tay thường gặp trong thể dục cổ động gồm: rung

tay trước ngực, rung hai tay trên cao, rung một tay trên cao(hình 8-5).

Hình 8-5

Gập duỗi cánh tay

Các động tác gập duỗi cánh tay thường gặp trong thể dục cổ động

gồm: nâng đồng thời hai tay từ vị trí gập trước ngực thành duỗi trên cao, hai

tay đan chéo từ vị trí trước ngực thành duỗi trên cao, đẩy đồng thời hai tay từ

từ vị trí gập trước ngực thành duỗi trước, đẩy đồng thời hai tay từ từ vị trí đan

chéo trước ngực thành duỗi trước (hình 8-6).

1 2 3 4 5 6 7 8

Hình 8-6

223

Vung tay (đánh tay)

Các động tác gập duỗi cánh tay thường gặp trong thể dục cổ động

gồm: hai tay ngang vai, giữ yên cánh tay, cẳng tay lần lượt vung (đánh )sang

hai bên; hai tay trên cao, lần lượt vung (đánh) sang hai bên; thân trên lần lượt

di chuyển (đánh) sang hai bên, đồng thời hai tay gập cao trước ngực, cẳng tay

chồng lên nhau; một tay trên cao, một tay trước ngực, lần lượt vung (đánh)

hai tay lên xuống. (hình 8-7)

1 2 3 4 5 6 7 8

Hình 8-7

Quay và xoay tròn cánh tay

Các động tác quay và xoay tròn cánh tay thường gặp trong thể dục cổ

động gồm: hai tay hoặc một tay quay hoặc xoay tròn trước ngực, trên cao, hai

bên (hình 8-8).

1 2 3 4 5 6 7

Hình 8-8

224

Sóng người

Là động tác có biên độ lên xuống rõ rệt được cổ động viên thực hiện

lần lượt, giống nhau, theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ,

hình thành cảm giác như các làn sóng về thị giác.

Các hình thức thực hiện sóng người:

- VĐV lần lượt đứng lên hoặc giữ nguyên tư thế ngồi, đồng thời đánh

hai tay lên cao, VĐV kế tiếp ngồi xuống theo, đống thời cũng thực hiện hai

tay đánh trên cao.

- VĐV lần lượt đứng lên hoặc giữ nguyên tư thế ngồi, đồng thời quay

hoặc xoay vòng hai tay từ trái sang phải (hoặc ngược lại), tiếp đó xoay hoặc

quay vòng từ phải sang trái (hoặc ngược lại) .

- Các VĐV trên cùng một hàng ngang tay sang ngang, đặt lên vai của

người bên cạnh hoặc đan chéo hai tay trước ngực, nắm vào tay người bên

cạnh, lần lượt đứng lên, ngồi xuống.

Các động tác tay khác

Ngoài những động tác giới thiệu ở trên, còn có một số động tác tay

khác như: hai tay đan chéo trước ngực, hai tay gập trước ngực, cẳng tay

chồng lên nhau.... (hình 8-9)

Hình 8-9

225

Các tư thế tay của thể dục cổ động trên khán đài gồm có: Xoè rộng

các ngón tay, khép sát các ngón tay, giơ ngón cái lên cao, các ngón còn lại

nắm hờ, nắm đấm (hình 8-10)

Hình 8-10

226

Chương 9

PHƯƠNG PHÁP BIÊN SOẠN THỂ DỤC CỔ ĐỘNG.

1. Nguyên tắc biên soạn bài thể dục cổ động

Bất kỳ một hoạt động nào cũng cần đến những nguyên tắc cơ bản phù

hợp với qui định đặc thù vốn có của hoạt động đó. Muốn biên soạn thành

công bài biểu diễn, chỉ tìm hiểu về mục đích cùng những kiến thức liên quan

trực tiếp là hoàn toàn chưa đủ, cần phải nắm bắt tư tưởng chỉ đạo và nguyên

tắc của những loại hình thể dục cổ động khác nhau, đồng thời trên thực tế còn

phải tập trung xoay quanh đến tư tưởng này xuyên suốt quá trình biên soạn.

1.1. Tư tưởng chỉ đạo trong biên soạn

Là hình thức nghệ thuật mang tính biểu diễn và tính thưởng thức cao,

kèm theo các tôn chỉ khác là trợ uy, khích lệ tinh thần, đây chính là bản chất

của thể dục cổ động trên khán đài, cũng là tư tưởng chỉ đạo cho những người

làm công tác biên soạn nội dung này.

Cũng như các bộ môn thể thao khác, thể dục cổ động trên khán đài

cũng có yêu cầu đối với vấn đề an toàn, sức khỏe, tạo sức hấp dẫn đến người

xem.

1.2. Nguyên tắc trong biên soạn

Không có nguyên tắc, sẽ không thành khuôn khổ. Tuân thủ qui luật và

nguyên tắc đặc thù trong hoạt động biên soạn là điều kiện bắt buộc giúp bảo

đảm người biên soạn cho ra đời những sản phẩm chất lượng. Trong quá trình

biên soạn động tác thể dục cổ động cần tuân thủ những nguyên tắc sau:

1.2.1. Tính mục đích

Khi biên soạn động tác thể dục cổ động, trước tiên cần nắm rõ mục

đích và nhiệm vụ của biên soạn. Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ khác nhau,

kéo theo sự khác biệt đối với yêu cầu về phân bố tỷ lệ nội dung thành phần.

227

Mục đích chính của biên soạn động tác thể dục cổ động trên khán đài

gồm:

- Biên soạn bài với mục tiêu đoạt được thắng lợi.

- Biên soạn bài phù hợp với từng nội dung biểu diễn.

- Biên soạn bài phục vụ cho từng hoạt động cổ vũ, trợ uy.

1.2.2. Tính hợp lý

Kết cấu của thể dục cổ động trên khán đài gồm hai thành phần đó là

khẩu hiệu và động tác thực hiện. Về động tác, cần chú trọng đến hình thức thể

hiện cùng hoạt động của chi trên; về đạo cụ, trang phục cùng những phụ kiên

nghệ thuật khác, cần phù hợp với đặc điểm đối tượng cùng phong cách của

toàn bài. Bất luận là kết cấu tổng thể của toàn bài hay chỉ là một động tác đơn

lẻ hoặc một phụ kiện nhỏ kèm theo, đều cần tuân thủ đặc điểm của thể dục cổ

động trên khán đài. Nguyên tắc tuân thủ mang tính hợp lý chủ yếu thể hiện ở

những điểm sau:

- Hợp lý trong biên soạn động tác: kết cấu, phát lực, quĩ đạo, đường đi

của động tác cần phù hợp với đặc điểm sinh lý và giải phẫu cơ thể.

- Hợp lý trong sử dụng đạo cụ: cách đặt, bỏ, sử dụng đạo cụ, liên kết

đạo cụ với động tác cũng cần thiết kế hợp lý.

- Hợp lý trong kết cấu của động tác: thứ tự động tác phải hợp lý, động

tác theo bài phải liền mạch, có tính liên hoàn, động tác quá độ không cứng

nhắc, phối hợp phải linh động

- Hợp lý về khối lượng: cường độ động tác, mật độ động tác phải phù

hợp với qui luật vận động của cơ thể, đồng thời động tác cần phù hớp với đặc

điểm kết cấu sinh lý và giải phẫu cơ thể.

1.2.3. Tính mục tiêu

Biên soạn động tác thể dục cổ động cần phù hợp với đặc điểm của mỗi

một lứa tuổi, giới tính, năng lực cùng những điều kiện thực tế khác, có như

vậy mới tạo nên những động tác phong phú và có hồn. Khi biên soạn bất kỳ

228

động tác thể dục cổ động nào cũng cần nghiên cứu kỹ lưỡng và tỉ mỉ, hòng

đáp ứng được yêu cầu về tâm sinh lý lứa tuổi, thời gian, điều kiện sân bãi,

dụng cụ cho từng cá nhân

1.2.4. Tính sáng tạo

Trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ và đạt được mục tiêu, tính sáng tạo là

điểm sáng, là cơ hội ghi điểm cho quá trình biên soạn động tác. Sự sáng tạo

đối với những nhân tố cấu thành thể dục cổ động như: khẩu hiệu, âm nhạc,

đạo cụ, trang phục, trình tự động tác... quyết định đến phong cách của chính

bộ môn này, phản ánh được chủ đề của bài biểu diễn. Do đó, sáng tạo là một

nguyên tắc nữa cần phải tuân thủ trong quá trình biên soạn thể dục cổ động.

Nội dung các động tác thể dục cổ động trên khán đài rất phong phú,

thông qua quá trình gia công tỉ mỉ có thể sáng tạo ra vô số những động tác

mới mẻ, nhiều màu sắc, phù hợp với đặc điểm thời đại. Động tác của thể dục

cổ động trên khán đài cần không ngừng sáng tạo, như vậy mới có thể duy tri

sức sống mãnh liệt, thiết kế của động tác phải bảo đảm hai tiêu chí quan trọng

đó là mới mẻ và độc đáo.

1.2.4.1. Sáng tạo trong thiết kế động tác

Thiết kế động tác cần dựa trên đặc điểm của thể dục cổ động trên khán

đài, kết hợp và sáng tạo những động tác nhóm thể dục cổ động với động tác

nhóm vũ đạo. Do thể dục cổ động trên khán đài đặc biệt chú trọng đến đặc

điểm vận động của động tác tay, nên có thể kết hợp với thay đổi tư thế ban

đầu, hướng vận động, biên độ, tốc độ, tiết tấu, quĩ đạo của động tác, thậm chí

là cả đối tượng, nhằm sáng tạo ra những động tác mới có kết cấu hợp lý, có

hiệu quả. Ngoài ra, liên kết giữa các động tác với nhau cũng có thể khơi

nguồn sáng tạo, liên kết cần tinh tế, mang lại cảm giác liên hoàn, mới mẻ cho

người xem.

229

1.2.4.2. Sáng tạo trong thiết kế khẩu hiệu

Khẩu hiệu cần mang đặc điểm đơn giản, dễ nhớ, dễ hiểu, hùng hồn,

mang sức hiệu triệu cao, dễ lôi cuốn người nghe. Có thể kết hợp thực tế với

đặc điểm nghề nghiệp của đối tượng, thiết kế những khẩu hiệu sinh động và

không kém phần sôi nổi.

1.2.4.3. Sáng tạo trong đội hình

Lựa chọn đội hình phải dựa trên mục đích, đối tượng và đạo cụ.

Thông thường, sẽ ưu tiên sử dụng các đội hình đường thẳng, đường chéo,

hình quạt, hình vòng cung, hình trái tim, hình ngôi sao, hình tròn, biểu tượng

5 vòng tròn Olympic.

1.2.5. Nhất quán giữa động tác với âm nhạc

Giai điệu, phong cách của âm nhạc phải kết hợp ăn ý với tiết tấu,

phong cách động tác và cảm xúc của người biểu diễn, nếu không sẽ làm mất

đi tính nghệ thật của thể dục cổ động trên khán đài.

Không ngừng đổi mới, hoàn thiện đối với nhóm động tác theo bài, cố

gắng hài hòa giữa âm nhạc với động tác.

Điểm cần lưu ý đó là khi cắt nhạc phải làm sao vẫn giữ được tính hoàn

chỉnh của giai điệu, tránh việc cắt ráp, lắp ghép tùy ý, tự tiện.

1.2.6. Bảo đảm trình tự động tác

Cùng một động tác, không cùng trình tự xuất hiện hay những động tác

khác nhau với tổ hợp trình tự xuất hiện khác nhau tất nhiên đều mang lại

những hiệu quả khác nhau. Trình tự thực hiện động tác là một trong những

nguyên tắc bắt buộc cần tuân thủ khi tiến hành biên soạn động tác.

1.2.6.1. Cùng một động tác nhưng trình tự xuất hiện khác nhau

Thực hiện tập thể: Tất cả những người tham gia cùng hoàn thành động

tác.

Thực hiện lần lượt: Trong quá trình lần lượt từng người hoàn thành,

lại có thể căn cứ vào sự bố trí khác nhau để tiến hành theo tuần tự. Có thể một

230

người thực hiện một động tác từ phải sang trái xong mới đến người kế tiếp,

cũng có thể chia thành nhiều nhóm lần lượt hoàn thành; những nhóm riêng

biệt có thể căn cứ vào yêu cầu của đội hình, hoàn thành động tác theo thứ tự.

Ví dụ lấy động tác sóng người làm ví dụ, có thể thực hiện động tác

theo thứ tự sau: cá nhân đứng lên – ngồi xuống; tập thể cùng đứng lên- ngồi

xuống, từng cá nhân đứng lên nhưng tập thể cùng ngồi xuống, chia nhóm lần

lượt đứng - ngồi, xen kẽ giữa đứng với ngồi.

Thực hiện xen kẽ: Căn cứ vào yêu cầu đội hình hoặc yếu tố hiệu quả

khác nhau, chia VĐV thành từng nhóm riêng, lần lượt thực hiện xen kẽ các

động tác giống hoặc khác nhau, tạo sức mạnh đột phá, hiệu quả về phần nhìn

cho người xem.

1.2.6.2. Động tác khác nhau, trình tự xuất hiện khác nhau

Những nhóm khác nhau cùng lúc thực hiện các động tác khác nhau.

Những nhóm khác nhau lần lượt thực hiện các động tác khác nhau.

Thực hiện xen kẽ các động tác khác nhau.

1.2.7. Bảo đảm tính nghệ thuật

Là một loại của hình thức biểu diễn, thể dục cổ động trên khán đài gắn

liền với tính nghệ thuật. Trong quá trình biên soạn động tác, tính nghệ thuật

thể hiện ở nét đẹp khác nhau, nét đẹo trong động tác, nét đẹp trong tạo hình,

nét đẹp trong đạo cụ, trong sự phối hợp và ngay cả trong chủ đề cần nổi bật,

gửi đến người xem một thông điệp, một hàm ý nhất định. Vì vậy, bảo đảm

tính nghệ thuật là một trong những yêu cầu cần theo đuổi đến cùng của quá

trình biên soạn động tác tham gia thi đấu.

2. Các yêu cầu về biên soạn bài biểu diễn thể dục cổ động

2.1. Người biên soạn và đối tượng biên soạn

Bất kỳ một ai am hiểu về thể dục cổ động trên khán đài đều có thể tiến

hành biên soạn động tác, nhưng hiệu quả và chất lượng thu về lại có sự khác

biệt vô cùng to lớn. Thực tế các hoạt động của thể dục cổ động trên khán đài

231

lại luôn lấy sự tham gia của tập thể làm đặc trưng chính, xuyên suốt quá trình

biên soạn, người biên soạn và đối tượng biên soạn gắn kết rất chặt chẽ. Quá

trình biên soạn là quá trình tích lũy về trí tuệ mang tính bổ trợ, tính tập thể và

tính sáng tạo của người biên soạn với đối tượng biên soạn, là quá trình ma sát

liên tục nhằm truyền tải thông tin đến đối tượng biên soạn một cách sáng tạo

phản ảnh được tư tưởng của chủ đề theo những nguyên tắc chủ đạo đã có. Vì

vậy, người biên soạn và đối tượng biên soạn đều có những yêu cầu khác nhau.

2.1.1. Người biên soạn

Là người đóng vai trò chủ đạo trong suốt quá trình biên soạn động tác,

do đó, người biên soạn không chỉ cần có kiến thức chuyên môn tinh thông,

đồng thời còn phải am hiểu về những môn nghệ thuật và thể thao liên quan

khác. Một người biên soạn cần phải trang bị cho mình những khả năng bắt

buộc sau:

Khả năng quan sát nhạy bén: yêu cầu người biên soạn không chỉ có

cái nhìn tỉ mỉ đối với những sự vật bên ngoài, mà còn đòi hỏi ở họ khả năng

quan sát nhạy bén đối bản chất bên trong của vấn đề.

Có khả năng phân tích và lĩnh hội tốt: chủ yếu dựa vào nền tảng kiến

thức vốn có của người biên soạn tiến hành phân tích đối với sự vật, sự việc,

chuyển hóa và lĩnh hội những kiến thức mới.

Có khả năng biểu đạt chính xác, tràn đầy nhiệt huyết: trong quá trình

biên soạn và thi đấu của thể dục cổ động, khả năng biểu đạt là mắt xích quan

trọng giúp truyền tải thông tin, sự việc dù tốt đến đâu nhưng quá trình truyền

đạt thông tin gặp trở ngại, sẽ dẫn đến sự sai lệch so với mục đích mà chúng ta

muốn đạt đến.

2.1.2. Đối tượng biên soạn

Là người biểu diễn trực tiếp trong quá trình biên soạn cũng như thi

đấu, là chủ thể biểu đạt hình thức, chủ đề, phong cách của bài thể dục cổ

232

động. Với vai trò là người tham gia thi đấu, đối tượng biên soạn cần có những

phẩm chất và khả năng sau:

- Có niềm đam mê đối với môn thể dục cổ động trên khán đài.

- Có tính thần tham gia tích cực và chủ động, tinh thần này chính là

liều thuốc kích thích cho quá trình phát triển đi lên theo xu hướng “ nhiều,

nhanh, tốt, tiết kiệm” của sự vật.

- Có khả năng thao tác và chấp hành tốt, nếu thiếu hai yếu tố này, biên

soạn và biểu diễn trong thể dục cổ động sẽ trở nên vô nghĩa.

2.2. Động tác, âm nhạc và khẩu hiệu

Thể dục cổ động trên khán đài là nội dung thi đấu mang tính biểu diễn

tập thể dưới nền nhạc có qui luật và nguyên tắc nhất định, thông qua các bài

tập của cơ thể nhằm đạt được mục đích đã đề ra. Vì vậy, động tác và âm nhạc

là hai thành phần cấu thành chính của thể dục cổ động, hai thành phần này

vừa tồn tại độc lập, lại vừa có mối tương quan, tức là mỗi một thành phần đều

có hình thức biểu đạt độc đáo nhưng vẫn tương tác lẫn nhau. Người biên soạn

cần phân biệt rõ hình thức biểu hiện cơ bản của hai mặt kể trên cũng như phải

nắm vững mối liên kết giữa chúng.

2.2.1. Động tác

Động tác là nhân tố quan trọng hàng đầu của thể dục cổ động trên

khán đài. Các động tác bắt mắt, hợp lý, phù hợp với yêu cầu của bộ môn này,

càng dễ tiếp cận thậm chí là đạt được mục tiêu đã đưa ra. Các động tác đẹp

thường cuốn hút và mang lại cảm giác vui vẻ cho người xem, ngược lại sẽ dễ

hình thành tâm lý nhàm chán khi xem biểu diễn. Động tác có rất nhiều nhân

tố hợp thành, trong đó 3 đặc điểm dưới đây là rất quan trọng.

Vị trí: Bao gồm cả vị trí không gian tương đối của cơ thể, hay vị trí

tương đối giữa tứ chi với thân người.

Tiết tấu: Chủ yếu dùng để chỉ mối quan hệ về thời gian giữa những

động tác với nhau.

233

Quá trình: Gồm 2 phương diện: Trước hết là đường đi và phương

hướng, ý chỉ quĩ đạo vận động của cơ thể trong quá trình tiếp nói giữa các

động tác. Trên thực tế, có thể dựa trên lối tư duy như sau tiến hành thay đổi từ

một động tác đơn giản trở thành động tác khó: Căn cứ vào phong cách và yêu

cầu chọn một động tác cơ bản; biến hóa về đường đi; biến hóa về tiết tấu; biến

hóa về phương hướng; phụ kiện (đạo cụ, tư thế tay...); biến hóa về thứ tự thực

hiện động tác; trình tự số lần hoàn thiện đội hình của toàn đội.

Vận dụng động tác có khoa học, sẽ nảy sinh ra vô số động tác khác,

mang lại hiệu quả cao. Nắm rõ qui luật động tác là yếu tố bắt buộc cần có của

người biện soạn, bởi vì nó chính là then chốt của thể dục cổ động trên khán

đài.

Trong thể dục cổ động, đa phần động tác được hoàn thành ở tư thế

ngồi, hoạt động chi trên chiếm vị trí chủ đạo, với các bài tập tay không là

chính, động tác đơn giản, biên độ lớn kết hợp với vỗ tay là xu hướng phong

cách đang được ưa chuộng. Các ví dụ dưới đây sẽ lấy đường đi của đạo cụ

làm chính.

Biểu diễn với quạt: Sử dụng các động tác có bản của quạt như: mở

quạt, thu quạt, điểm quạt, rung quạt, xoay quạt làm chính

Biểu diễn với cây cổ vũ (giống bong bóng, nhưng có kích thước hình

khối dài): Sử dụng các động tác tay không kết hợp với vỗ cây làm chính

Biểu diễn với cờ: Sử dụng các động tác tay không cơ bản kết hợp với

phất cờ, vẫy cờ làm chính.

2.2.2. Âm nhạc:

Tiết tấu nhạc nhanh hay chậm có liên quan trực tiếp đến tốc độ của

động tác, lực thực hiện động tác, biên độ của động tác, khối lượng của động

tác.....Giai điệu của âm nhạc với động tác đạt được sự đồng nhất, sẽ có tác

dụng khơi nguồn cảm hứng cho người biểu diễn. Có ba cách lựa chọn nhạc:

234

- Chọn nhạc trước, căn cứ vào tiết tấu, đặc điểm, phong cách của bài

nhạc thiết kế động tác.

- Biên soạn động tác trước, sau đó mời chuyên gia hay người viết nhạc

căn cứ vào tiết tấu, phong cách, cao trào của động tác biên soạn sáng tác nhạc

nền cho phù hợp. Tiến hành theo trường hợp này sẽ mang lại hiệu quả rất lý

tưởng.

- Biên soạn động tác trước, sau đó mới chọn nhạc nền. Căn cứ vào

động tác đã soạn, lựa chọn nhạc nền tương ứng. Thông thường với cách lựa

chọn này sẽ khó tránh khỏi trường hợp giai điệu của nhạc và tiết tấu động tác

không khớp.

2.2.3. Khẩu hiệu

Khẩu hiệu là nội dung cấu thành quan trọng của thể dục cổ động, là

yếu tố điển hình để phân biệt với những môn biểu diễn khác. Khẩu hiệu thông

thường cần bảo đảm các yêu cầu như đơn giản, rõ ràng, có thể truyền tải chủ

đề một cách chính xác nhất, thuyết phục nhất, đồng thời nó còn có tác dụng

gia tăng nhiệt huyết, tinh thần cổ vũ , ý chí cho VĐV.

3. Phương pháp biên soạn thể dục cổ động

3.1. Các bước biên soạn

3.1.1 Chuẩn bị trước khi biên soạn

Trước khi biên soạn, cần xác định mục đích, nhiệm vụ, yêu cầu; tìm

hiểu tình hình đối tượng biên soạn gồm: độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình

độ văn hóa, tình trạng sức khỏe, khả năng vận động....; nắm rõ lịch thi đấu,

thời gian, điều kiện sân bãi, thiết bị của sân biểu diễn; trang bị những kiến

thức liên quan đến biên soạn thể dục cổ động trên khán đài.

3.1.2. Xây dựng phương án tổng thể

Trên cơ sở đã nắm bắt tình hình, xác định nội dung cơ bản (ví dụ như

tay không hay có dụng cụ), phong cách (sôi động hay nhẹ nhàng), độ khó

235

(lớn, trung bình hay nhỏ) của bài biên soạn, trình tự kết cấu động tác thiết kế,

nhóm động tác chính hay số nhịp chính, nhịp trùng của động tác toàn bài.

Nếu cần kết hợp nhạc, sau khi hình thành khung cơ bản, lựa chọn cắt

ghép nhạc. Âm nhạc có thể kích thích tư duy, bổ sung hay sửa chữa cho

phương án chung. Sau khi xác định được phương án tổng thể, thông qua bảng

thiết kế phương án tổng kết và qui nạp lại, nhằm kiểm tra tính hợp lý và hoàn

chỉnh cho kế hoạch, đồng thời lấy đó làm đại cương chính tiến hành thiết kế

động tác cụ thể. Có thể sử dụng 2 dạng phương án sau:

- Phương án 1: Xác định nhiệm vụ mục đích; xây dựng khung cơ bản;

lựa chọn nhạc nền , động tác; thu thập chủ đề động tác; biên soạn theo từng

phân đoạn (khẩu hiệu + động tác); tổ hợp thành bài; sửa chữa định hình.

- Phương án 2: Xác định nhiệm vụ mục đích; thu thập chủ đề động

tác; lựa chọn nhạc nền , động tác; xây dựng khung cơ bản; biên soạn theo

từng phân đoạn (khẩu hiệu + động tác); tổ hợp thành bài; sửa chữa định hình.

3.1.3. Chọn nhạc nền, định hình phong cách

Âm nhạc là linh hồn của động tác. Âm nhạc vốn dĩ một loại hình thức

nghệ thuật, động tác chỉ khi ăn khớp với âm nhạc mới có thể lột tả và truyền

tải được cảm xúc.

Phong cách âm nhạc, âm điệu cơ bản của bài nhác sẽ trực tiếp quyết

định đến phong cách động tác, thể loại của bài biểu diễn; lựa chọn âm nhạc

thích hợp hoặc căn cứ vào yêu cầu để sáng tác nhạc đều là nền tảng cơ bản

quyết định đến hiệu quả động tác của toàn bài. Lựa chọn nhạc nền là khâu vô

cùng quan trọng của quá trình biên soạn động tác

3.1.4. Biên soạn động tác, đội hình

Căn cứ vào phương án đã xây dựng, từng bước biện soạn động tác,

thiết kế đội hình, hoàn thành biên soạn động tác toàn bài.

3.1.5. Thử nghiệm và sửa chữa

236

Sau khi thiết kế xong bài hoàn chỉnh, thông thường sẽ mất một khoảng

thời gian trưng cầu ý kiến chuyên gia và ý kiến liên quan khác, sau đó tiến

hành sửa chữa thêm một lần nữa đối với đã dựng ban đầu.

Đối tượng thử nghiệm có thể là người biểu diễn hoặc cúng có thể là

người biện soạn hay những người tham gia tập luyện khác, tiến hành ghi

chép, nghiên cứu đối với quá trình thử nghiệm, nhằm cung cấp cơ sở cho quá

trình sửa chữa sau này. Trong quá trình thử nghiệm cần giải quyết được các

vấn đề sau:

- Động tác toàn bài có phù hợp hay không với phương án tổng thể, có

thể hiện được hay không nhiệm vụ mục đích của quá trình biên soạn.

- Độ khó, dễ của động tác ra sao.

- Lượng vận động và tiết tấu của toàn bài có hợp lý, khoa học hay

không.

- Đường đi, phương hướng của động tác, tư thế động tác kết thúc có

qui phạm ( chuẩn mẫu) hay không.

3.1.6. Mô tả và vẽ hình

Trên cơ sở trưng cầu ý kiến, tiến hành sửa chữa và đúc kết lại phương

án cuối, sau đó mô tả bằng chữ và vẽ hình giải thích. Khi mô tả cần chuẩn

xác, rõ ràng, phù hợp với yêu cầu đối với thuật ngữ động tác. Như vậy người

thực hiện mới hiểu rõ đường đi, phương hướng, yêu cầu cụ thể của toàn bộ

động tác, thuận lợi cho quá trình phổ biến và phổ cập. Ghi chép bằng chữ cần

thể hiện đầy đủ các nội dung: tên động tác, tư thế chuẩn bị, động tác từng

nhịp, động tác kết thúc, những điểm lưu ý (yêu cầu động tác).

Khi vẽ hình, phải căn cứ vào ghi chép bằng chữ để vẽ, thông thường

sẽ chỉ thể hiện hình vẽ chính diện động tác kết thúc ở mỗi nhịp, nếu hình vẽ

chính diện không phản ánh được hết động tác, có thể sử dụng thêm hình bên

để bổ trợ, đồng thời dùng mũi tên chú thích đường đi của động tác. Hình vẽ

237

thường bao gồm các nội dung như tư thế chuẩn bị, tư thế động tác kết thúc

của mỗi nhịp.

3.2. Phương pháp biên soạn

3.2.1. Phương pháp thu thập chủ đề động tác

Thu thập chủ đề động tác là tiền đề của quá trinh biên soạn động tác

bài thể dục cổ động. Chỉ khi có được số lượng lớn chủ đề động tác, mới có thể

biên soạn thành các bài phong phú, đa dạng. Phương pháp thu thập chủ đề

động tác bao gồm các dạng dưới đây:

- Phương pháp ghi hình: Ý chỉ người biên soạn thông qua quan sát

những đoạn băng ghi hình có sẵn để tìm chủ đề tương thích. Đây là cách thu

tập thông tin đơn giản nhất, dễ thao tác nhất.

- Phương pháp quan sát: Ý chỉ người biên soạn thông qua quá trình

quan sát tỉ mỉ những hoạt động trong cuộc sống thường ngày, chuyển những

động tác đó thành động tác thể dục cổ động trên khán đài.

- Phương pháp thử nghiệm: Ý chỉ người biên soạn tự mình thử nghiệm

tổ hợp, gia công đối với những kỹ năng đã đạt được thành phương pháp biên

soạn trong thể dục cổ động.

- Phương pháp ghi chép: Ý chỉ người biên soạn thông qua những hình

thức khác nhau thu thập được đề tài liên quan, sau đó dùng bằng chữ hay hình

vẽ ghi chép lại.

3.2.2. Biên soạn động tác đối với từng vị trí trên cơ thể

Biên soạn động tác chi trên

Động tác chi trên của thể dục cổ động trên khán đài bao gồm đồn tác

tay và các động tác biến hóa khác, phương pháp biên soạn chính gồm:

- Phương pháp thay đổi biên độ động tác chi trên.

- Phương pháp thay đổi quĩ đạo động tác chi trên.

- Phương pháp thay đổi tiết tấu động tác chi trên.

- Phương pháp đối xứng động tác chi trên.

238

- Phương pháp thay đổi trình tự động tác chi trên.

Biên soạn động tác thân người và chi dưới

Xuất phát từ đặc điểm vốn có của thể dục cổ động trên khán đài, đa

phần động tác đều được hoàn thành trong tư thế ngồi, do đó động tác của thân

người và chi dưới khá ít, phương pháp biên soạn giống với phần biên soạn

dành cho động tác chi trên.

Biên soạn phối hợp giữa động tác đầu cổ, chi trên, thân người với chi

dưới: Trong quá trình biên soạn động tác thể dục cổ động, ngoài những động

tác chi trên, thì sự phối hợp giữa động tác đầu cổ, chi trên, thân người với chi

dưới cũng là nội dung quan trọng cần được xem xét, chỉ khi có sự kết hợp của

toàn thành phần trên cơ thể, động tác thể dục cổ động mới liên hoàn, an toàn,

đạt được mục đích của biểu diễn. Phương pháp biên soạn phối hợp giữa động

tác đầu cổ, chi trên, thân người với chi dưới gồm:

Phương pháp bảo đảm trọng tâm hợp lý. Phương pháp phù hợp với

nguyên lý kéo dãn cơ.

3.3. Quá trình biên soạn

Là các bước và qui trình thực hiện khi biên soạn động tác thể dục cổ

động. Thực hiện thứ tự các bước dưới đây có thể nâng cao hiệu quả sáng tạo

và chất lượng động tác, đồng thời còn giúp ích cho chúng ta trong quá trình

phân tích kết cấu động tác, thuận lợi cho công đoạn sửa chữa động tác sau

này. Quá trình biên soạn có nhiều dạng, nhưng chủ yếu bao gồm:

3.3.1. Căn cứ vào yêu cầu xác định mục tiêu

Trên cơ sở xác định nhiệm vụ mục tiêu của biên soạn, sau khi tìm hiểu

tình hình chung về đối tượng cũng như đạo cụ và thiết bị sân bãi, thiết lập

mục tiêu tổng thể, hình thành tư tưởng mang tính mục đích cho cả quá trình

biên soạn

Xác định rõ nhiệm vụ, mục đích của biên soạn: do mục đích khi tham

gia thể dục cổ động của các đối tượng có sự khác biệt về độ tuổi, nghề nghiệp,

239

tình trạng sức khỏe, có người tham gia để cỗ vũ cho VĐV mình yêu thích, có

người tham gia với mục đích thi đấu đoạt giải, chính vì vậy người biên soạn

cần phải tìm hiểu rõ ràng, cụ thể tình hình trước khi biên soạn.

Nắm rõ điều kiện trang thiết bị sân bãi: nắm rõ tình hình sân bãi cùng

đạo cụ sẽ giúp ích cho quá trình thiết kế động tác

3.3.2. Lựa chọn và gia công âm nhạc

Âm nhạc đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình biên soạn.

Khi lựa chọn âm nhạc, cần phù hợp với đặc điểm môn thể dục cổ động trên

khán đài, trùng khớp với chủ đề biểu diễn, tiết tấu mới mẻ, sôi động. Tiếp

đến, căn cứ vào mục tiêu biên soạn, đối tượng biên soạn, chốt lại phong cách

âm nhạc, nổi bật đặc điểm của đối tượng biên soạn. Sau khi xác định nhạc

nền, có thể thực hiện xử lý, gia công đối với bài nhạc, nếu cần có thể cắt bỏ,

lắp ghép hay ngắt lời...., nhưng nguyên tắc chung đó là phải bảo đảm được

tính hoàn chỉnh của bài nhạc.

3.3.3. Chọn lựa chủ đề, xác định phong cách

Thông thường, khi xây dựng được khung tổng thể, chọn xong nhạc

nền, thu thập đề tài liên quan, sẽ xác định được phong cách của toàn bài. Thu

thập chủ đề cần dựa trên kinh nghiệm và kiến thức của người biên soạn, vì

vậy đây là quá trình tích lũy lâu dài.

3.3.4. Xây dựng kết cấu chung

Kết cấu chính là khung xương, nó nâng đỡ cho toàn bài. Sau khi xác

định phong cách, thu thập chủ đề, tiếp đến đó là xây dựng khung bao gồm

phần mở đầu, cơ bản, kết thúc, khẩu hiệu, đạo cụ, phối hợp đạo cụ, đội hình di

chuyển...sau đó liệt kê đề cương, bắt đầu biên soạn động tác và khẩu hiệu.

3.3.5. Biên soạn phân đoạn, động tác tổ hợp

Động tác là đơn vị cấu thành cơ bản của bài, là cơ sở của động tác

theo bài. Cùng một phong cách, động tác kết hợp theo thứ tự nhất định sẽ hình

thành động tác tổ hợp, sau đó hình thành nên bài.

240

3.3.6. Điều chỉnh, định hình bài

Sau khi hoàn thành tổ hợp động tác, trước tiên cần luyện tập thử

nghiệm, đưa ra đánh giá và điều chỉnh, từ đó động tác hoàn thiện động tác.

Tập luyện liên tục, xử lý kịp thời những vấn đề xuất hiện trong quá

trình diễn tập, đánh giá hiệu quả toàn diện đối với bài biểu diễn, cuối cùng

xác định động tác và định hình bài.

4. Những lưu ý khi biên soạn thể dục cổ động trên khán đài

4.1. Bảo đảm an toàn

Các động tác dùng trong thể dục cổ động rất an toàn, tốt cho sức khỏe,

tuân theo qui luật phát triển tự nhiên của cơ thể. Do khi biểu diễn, khoảng

cách với người bên cạnh rất gần, lại sử dụng đạo cụ, nên trường hợp này

thường dễ xảy ra xô xát gây chấn thương, vì vậy trong khoảng cách cho phép,

nên tránh xảy ra va chạm với thành viên khác để bảo đảm an toàn.

4.2. Sử dụng đạo cụ hợp lý

Căn cứ vào mục đích biên soạn và tình hình sân bãi thực tế để lựa

chọn đạo cụ sử dụng cho phù hợp. Các đạo cụ thường dùng đó là cây cổ vũ,

quạt, trống, kèn, biểu ngữ, cờ....nên chọn đạo cụ có màu sắc nổi bật và phù

hợp với trang phục.

4.3. Khẩu hiệu phải lành mạnh, có sức hiệu triệu

Thể dục cổ động trên khán đài không thể tách rời với khẩu hiệu,

những khẩu hiệu hay sẽ mang tác dụng kích thích tích cực đến toàn trận đấu.

Khi biên soạn khẩu hiệu, cần bám sát chủ đề, nội dung phải tích cực, mang lại

tác dụng cổ vũ trợ uy đích thực.

4.4. Trình tự động tác và đội hình phải hợp lý

Biên soạn động tác và đội hình rất quan trọng, cần phải xem xét một

cách toàn diện. Căn cứ vào vị trí ngồi và số người tham gia để biên soạn trình

tự thực hiên của động tác và đội hình.

4.5. Nội dung biểu diễn phải mới mẻ

241

Căn cứ vào yêu cầu để thể hiện chủ đề, để đạt được hiệu quả nổi bật,

để lại ấn tượng với người xem. Khi biên soạn nội dụng biểu diễn động tác

phải mới mẻ, tận dụng tối đa đội hình, đạo cụ và khẩu hiểu làm nổi bật chủ đề

yêu cầu trên sân thi đấu.

242

Chương 10

HUẤN LUYỆN THỂ DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN KHÁN ĐÀI

1. Đặc điểm huấn luyện môn thể dục cổ động trên khán đài

VĐV tham gia cổ động trên khán đài khá đông, hơn nữa đa phần các

động tác đều được thực hiện ở tư thế ngồi, nên huấn luyện đối với bộ môn này

nổi bật đặc điểm về tính qui mô, tính kế hoạch, tính tổng thể và tính tư tưởng

1.1. Tính qui mô

Một trong những đặc điểm tiêu biểu của thể dục cổ động trên khán đài

đó là số người tham gia đông, trong giới hạn quân số nhất định, lực lượng này

sẽ cùng thực hiện các động tác, khẩu hiệu, biểu diễn một cách hệ thống, nên

cần tính qui mô cao.

1.2. Tính kế hoạch

Thể dục cổ động trên khán đài là môn thể thao tập thể, huấn luyện thể

dục cổ động trên khán đài là một quá trình có hệ thống. Xác định rõ ràng

nhiệm vụ tổng thể, xây dựng kế hoạch huấn luyện chi tiết, cặn kẽ là mục tiêu

của huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài, là căn cứ bào đảm đạt được

hiệu quả như đã dự đoán. Sau khi xây dựng kế hoạch huấn luyện, cần nghiêm

khắc chấp hành, bố trí hợp lý số người, vị trí, thời gian, bảo đảm cả về chất

lượng, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc. Ngoài ra, kế hoạch công tác còn cần độ

linh động nhất định nhằm bào đảm ứng phó kịp thời với những tình huống

phát sinh bất ngờ, để không ảnh hưởng đến tiến độ huấn luyện của toàn đội.

1.3. Tính tổng thể

Là môn thể thao mang tính tập thể, tính đồng đều tổng thể là mục tiêu

cuối cùng khi huấn luyện các môn này, cũng là tiêu chí đánh giá hiệu quá

huấn luyện đạt hay không đạt và huấn luyện cũng là một quá trình mang đầy

đủ các đặc điểm của tính tổng thể, tính hệ thống. Huấn luyện là một quá trình

có thứ tự của các khâu khép kín, các khâu thành phần cần lấy cái tổng thể vừa

243

làm mục tiêu xuất phát, vừa làm đích cuối cùng hướng đến, trở thành một

tổng thể thống nhất và hài hòa. Người điều khiển trong quá trình huấn luyện

cần chú trọng đến điều này, hướng dẫn người thực hiện với thái độ nhẫn nại,

tận tình và tỉ mỉ.

1.4. Tính tư tưởng

Do thời gian tập luyện dài, quá trình tập sẽ khó tránh khỏi nảy sinh

mệt mỏi, đơn điệu, nhàm chán hay những trạng thái tâm lý khác, nên người

điều khiển phải không ngừng tiến hành công tác tư tưởng trong suốt quá trình

tập, cổ vũ, khích lệ kịp thời, tăng tính tích cực cho người tham gia, khiến buổi

tập được diễn ra dưới bầu không khí vui vẻ, giúp mọi người khắc phục khó

khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của buổi tập.

2. Quá trình huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài

Huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài tương đối phức tạp, nhưng

lại là quá trình có hệ thống và có thứ tự. Thông thường, quá trình huấn luyện

bao gồm những nội dung sau:

2.1. Xác định rõ ràng nhiệm vụ huấn luyện

Xác định rõ nhiệm vụ và mục tiêu là tiền đề và cơ sở để hoàn thành

bất kỳ một công việc nào. Khi tiến hành tập luyện các bài thể dục cổ động,

xác định rõ nhiệm vụ cũng được xem là một trong những yếu tố đầu tiên cần

đáp ứng.

Trước tiên, cần xác định nhiệm vụ tổng thể. Nhiệm vụ tổng thể của thể

dục cổ động trên khán đài là gì? là biểu diễn, thi đấu hay đơn thuần chỉ là hoạt

động cổ vũ cho những VĐV yêu thích, cần phải đạt được mục đích gì hay

hiệu quả như thế nào? quá trình huấn luyện sẽ triển khai các hoạt động xung

quanh vấn đề vừa nêu. Chỉ khi xác định rõ ràng nhiệm vụ, mới có thể xây

dựng được một kế hoạch huấn luyện hiệu quả. Khi đó, người tổ chức, người

thi đấu mới có thể phối hợp ăn ý, cùng nhau hoàn thành kế hoạch, cùng tiến

244

bộ sau mỗi buổi tập, mỗi một giai đoạn, nhằm đạt được hiệu quả huấn luyện

như mong muốn.

2.2. Xác định số người

Căn cứ vào nhiệm vụ thi đấu tổng thể, lựa chọn và xác định điều kiện

của đối tượng tham gia. Căn cứ vào yêu cầu cụ thể của từng bài thi đấu (ví dụ

như giới tính, độ tuổi, tác phong tư tưởng, điều kiện sức khỏe, trình độ kỹ

thuật,...) lựa chọn và xác định số người tham gia, nhằm thuận lợi hơn trong

quá trình tổ chức huấn luyện. Điểm cần chú ý đó là: lựa chọn thêm một số

lượng người tham gia dự bị nhất định, để bổ sung kịp thời với những tình

huống thiếu người bất ngờ xảy ra trên sân.

2.3. Xây dựng kế hoạch huấn luyện

Huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài là quá trình phức tạp và đa

dạng. Với đặc điểm số người tham gia đông nên cần một kế hoạch chi tiết, tỉ

mỉ. Tăng cường khâu lãnh đạo, tổ chức, khơi dậy tính tích cực trong mỗi một

thành viên tham gia cổ động, kịp thời tổng kết, trao đổi kinh nghiệm, nâng

cao hiệu quả huấn luyện là cơ sở vững chắc giúp hoàn thành xuất sắc nhiệm

vụ thi đấu. Kế hoạch huấn luyện thường được chia thành: giai đoạn chuẩn bị,

giai đoạn huấn luyện và giai đoạn thi đấu.

2.3.1 Giai đoạn chuẩn bị

Giai đoạn chuẩn bị là giai đoạn tổ chức huấn luyện, nhằm tạo nền tảng

vững chắc cho giai đoạn huấn luyện sau này. Nhiệm vụ của giai đoạn chuẩn

bị gồm có:

Xây dựng cơ cấu lãnh đạo cấp cơ sở

Xác định rõ ràng nhà tổ chức chính, nhà tài trợ chính, xây dựng tổ

chức đoàn thể nòng cốt, bảo đảm công tác huấn luyện các nội dung triển khai

suôn sẻ.

Chỉ định người phụ trách các nhóm

245

Căn cứ vào nhiệm vụ biên soạn và thiết kế của bài thể dục cổ động

trên khán đài, chỉ định người phụ trách các nhóm, hình thành hệ thống quản lý

cấp cơ sở, nhằm thuận lợi hơn cho quá trình truyền tải thông tin về nhiệm vụ

huấn luyện hay thời gian tập luyện từ cấp trên xuống, đồng thời cũng tạo điều

kiện thuận lợi cho quá trình quản lý, giúp tăng hiệu quả huấn luyện.

Thực hiện công tác tư tưởng

Tiến hành công tác tư tưởng trong tập luyện là khâu quan trọng giúp

hoàn thành nhiệm vụ thi đấu cũng như bảo đảm công tác huấn luyện. Khi mới

bắt đầu tập luyện, đa phần mọi người đều rất hưng phấn nhưng chưa hiểu rõ

hết nhiệm vụ cụ thể của hoạt động lần này, do đó sau khi tiến hành khởi động

chung xong, rất dễ hình thành tâm lý sợ mệt, sợ khổ. Sau một thời gian tập

luyện, lại cảm thấy đơn điệu, chán nản. Vì vậy, công tác tư tưởng là rất quan

trọng và cần thiết. Giới thiệu rõ ràng, cụ thể về nội dung, nhiệm vụ cùng yêu

cầu của buổi tập sẽ giúp người tập xác định rõ nhiệm vụ mình phải đảm nhận,

hiểu được tính tất yếu của sự khó khăn và gian khổ khi tham gia tập luyện

Giai đoạn bồi dưỡng huấn luyện đối với những VĐV nòng cốt, có

kỹ thuật vượt trội

Do số người tham gia đông, rất khó chú ý được đến từng thành viên

trong quá trình tập luyện, vì vậy, bồi dưỡng, chỉ đạo huấn luyện đối với

những VĐV nòng cốt, có kỹ thuật vượt trội là rất quan trọng. Việc bồi dưỡng

này có vai trò nhất định đối với cả quá trình huấn luyện, mang lại tác dụng

thúc đẩy tích cực đối với hiệu quả huấn luyện tổng thể

Làm tốt công tác hậu cần

Bố trí sân bãi, thiết bị âm thanh, đạo cụ, thời gian huấn luyện, đội ngũ

y bác sĩ theo đội..., bảo đảm cho buổi tập được diễn ra suôn sẻ, thuận lợi.

2.3.2 Giai đoạn huấn luyện

246

Giai đoạn huấn luyện là giai đoạn chính của công tác huấn luyện, dựa

trên kế hoạch huấn luyện, điều chỉnh sao cho phù hợp. Giai đoạn huấn luyện

gồm những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Duy trì tập luyện kỹ thuật động tác cơ bản, căn cứ vào nội dung thi

đấu chia thành từng đoạn nhỏ để tập, trước khi tập mỗi đoạn nhỏ, cần bồi

dưỡng cho các VĐV nòng cốt, nắm vững yếu điểm.

- Bồi dưỡng VĐV nòng cốt theo những bước qui định, giúp VĐV nắm

vững và thành thạo phương pháp tập

- Triệu tập các buổi họp, thảo luận theo định kỳ, trao đổi kinh nghiệm

huấn luyện, phản hồi hiệu quả huấn luyện, điều chỉnh kịp thời kế hoạch huấn

luyện.

- Căn cứ vào nhu cầu huấn luyện, lấy huấn luyện theo nhóm làm hình

thức chính, bố trí, sắp xếp huấn luyện sao cho phù hợp, có kế hoạch.

- Thực hiện công tác tư tưởng: đối với giai đoạn này, sau khi bước vào

tập luyện động tác cho thi đấu, người tham gia thông thường sẽ rất tích cực,

nhưng sau khi đã nắm vững được động tác, lại rất dễ hình thành tâm lý mệt

mỏi,; đối với những động tác có yêu cầu cao, hoặc khi phát hiện ra vấn đề cần

sửa đổi động tác mới, họ rất dễ phát sinh tâm lý chán nản; khi có một chút

thành tích, có người sẽ kiêu ngạo, tự mãn; khi bị phê bình kém hơn những

đơn vị khác, lại nảy sinh thái độ bi quan, tiêu cực, thất vọng. Đối với những

tình huống kể trên cần có biện pháp sử lý kịp thời, làm tốt công tác cổ vũ

tuyên truyền khi tập luyện, kích thích, khơi dậy tình cảm tư tưởng của người

tập, biểu dương đối với những người thực hiện tốt, chỉnh sửa đối với những

trường hợp chưa đạt yêu cầu. Người tổ chức cũng cần sâu sát từ tập luyện đến

sinh hoạt hằng ngày của VĐV, giải quyết các vấn đề thực tế, cố gắng xây

dựng một môi trường tập luyện, sinh hoạt lành mạnh cho những người tham

gia thi đấu.

247

2.3.3 Giai đoạn thi đấu

Giai đoạn thi đấu là giai đoạn hoàn thiện của nhiệm vụ huấn luyện,

nhiệm vụ chính của nó đó là phát huy trình độ tốt nhất, đạt được mục đích thi

đấu.

Trước khi thi đấu cần mở một cuộc họp, hội ý, tiến hành phân công và

kiểm tra đối với các khâu chuẩn bị, bao gồm xác định thời gian thi đấu, địa

điểm tập kết, vị trí chỉ huy của từng nội dung, đồng phục thi đấu, phân phát và

bảo quản dụng cụ, bố trí sân bãi, giao thông, vệ sinh an toàn....Sau khi kết

thúc trận đấu, phải tổng kết và chuẩn bị cho công tác tiếp theo.

2.4. Thực thi kế hoạch huấn luyện

Chấp hành nghiêm chỉnh đối với kế hoạch huấn luyện đã đề ra, thực

hiện có thứ tự đối với từng giai đoạn, hoàn thành nhiệm vụ của mỗi giai đoạn,

từng bước rút ngắn khoảng cách đến mục tiêu cuối cùng.

Trong quá trình tiến hành huấn luyện chắc chắn sẽ nảy sinh một số

vấn đề không nằm trong dự kiến, cần có biện pháp xử lý thời, điều chỉnh sao

cho phù hợp với kế hoạch của giai đoạn đang thực hiện cũng như kế hoạch

của giai đoạn kế tiếp, kiểm nghiệm hiệu quả ngay trong thực tiễn, có phản hồi

kịp thời đối với hiệu quả huấn luyện, đưa ra những sửa đổi hợp lý đối với kế

hoạch huấn luyện. Trong tình huống thực tế này, cần điểu chỉnh, không ngừng

đưa ra các thay đổi để phù hợp hơn với thực tiễn huấn luyện, từ đó tiếp tục

thực thi kế hoạch, mang về hiệu quả huấn luyện tốt nhất.

3. Nội dung và phương pháp huấn luyện thể dục cổ động trên

khán đài

Thể dục cổ động trên khán đài được hợp thành từ các yếu tố: khẩu

hiệu, động tác, âm nhạc, đạo cụ, người điều khiển...quá trình huấn luyện cũng

được triển khai xung quanh những nội dung đó, đồng thời kết hợp các phương

pháp giảng giải, thị phạm, sửa sai, tổng thể và phân chia, lặp lại...tiến hành

huấn luyện.Nhưng điểm khác biệt so với các nội dung thể dục cổ động khác ở

248

chỗ: động tác, khẩu hiệu hay sử dụng đạo cụ đều được hoàn thành dưới sự chỉ

huy của người điều khiển, bất luận là trong tập luyện hay thi đấu, điều này

đều được thể hiện rõ nét trong phương pháp huấn luyện.

3.1. Huấn luyện động tác

Động tác là đơn vị cơ bản cấu thành bài, là cơ sở của bài, huấn luyện

động tác cũng được xem là khâu quan trọng của quá trình huấn luyện. Trong

quá trình huấn luyện động tác thể dục cổ động trên khán đài, chủ yếu sử dụng

các phương pháp giảng giải, thị phạm, lặp lại, phân chia, tập trung để tập các

động tác đơn lẻ, từng phần và toàn bài.

Để nắm rõ động tác, thường sử dụng theo trình tự các bước như sau:

tiến hành tập luyện đối với các động tác của thể dục cổ động trên khán đài,

sau đó mô tả cụ thể từng phương pháp tập

3.1.1. Tập động tác cơ bản và động tác riêng lẻ

Trong quá trình tập động tác cơ bản và động tác riêng lẻ của thể dục

cổ động trên khán đài, hình thức tập luyện chính thường sử dụng đó là huấn

luyện tập thể và huấn luyện theo nhóm, sử dụng kết hợp với phương pháp

giảng giải, thị phạm, lặp lại, từ đó nâng cao kỹ thuật động tác cơ bản, xây

dựng nền tảng vững chắc cho khâu hoàn thành động tác riêng lẻ sau này.

Phương pháp tập động tác riêng lẻ cơ bản tương tự như tập động tác

cơ bản, nhưng căn cứ vào động tác giống hay khác nhau để sử dụng phương

pháp huấn luyện thị phạm cá nhân hay thị phạm tập thể. Đối với quá trình

giảng giải động tác, đặc biệt đối với những động tác khác nhau, cần giải thích

rõ ràng yêu cầu động tác của từng cá nhân, bao gồm phương hướng, quá trình

động tác, yếu lĩnh, qui cách và nhịp phách của động tác. Sau khi giải thích cặn

kẽ mới từng bước thực hiện. Sau đó, chủ yếu là thành thục động tác và huấn

luyện củng cố, ở giai đoàn này sử dụng kết hợp với nhịp hô bình thường,

nhanh, chậm hoặc động tác chậm để chỉnh sửa, mục đích cuối cùng là đạt đến

yêu cầu cần có của động tác, hình thành tự động hóa của động tác.

249

Các ví dụ đối với động tác cơ bản:

Động tác cơ bản tay không: Tay trên cao, một tay chếch trên bên, tay

về trước...yêu cầu động tác mạnh mẽ, dứt khoát, thông qua tập luyện nâng cao

kỹ thuật khống chế cơ thể.

Động tác cơ bản với đạo cụ: Điểm quạt, mở quạt, đóng quạt, nâng cao

khả năng vận dụng quạt, nhằm thuận lợi cho việc nắm bắt động tác riêng lẻ.

3.1.2. Động tác thành phần và động tác toàn bài

Tập các động tác thành phần và động tác toàn bài đa phần sử dụng kết

hợp với phương pháp huấn luyện tập trung, khi muốn nâng cao chất lượng

động tác, có thể sử dụng phương pháp phân chia.Trong các buổi tập hằng

ngày, cần duy trì thực hiện theo số lần đã qui định.

Tập luyện đối với động tác và khẩu hiệu cần thực hiện đều đặn mỗi

ngày, tiến hành kiểm tra định kỳ đối với chất lượng huấn luyện, nhằm thúc

đẩy huấn luyện, nâng cao chất lượng động tác

Tóm lại, bất luận là đang tập ở giai đoạn nào, tập động tác cơ bản hay

động tác toàn bài, đều phải đưa ra yêu cầu cụ thể đối với động tác, từ đó nâng

cao khả năng thành thục động tác, qui cách động tác, chất lượng hoàn thành

động tác, nhằm đạt được hiệu quả hoàn thiện bài biểu diễn một cách hoàn mĩ,

đó cũng chính là mục đích của huấn luyện động tác.

3.2.Tập hô khẩu hiệu

Khẩu hiệu là thành phần không thể thiếu của thể dục cổ động trên

khán đài, nó không chỉ trực tiếp phản ánh được chủ đề, mà còn là nguồn động

lực trực tiếp giúp cổ vũ, trợ uy cho các VĐV. Do đó tập hô khẩu hiệu cũng vô

cùng quan trong trong huấn luyện các động tác theo bài. Xuất phát từ những

những nhiệm vụ huấn luyện khác nhau trong từng giai đoạn, các phương pháp

tập luyện chính thường dùng bao gồm:

250

3.2.1. Giai đoạn sơ cấp

Đối với giai đoạn sơ cấp, chỉ yêu cầu mọi người nhớ kỹ khẩu hiệu, do

đó chủ yếu sử dụng phương pháp huấn luyện lặp lại, không ngừng nhấn mạnh,

giúp VĐV nhanh chóng thành thục và nắm vững khẩu hiệu. Đồng thời, cũng

cần có yêu cầu đói với nhịp điệu, ngữ âm và âm điệu của khẩu hiệu.

3.2.2. Giai đoạn trung cấp

VĐV đã rất thành thục với khẩu hiệu, lúc này chủ yếu sử dụng

phương pháp tập với tốc độ chậm và nhịp điệu bình thường, chú trọng đến các

dấu ngắt câu, điểm dừng sao cho hợp lý, không ngừng nâng cao hiệu quả về

sức vang và sự đồng đều của khẩu hiệu.

3.2.3. Giai đoạn cao cấp

Sau khi VĐV nắm vững nội dung, ngữ âm, nhịp điệu của khẩu hiệu,

quá trình huấn luyện cần nâng cao được khí phách cũng như sức hiệu triệu

của khẩu hiệu, đạt được hiệu quả lay động người nghe.

Đặc biệt cần chú ý: khẩu hiệu một là phải đều, hai là phải vang, ba là

phải có khí thế, yêu cầu người tham gia phải có bầu nhiệt huyết mãnh liệt. Do

đó, khi tập hô khẩu hiệu, quan niệm của người điều khiển cần quán triệt trước

sau như một, đây cũng chính là cái gốc vững chắc giúp bảo đảm mang về hiệu

quả huấn luyện như mong đợi. Nhưng do đặc điểm khẩu hiệu được phát thanh

từ cổ họng, nên người điều khiển cần chú ý song song với quá trình theo đuổi

hiệu quả huấn luyện, vẫn phải bảo đảm không gây tổn thương đến cổ họng

của người tham gia, không nên chỉ vì thành tích, mà không màng đến tình

hình sức khỏe của VĐV. Đối với vấn đề này, người chỉ huy cần thực hiện

được 2 điểm dưới đây: Thứ nhất, yêu cầu VĐV phát thanh từ đan điền

(khoang bụng), cố gắng tránh trường hợp sử dụng cổ họng để hô, từ đó giảm

bớt tổn thương cho cổ họng; thứ hai, phải chú ý nghỉ ngơi đầy đủ. Cần điều

chỉnh lượng vận động thích hợp, khiến VĐV có thể tập trung đầu tư cho tập

luyện từ đó đạt được hiệu quả, mà lại không gây tổn thương đến cổ họng.

251

3.3. Tập phối hợp giữa động tác với âm nhạc, người điều khiển

Trong động tác toàn bài thể dục cổ động trên khán đài, ngoài thi đấu

thực hiện động tác dưới nền nhạc ra, một kiểu khác đó là reo hò khẩu hiệu

dưới sự chỉ huy của người điều khiển. Do đó, trong toàn bộ quá trình tập

luyện, tiết tấu của nhạc nền cùng sự chỉ huy của người điều khiển vô cùng

quan trọng. Trong giai đoạn sơ cấp của huấn luyện, hầu hết các khâu của quá

trình tập đều được thực hiện dưới khẩu lệnh của người điều khiển. Cùng với

sự nâng cao tính thành thục của động tác, một số động tác theo nhạc được

phối hợp thực hiên cùng nhạc nền, yêu cầu VĐV phải học thuộc các giai điệu,

tiết tấu của từng đoạn nhạc, sử dụng phương pháp vừa hát vừa thực hiện động

tác để thay cho khẩu lệnh của người điều khiển, sau đó dưới sự kết hợp của

nhạc nền, từng bước hoàn thành các động tác theo nhạc một cách độc lập, có

cảm xúc, chất lượng cao.

Người điều khiển có vị trí cực kỳ quan trọng trong màn biểu diễn thể

dục cổ động trên khán đài, họ trực tiếp khống chế đối với điểm ngắt, nghỉ của

khẩu hiệu; đối với cách sử dụng, cầm nắm, đặt để của đạo cụ; đối với sự liên

hoàn của phần nhỏ các động tác. Do đó, động tác nào biểu thị cầm đạo cụ,

động tác nào biểu thị thu đạo cụ, động tác nào biều thị bắt đầu của khẩu hiệu

hay nhắc nhở chuẩn bị đến động tác theo nhạc...đều cần được lặp lại liên tục

suốt quá trình tập luyện, hình thành định hình, khi người điều khiển ra dấu

hiệu, người tham gia phải nhanh chóng thực hiện động tác một cách đều đặn,

một khi cả hai nhập thành một, sẽ đạt được hiệu quả phối hớp cực kỳ ăn ý

Dưới đây là ví dụ cụ thể của “ một đoạn nhạc + một đoạn khẩu hiệu”,

giới thiệu khái quát về những phần cần sự chỉ huy của người điều khiển.

Tư thế chuẩn bị:

Khi trên sân đã bày sẵn đạo cụ, các công tác chuẩn bị trước thi đấu

cũng sẵn sàng, người điều khiển ra dấu hiệu, có tác dụng tập trung sự chú ý

của những người tham gia, báo cho VĐV biết cuộc thi sắp sửa diễn ra.

252

Bắt đầu mở nhạc

Khi chuẩn bị bắt đầu, người điều khiển ra dấu hiệu cho người bật nhạc,

nhắc nhở mở nhạc.

Bắt đầu thực hiện động tác

Khi nhạc vang lên, người điều khiển ra dấu hiệu, biểu thị chuẩn bị

thực hiện động tác.

Chuẩn bị phần khẩu hiệu

Phần nhạc sẽ tự động kết thúc theo nhạc nền đã chọn, người điều

khiển ra dấu hiệu, biểu thị chuẩn bị phần hô khẩu hiệu, ở thời gian này, người

tham gia có thể thay đổi đạo cụ, chuẩn bị cho phần khẩu hiệu sắp bắt đầu.

Bắt đầu phần khẩu hiệu

Người điều khiển ra dấu hiệu, người tham gia bắt đầu thực hiện động

tác theo khẩu hiệu đồng thời kết hợp hô khẩu hiệu.

Kết thúc hô khẩu hiệu và bỏ đạo cụ xuống

Khi phần hô khẩu hiệu kết thúc, người điều khiển ra dấu hiệu, người

tham gia cùng nhau bỏ đạo cụ xuống.

Trong thi đấu chính thức, các đội tham gia thường thiết kế chia động

tác có nhạc và khẩu hiệu thành nhiều phần khác nhau, thực hiện xen kẽ. Do

đó, nhiệm vụ của người điều khiển cũng hết sức quan trọng, kết hợp giữa

động tác với nhạc, thậm chí là kết hợp giữa ra dấu hiệu của người điều khiển

với động tác cũng cần thực hiện lặp lại liên tục, cuối cùng hình thành nên một

khối thống nhất, nhịp nhàng và liên hoàn.

3.4. Tập đội hình và động tác phối hợp

Tập đội hình và động tác phối hợp được xây dựng trên nền tảng các

động tác cơ bản, những người tham gia cùng nhau phối hớp thực hiện thực

hiện. Vì vậy, về phương pháp tập cần chú trọng hơn đối với tinh thần hợp tác,

quá trình hợp tác này bao gồm phối hợp thay đổi xen kẽ giữa các đạo cụ, phối

hợp của tạo hình động tác, phối hợp của động tác đứng lên, ngồi

253

xuống....Trong quá trình tập thường sử dụng phương pháp lặp lại có mục đích.

Ví dụ như lần lượt đứng lên ngồi xuống hình thành nên sóng từ phải sang

trái.Yêu cầu mọi người lần lượt đứng lên, ngồi xuống, thấy người phía trước

đứng lên, người kế tiếp sẽ tự động ngồi xuống, cứ như vậy thực hiện tuần tự

cho đến hết.

4. Tổ chức huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài

Cùng với mức độ tiến triển của công tác huấn luyện, căn cứ vào yêu

cầu giải quyết của từng nhiệm vụ, nên sử dụng các hình thức tổ chức tập

luyện khác nhau, chủ yếu gồm những loại sau:

4.1. Tập theo nhóm nhỏ

Tập theo nhóm nhỏ là hình thức tập động tác theo từng nhóm trên một

phạm vi nhất định, đây là hình thức tập luyện cơ bản nhất. Khi tập luyện theo

hình thức này, cần thực hiện tất cả các động tác mà nhóm sẽ tham gia trong

quá trình biểu diễn, giúp ích cho VĐV nắm vững động tác và nâng cao chất

lượng động tác.

4.2. Tập theo từng khu

Tập theo từng khu ý chỉ tiến hành tập luyện kết hợp trong một phạm

vi nhất định giữa 2 hoặc 2 nhóm nhỏ trở lên. Kiểu tập này chủ yếu để giải

quyết những động tác mà một đơn vị riêng lẻ không thể hoàn thành hoặc

những động tác cần sự phối hợp của các nhóm với nhau. Phương pháp này

được sử dụng trong khi tập phối hợp, tạo hình cho động tác

4.3. Tập phối hợp

Tập phối hợp ý chỉ trên cơ sở của tập tập theo nhóm và theo từng khu,

phối hợp liên kết một phần nào đó của các nhóm lại với nhau. Mục đích chính

nhằm giải quyết tất cả phối hợp và tạo hình của một phần nào đó, kiểm tra

hiệu quả của tập luyện với biểu diễn, từng bước hoàn thiện phương án, cùng

nhau quan sát, cải tiến, nâng cao.

254

4.4. Tập phối hợp với chỉ huy

Chỉ huy trong thể dục cổ động trên khán đài bao gồm chỉ huy của âm

nhạc và chỉ huy của người điều khiển. Tập phối hợp với chỉ huy chủ yếu giải

quyết vấn đề phối hợp giữa động tác với âm nhạc, giữa người tham gia với

người điều khiển. Thông qua quan sát, học hỏi, khích lên khiến động tác với

âm nhạc, người điều khiển với người thực hiện đạt được sự phối hợp ăn ý, tạo

thành một thể thống nhất.

4.5. Tập liên kết

Tập liên kết ý chỉ tập kết nối từng phần của động tác với khẩu hiệu

căn cứ theo phương án biên soạn đã có, chủ yếu giải quyết vấn đề về thứ tự và

liên kết giữa các phần với nhau. Đây là sự nổi bật hiệu quả của tổng thể, trong

quá trình tập luyện cần điều chỉnh, cải tiến, từ đó thể hiện được hiệu quả tối

ưu của thể dục cổ động trên khán đài.

255

Chương 11

TỔ CHỨC THI ĐẤU, QUI TRÌNH VÀ QUI TẮC CHẤM ĐIỂM THỂ

DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN KHÁN ĐÀI

1. Tổ chức thi đấu

1.1. Cơ cấu tổ chức thi đấu môn thể dục cổ động trên khán đài

1.1.1. Trù bị nội dung hội nghị liên tịch

Sau khi xác định tính chất và qui mô của giải thi đấu, đơn vị tổ chức

hoặc người đại diện chính sẽ triệu tập hội nghị liên tịch các đơn vị và thành

viên liên quan. Nội dung chính của hội nghị sẽ là thương lượng và xác thực

những vấn đề cụ thể liên quan đến giải đấu, bao gồm xác định đơn vị tổ chức

chính và nhà tài trợ, nguồn kinh phí, thời gian, địa điểm thi đấu và qui mô giải

đấu. Thành lập ban trù bị, xác định thành viên, phân công cụ thể nhiệm vụ

cho từng thành viên.

1.1.2. Xây dựng cơ cấu tổ chức

Căn cứ vào qui mô của giải đấu, thành lập cơ cấu tổ chức tương ứng.

Thông thường sẽ do đơn vị tổ chức chính và đơn vị thực hiện cùng thương

lượng xác định thành viên Ban Tổ Chức, bao gồm người phụ trách của đơn vị

tổ chức, người phụ trách của nhà tài trợ, người phụ trách của đơn vị thực hiện,

các nhà chức trách liên quan cùng tổng trọng tài trưởng. Ban tổ chức thường

bố trí 1 chủ nhiệm, 2 phó chủ nhiệm, một số nhân viên. Đây là cơ cấu lãnh

đạo cao nhất của đại hội thi đấu, dưới đó là các cơ cấu ban ngành liên quan

khác. Căn cứ vào qui mô của giải đấu, thành lập thêm một vài bộ phận khác.

Đối với các giải đấu có qui mô lớn hoặc mang giải đấu mang tính tổng hợp,

các bộ phận sẽ được phân công rõ ràng với từng nhiệm vụ cụ thể. Đối với

những giải đấu có qui mô nhỏ hơn, có thể chỉ cần bố trí một vài người phụ

trách từng mảng riêng biệt.

256

1.2. Triệu tập buổi họp của trưởng đoàn và huấn luyện viên

1.2.1. Buổi họp của trưởng đoàn và huấn luyện viên

Triệu tập buổi họp dành cho trưởng đoàn và huấn luyện viên là nội

dung quan trọng của giải đấu, là một trong những phương pháp trao đổi trực

tiếp giữa những đội tham gia với nhà tổ chức cùng trọng tài, cả hai bên đều

cần đặc biệt chú trọng. Thông thường sẽ do nhà tổ chức chủ trì, những người

phụ trách liên quan và trọng tài trưởng sẽ cùng tham gia, thường được bố trí

trước các trận đấu

1.2.2. Nội dung buổi họp

Giới thiệu động thái phát triển mới nhất hiện nay của giải đấu, phương

hướng phát triển cũng như tính hình chuẩn bị của giải lần này.

Giới thiệu người phụ trách và nhân viên chính của các bộ phận.

Tuyên bố các qui định liên quan và lịch trình thi đấu.

Giải đáp và giải quyết các vấn đề liên quan do đội tham dự đề xuất. Ví

dụ như vấn đề sinh hoạt, sắp xếp lịch thi đấu cùng các qui định khác. Nếu vấn

đề liên quan đến luật và phương diện kỹ thuật quá nhiều, có thể triệu tập thêm

một cuộc họp kỹ thuật khác dành cho trưởng đoàn và huấn luyện viên, trong

trường hợp đó, trọng tài trưởng là người giải đáp mọi thắc mắc liên quan.

Rút thăm xác định thứ tự ra sân thi đấu. Nếu thời gian cho phép, nên

sr dụng phương pháp rút thăm công khai, do các đội tự tiến hành. Nếu thời

gian không cho phép, có thể tiến hành rút thăm trước, nhưng bắt buộc phải

được thực thi dưới sự giám sát của thành viên ban tổ chức cùng những người

phụ trách liên quan, chỉ định người rút thăm thay. Sau giải đấu cũng có thể tổ

chức buổi họp dành cho trưởng đoàn và huấn luyện viên, nội dung chính bao

gồm trao đổi kinh nghiệm và các vấn đề liên quan sau giải.

2. Qui trình thi đấu của thể dục cổ động trên khán đài

2.1. Khái niệm qui trình thi đấu

257

Qui trình thi đấu là văn kiện mang tính chỉ đạo quan trọng đối với tổ

chức giải đấu, là cơ sở của công tác trù bị cho giải đấu, cũng là tiêu chuẩn mà

đơn vị tham gia thi đấu, VĐV, huấn luyện viên cùng trọng tải bắt buộc phải

tuân thủ. Qui trình thi đấu do đơn vị tổ chức xây dựng, thông thường phải

phát cho các bô phận liên quan ít nhất là 3 tháng trước ngày thi đấu, nhằm tạo

thời gian chuẩn bị cho các đội tham gia.

2.2. Nội dung của qui trình thi đấu thể dục cổ động trên khán đài

Bao gồm:

- Đơn vị tổ chức: Chú thích rõ ràng đơn vị tổ chức.

- Đơn vị thực hiện: Chú thích rõ ràng đơn vị thực hiện.

- Đơn vị tài trợ: Chú thích rõ ràng đơn vị tài trợ.

- Thời gian thi đấu: Xác định thời gian thi đấu cụ thể.

- Địa điểm thi đấu: Xác định địa điểm tổ chức thi đấu.

- Nội dung thi đấu: Xác định nội dung thi đấu (chia thành động tác qui

định và động tác tự chọn).

- Tư cách đối tượng tham gia giải:Xác định tư cách đối tượng tham gia

giải (số người, phạm vị, tỉ lệ nam, nữ...).

- Cách thức thi đấu:Tình hình phân nhóm: Như các nhóm cơ quan,

đoàn thể xã hội, bộ đội, công nhân, nông dân, học sinh...

- Căn cứ vào tình hình đăng kí của các đội quyết định vòng đấu loại

hay chung kết, thứ tự thi đấu có thể dùng hình thức rút thăm.

- Điểm biểu diễn tối đa: 10 điểm hoặc 100 điểm.

- Thời gian biểu diễn: 2 phút đến 2 phút 30 giây hoặc căn cứ vào tình

hình thực tế quyết định.

- Yêu cầu biểu diễn: Người biểu diễn phải có nhiệt huyết, động tác

phải đều, khẩu hiệu vang rõ, phối hợp ăn ý, biểu diễn phong phú đa dạng, có

sức lôi cuốn.

258

- Yêu cầu đạo cụ: Đạo cụ phải bắt mắt, rực rỡ, nổi bật trọng điểm, nổi

bật chủ đề đồng thời phù hợp với tinh thần giải đấu.

- Yêu cầu phục trang: Màu sắc và kiểu cách của phục trang không giới

hạn, chủ yếu sản sinh được hiệu quả thị giác tốt, có tác dụng bổ trợ cho bài

biểu diễn.

- Yêu cầu khẩu hiệu: Có thể tự biên soạn khẩu hiệu và bài hát của thể

dục cổ động, nội dung cần lành mạnh, tích cực, không được dùng còi, trống

hay các nhạc cụ dân tộc và phương tây khác.

- Hình thức khen thưởng: Căn cứ vào điểm số của các đội tham dự thi

đấu, quyết định số lượng các đội đạt điểm dẫn đầu.

- Cách thức ghi danh: Qui định thời gian, địa điểm và yêu cầu khi ghi

danh

- Các trường hợp liên quan khác:Các trường hợp liên quan khác nếu

có thay đổi sẽ được ban tổ chức thông báo sau.

3. Qui tắc cho điểm môn thể dục cổ động trên khán đài

3.1. Nhân tố đánh giá

3.1.1 Biên soạn tổng thể

Nội dung biên soạn động tác toàn bài lành mạnh, tích cực, kết hợp đạo

cụ hợp lý, thiết kế động tác đẹp, có sức sáng tạo, tính thưởng thức , thể hiện

rõ nét tinh thần tập thể, có sức lôi cuốn và hiệu triệu. Nghiêm cấm các động

tác biên soạn chủ đề bạo lực, tín ngưỡng tôn giáo, kỳ thị chủng tộc...

3.1.2. Mức độ hoàn thành

Tổng thể hoàn mĩ, tiết tấu rõ ràng, diện mạo tinh thần tốt, khẩu hiệu

vang rõ, động tác đều, phối hợp giữa các thành viên ăn ý, nổi bật tinh thần tập

thể, đạt được mục đích tăng bầu không khí sôi động trên sân.

3.1.3. Biểu diễn và ấn tượng chung

259

Biên soạn và biểu diễn liên hoàn, chủ đề tươi mới, phong cách biểu

diễn và yêu cầu thi đấu đồng nhất, biểu diễn có sức lôi cuốn nhất định, diện

mạo tinh thần của đội cao, có nét đặc sắc, điều động được không khí trên sân.

3.1.4. Tác phong người điều khiển

Chỉ huy của người điều khiển cần dứt khoát, quyết đoán, điều động

được không khí cua toàn đội, có sức hiệu triệu.

3.2. Thang điểm đánh giá (tổng điểm: 100)

3.2.1 Điểm biên soạn tổng thể (điểm tối đa: 30 điểm)

Biên soạn tổng thể bao gồm thiết kê động tác, đội hình, tính sáng tạo,

hợp lý trong nội dung biểu diễn cũng như tính hợp lý trong kết hợp đạo cụ.

- Thiết kế động tác, đội hình (10 điểm).

Thiết kế đội hình phù hợp với tình hình thực tế trên sân và yêu cầu

giải đấu. Tuyên truyền tinh thần của giải, có thể cổ vũ, trợ uy cho hoạt động

thi đấu trên sân, tạo bầu không khí sôi động.

- Nội dung biểu diễn có sáng tạo, hợp lý (10 điểm).

Nội dung biểu diễn cần mới mẻ, có tính sáng tạo, biểu diễn trên sân

cần hợp lý, có nội dung lành manh, tích cực

-Phục trang , kết hợp của đạo cụ hợp lý (10 điểm).

Kết hợp giữa đạo cụ với phục trang biểu diễn cần hài hòa, đơn giản,

tay cầm đạo cụ phải bắt mắt, vận dụng và thay đổi đạo cụ phong phú, đa dạng.

3.2.2. Điểm hoàn thành (điểm tối đa: 30 điểm)

Gồm hai thành phần chính đó là: quá trình hoàn thành động tác đều,

âm thanh khẩu hiệu vang, rõ; phối hợp giữa các đồng đội ăn ý, thể hiện tinh

thần hợp tác tập thể.

- Âm thanh khẩu hiệu vang rõ, động tác hợp lý, đều (15 điểm).

- Các VĐV phối hợp ăn ý, ý thức hợp tác tập thể cao (5 điểm).

3.2.3. Điểm thể hiện và ấn tượng chung (điểm tối đa: 30 điểm)

Gồm 3 thành phần chính sau:

260

- Sức mạnh, sức lôi cuốn, sức hiệu triệu (10 điểm): động tác hết biên

độ, có lực, màn biểu diễn có sức lôi cuốn và sức hiệu triệu cao.

- Tổng thể bài biểu diễn liên hoàn, chủ đề tươi trẻ, có nét đặc sắc ( 10

điểm): toàn bài biểu diễn thông suốt, liên hoàn, nổi bật được tư tưởng và tinh

thần của giải đấu.

- Ý thức văn minh của toàn đội (10 điểm): sân thi đấu sạch sẽ, có văn

hóa, đoàn kết, coi trọng lễ nghi, có đạo đức.

3.2.4. Điểm cho tác phong người điều khiển (10 điểm)

Gồm hai thành phần chính sau:

- Người điều khiển chỉ huy có thứ tự, quyết đoán (5 điểm): trong quá

trình biểu diễn, động tác chỉ huy của người điều khiển cần dứt khoát, chỉ huy

một cách có thứ tự các bài biểu diễn, sử dụng đạo cụ cũng như biến hóa đội

hình.

- Điều động được không khí toàn đội (5 điểm) : khi biểu diễn, người

điều khiển thông qua khẩu lệnh và ngôn ngữ cơ thể để điều chỉnh kịp thời tinh

thần của toàn đội, khiến toàn đội phát huy được trình độ kỹ thuật tốt nhất.

3.2.5. Tổng điểm

Là tổng của các điểm thành phần nêu trên.

3.3. Thành phần ban trọng tài

Ban trọng tài làm việc dưới sự điều hành của ban tổ chức, nhiệm vụ

chính đó là giám sát và đôn đốc các trọng tài chấp hành nghiêm chỉnh theo

điều lệ và luật thi đấu, xử lý các tình huống liên quan khác. Ban trọng tài

thường có 10-12 người, trong đó có 1 trọng tài trưởng, 5-7 trọng tài, 1 người

bấm giờ, 1 người phất cờ, 2 thư kí.

3.4. Tình hình thi đấu khác

3.4.1. Cảnh cáo

Đưa ra cảnh cáo đối với các trường hợp dưới đây:

- VĐV trên khán đài không nghe theo sự chỉ huy của giải.

261

- VĐV có hành vi thiếu văn hóa, biểu ngữ và khẩu hiệu không phù

hợp với tinh thần giải đấu.

- Không tôn trọng trọng tài và những người phụ trách liên quan khác.

- Phục trang không phù hợp với yêu cầu của giải.

3.4.23. Xử phạt

Xử phạt đối với những người có những hành vi đạo đức trái với tinh

thần thể thao, không công nhận thành tích và có thông báo đến các bộ phận

liên quan khác.

3.4.3. Tình huống đặc biệt

Do thiết bị sân bãi hay những tình xảy ra trên sân khác dẫn đến ngừng

thi đấu hoặc hiện tượng tạm nghỉ không thuộc phạm trù trách nhiệm của VĐV,

trong trường hợp này sẽ do trọng tài trưởng quyết định bắt đầu lại trận đấu.

262

Chương 12

CÁC ĐỘNG TÁC MẪU TRONG THI ĐẤU THỂ DỤC CỔ ĐỘNG

1. Bài tập 1

1.1. Giới thiệu chung

Bài thể dục cổ động trên khán đài này lấy bông tua làm đạo cụ, động

tác đơn giản, nhanh, khẩu hiệu to rõ, có thể điều động được không khí thi đấu

trên sân, góp phần vào hoạt động cổ vũ, trợ uy cho các cầu thủ.

1.2. Giải thích động tác

Tư thế chuẩn bị: Ngồi, hai tay cầm bông tua đặt trên khớp gối, mắt

nhìn thẳng về trước.

Động tác 1. (hình 12-1)

1-2 7-8

Hình 12-1

Nhịp 1-2: Gập hai tay trước ngực, cẳng tay song song với mặt đất, lần

lượt quay cẳng tay 2 vòng về trước

Nhịp 3-4: Tay trên cao, rung mỗi tay một lần

Nhịp 5-6: Động tác giống nhịp 1-2

Nhịp 7-8: Động tác giống nhịp 3-4

Khẩu hiểu: Olympic cố lên, Việt Nam cố lên!

263

Động tác 2. (hình 12-2)

Hình 12-2

Nhịp 1-2: Gập tay phải trước ngực,cẳng tay vuông góc với mặt đất,

đồng thời tay trái duỗi trước, rung tay 2 lần

Nhịp 3-4: Động tác giống nhịp 1-2 nhưng đổi bên

Nhịp 5-6: Gập cẳng tay vuông góc với mặt đất đồng thời đưa tay ra

trước rung 2 lần

Nhịp 7-8: Hai tay trên cao và rung tay 1 lần

Khẩu hiểu: Oai phong đấu trường, thuộc người cừ nhất!

Động tác 3 và 4: Giống động tác của động tác thứ nhất và hai.

Động tác 5. (hình 12-3)

Hình 12-3

264

Nhịp 1 đến 4: Tay phải cầm bông tua, buông dọc thân người, tay trái

cầm bông tua đặt phía trước, thực hiện động tác sóng nhỏ 4 lần từ trái sang

phải.

Nhịp 5 đến 8: Động tác giống nhịp 1đến 4 nhưng đổi bên

Động tác 6. (hình 12-4)

Hình 12-4

Nhịp 1-2: Hai tay chếch trên phải ,rung tay 2 lần

Nhịp 3-4: Hai tay chếch trên trái, rung tay 2 lần

Nhịp 5-6: Hai tay chếch dưới phải, rung tay 2 lần

Nhịp 7-8: Hai tay chếch dưới trái, rung tay 2 lần

Khẩu hiểu: Oai phong đấu trường, thuộc người cừ nhất !

Động tác 7 và 8: Giống động tác của 8 nhịp thứ năm và sáu.

Động tác 9 và 10: (hình 12-5)

Hai người gần nhau lần lượt đưa hai tay quay một vòng từ trái sang

phải, đồng thời mắt nhìn theo tay, tạo sóng người.

265

Hình 12-5

Động tác 11 và 12: Giống động tác của 8 nhịp thứ 9 và mười, nhưng

đổi bên.

Động tác 13. (hình 12-6)

Hình 12-6

Nhịp 1 đến 8: Hai tay trên cao, rung tay 4 lần

Khẩu hiệu: Olympic cố lên, Việt Nam cố lên!

Động tác 14 (Hình 12-7)

Giống động tác thứ 13

Khẩu hiệu: Oai phong đấu trường, thuộc người giỏi nhất !

266

Hình 12-7

Động tác 15.

Nhịp 1-2: Tay trái chống hông, tay phải đưa lên cao, hạ xuống 2 lần.

Nhịp 3-4: Hai tay quay tròn trước ngực.

Nhịp 5-6: Tay phải chống hông, tay trái đưa lên cao, hạ xuống 2 lần.

Nhịp 7-8: Thực hiện lặp lại giống nhịp 3 – 4.

Động tác 16.

Nhịp 1-2: Hai tay trên cao.

Nhịp 3-4: Hai tay xuống dưới.

Nhịp 5-6: Hai tay đan chéo trước bụng.

Nhịp 7-8: Hai tay chếch dưới bên.

2. Bài tập số 2

2.1. Giới thiệu chung

Bài thể dục cổ động trên khán đài này có động tác đơn giản mang tính

sử dụng cao, lấy khẩu hiệu cộng với vỗ tay làm điểm nhấn nổi bật, cảm giác

nhịp điệu mạnh mẽ, có ích cho quá trình nâng cao hiệu quả của hoạt động cổ

vũ, trợ uy trên sân.

2.2. Giải thích động tác

Tư thế chuẩn bị: Ngồi, hai tay đặt trên khớp gối, ngón tay hướng ra

trước, mắt nhìn thẳng về trước.

267

Động tác 1. (hình 12-8)

Hình 12-8

Nhịp 1-2: Vỗ tay trước ngực 1 lần.

Nhịp 3-4: Động tác giống nhịp 1-2.

Nhịp 5-6: Vỗ tay trước ngực 2 lần.

Nhịp 7-8: Hai tay về trước, dựng ngón tay cái.

Khẩu hiểu: Olympic cố lên, Việt Nam cố lên!

Động tác 2. (hình 12-9)

1-2 3-4 5-8

Hình 12-9

Nhịp 1-2: Vỗ hay tay lên đùi 2 lần, ngón tay hướng về trước.

Nhịp 3-4: Động tác giống nhịp 1-2.

Nhịp 5 đến 8: Hai tay trên cao, rung tay 4 lần.

Khẩu hiểu: Hey hey, tất thắng, tất thắng, tất thắng, tất thắng !

Động tác 3 và 4: Giống động tác của 8 nhịp thứ nhất và hai.

268

Động tác 5. (hình 12-10)

Hình 12-10

Nhịp 1-2: Hai tay trên cao, di chuyển cẳng tay từ phải sang trái, lòng

bàn tay hướng về trước

Nhịp 3-4: Động tác giống nhịp 1-2 nhưng đổi bên

Nhịp 5: Tay trái chếch trên bên, tay phải gập ngang vai

Nhịp 6: Tay phải chếch trên bên, tay trái gập ngang vai

Nhịp 7-8: Giống động tác nhịp 5 và 6

Khẩu hiểu: Olympic cố lên, Việt Nam cố lên!

Động tác 6. (hình 12-11)

Hình 12-11

Nhịp 1-2: Gập tay trái trước ngực, cẳng tay vuông góc với mặt đất, tay

phải chếch dưới trước, lòng bàn tay đối nhau.

269

Nhịp 3-4: Động tác giống nhịp 1-2 nhưng đổi tay.

Nhịp 5 đến 8: Giống động tác nhịp 1 đến 4.

Khẩu hiểu: Hey hey, tất thắng, tất thắng, tất thắng, tất thắng !

Động tác 7 và 8: Động tác giống 8 nhịp thứ năm và sáu.

Động tác 9 và 10. (hình 12-12)

Hình 12-12

Đứng lên, hai chân dang ngang, hai tay trên cao, hai tay di chuyển liên

tục sang trái, sang phải, mỗi chuyển động thực hiện 2 nhịp.

Động tác 11 và 12. (hình 12-13)

Hình 12-13

Ngồi xuống, thực hiện đông tác sóng người từ phải sang trái

Động tác 13 đến 16: Động tác giống 8 nhịp thứ chín đến mười hai

Động tác 17. (hình 12-14)

270

Hình 12-14

Nhịp 1-2: Vỗ tay trước ngực 1 lần

Nhịp 3-4: Động tác giống nhịp 1-2

Nhịp 5 đến 8: Hai tay về trước, dựng ngón tay cái

Khẩu hiểu: Olympic cố lên, Việt Nam cố lên!

Động tác 18 : Động tác giống 8 nhịp thứ mười bảy (Hình 12-15).

Hình 12-15

3. Bài tập số 3

3.1. Giới thiệu chung

Bài thể dục cổ động trên khán đài này tăng thêm tiết tấu thay đổi khi

vỗ tay, hình thành nên phong cách thể dục cổ động trên khán đài vốn có, đồng

thời kết hợp với phần điệp khúc cao trào của bài hát, nhằm tăng không khí

trên sân, khơi giậy tinh thần yêu nước, từ đó tạo hiệu quả cổ vũ, trợ uy, khích

lệ tinh thần cho VĐV thi đấu trên sân

271

3.2. Giải thích động tác

Tư thế chuẩn bị: Ngồi, chân khép, hai tay đặt trên đùi, ngón tay hướng

về trước.

Động tác 1đến 4. (hình 12-16)

Hình 12-16

Nhịp 1đến 8: Vỗ tay trước ngực 12 lần, nhịp điệu vỗ tay như sau:

1 2 3 4 / 5 6 7 8

Động tác 5. (hình 12-17)

Hình 12-17

Nhịp 1: Hai tay trên cao, nắm hờ, lòng bàn tay hướng vào nhau.

Nhịp 2: Gập cẳng tay, nằm hờ, lòng bàn tay áp sát bên tai.

Nhịp 3-4: Hai tay trên cao, xoè rộng ngón tay, lòng bàn tay hướng về

trước.

Nhịp 5-6: Gập cẳng tay, đan chéo trước ngực, thực hiện sóng cẳng tay

một lần.

272

Nhịp 7-8: Hai tay trên cao, nắm hờ, lòng bàn tay hướng vào nhau.

Động tác 6. (hình 12-18)

Hình 12-18

Nhịp 1: Tay phải chếch trên bên, tay trái gập cao ngang tai, xoè rộng

ngón tay, lòng bàn tay hướng về trước.

Nhịp 2: Giống động tác nhịp 1 nhưng đổi bên.

Nhịp 3: Giống động tác nhịp 1.

Nhịp 4: Giống động tác nhịp 2.

Nhịp 5-6: tay phải đặt trước ngực, tay trái buông dọc thân người.

Nhịp 7- 8: Tay phải trên cao, đưa ngón tay trỏ lên, tay trái buông dọc

thân người.

Khẩu hiểu: 1,2,3,4,5, 6, 7, Đội chúng ta dành thứ nhất !

Động tác 7: Giống động tác của 8 nhịp thứ năm.

Động tác 8 : Giống động tác của 8 nhịp thứ sáu.

Động tác 9. (hình 12-19)

Hình 12-19

273

Nhịp 1 đến 8: Giơ tay trên đầu, hai nhịp một chuyển động, gập khớp

khuỷu, di chuyển tay sang trái, phải, đồng thời hát theo nhạc.

Động tác 10. (hình 12-20)

Hình 12-20

Nhịp 1 đến 8: Mỗi hàng bắt đầu từ người bên trái, lần lượt đứng lên,

hai tay di chuyển về trước, lên cao, lòng bàn tay hướng về trước, rung 2 tay,

lần lượt ngồi xuống, hình thành sóng người.

4. Bài tập số 4

4.1. Giới thiệu chung

Bài thể dục cổ động trên khán đài này có động tác phong phú, thiết kế

tỉ mỉ, kết hợp hoàn hảo cùng khẩu hiệu, trong khi tập luyện chú ý kết hợp

giữa cơ thể với tinh thần, thể hiện tinh thần biểu dương, khích lệ đối với các

VĐV thi đấu trên sân.

4.2. Giải thích động tác

Tư thế chuẩn bị: Ngồi, chân khép, hai tay đặt trên đùi, ngón tay hướng

về trước.

Động tác 1. (hình 12-21)

274

Hình 12-21

Nhịp 1 đến 4: Vỗ tay trước ngực 4 lần

Nhịp 5 đến 8: Vỗ tay trước ngực 3 lần, kết hợp khẩu hiệu: Hey, hey,

hey !

Nhịp 8: Bỏ trống.

Động tác 2 đến 4: Giống động tác 8 nhịp thứ nhất.

Động tác 5. (hình 12-22)

Hình 12-22

Nhịp 1- 2: Hai tay trên cao, đan chéo trên đầu sau đó mở ra thành

chếch trên bên, xoè rộng ngón tay, lòng bàn tay hướng về trước.

Nhịp 3: Nắm hờ hai tay, để ở vị trí ngang eo, lòng bàn tay hướng lên

trên.

275

Nhịp 4: Hai tay đấm thẳng về trước, lòng bàn tay hướng xuống dưới.

Nhịp 5- 6: Gập cẳng tay, đan chéo trước ngực, khép các ngón tay, đặt

trên vai.

Nhịp 7-8: Hai tay chếch trên bên, lòng bàn tay đối nhau, các ngón tay

khép.

Động tác 6. (hình 12-23)

Hình 12-23

Nhịp 1 đến 4: Gập hai tay trước ngực, ngón tay cái và bốn ngón còn

lại của mỗi bàn nối vào nhau tạo thành hình trái tim

Nhịp 5- 6: Khép các ngón tay phải, di chuyển theo đường vòng cung

bên trái từ đầu xuống mặt, cằm, tay trái giơ cao qua đầu

Nhịp 7: Gập tay phải trước ngực, cẳng tay vuông góc với mặt đất,

khép các ngón tay, lòng bàn tay hướng ra sau

Nhịp 8: Duỗi tay phải lên cao. Lòng bàn tay hướng lên trên

Khẩu hiệu: Nhịp đập con tim, ước mơ tươi đẹp!

Động tác 7. (hình 12-24)

Nhịp 1: Hai tay nhập thành hình chữ thập, cẳng tay nâng cao quá đầu,

khớp khuỷu hướng sang bên.

276

Hình 12-24

Nhịp 2: Gập tay phải cao ngang ngực, tay trái gập trước ngực, tay phải

đặt dưới khớp khuỷu tay trái.

Nhịp 3: Quay cổ tay phải xuống dưới, tay trái giữ yên.

Nhịp 4: Tay phải dừng trước bụng, lòng bàn tay hướng lên trên, tay

trái giữ yên.

Nhịp 5- 6: Hai tay sau khi đan chéo mở ra thành chếch bên, khép ngón

tay, lòng bàn tay hướng lên trên.

Nhịp 7- 8: Hai tay đan chéo trước ngực, nâng khuỷu tay, khép các

ngón tay, tay đặt trên vai.

Động tác 8. (hình 12-25)

Hình 12-25

Nhịp 1 đến 8: Vỗ tay trước ngực 12 lần, nhịp điệu vỗ tay như sau:

1 2 3 4 / 5 6 7 8

277

Động tác 9: Giống động tác 8 nhịp thư tám.

Động tác 10:

Nhịp 1: Hai tay vỗ lên hai đùi.

Nhịp 2: Hai tay vỗ trước ngực.

Nhịp 3: Tay phải vỗ lên đùi phải, tay trái để ngang vuông góc trước

ngực lòng bàn tay úp.

Nhịp 4: Tay phải nâng lên vỗ vào lòng tay trái lòng bàn tay hướng

xuống, tay trái giữ yên; nhanh chóng hai tay vỗ vào nhau.

Nhịp 5- 8: thực hiện lặp lại giống nhịp 1 - 4.

Động tác 11: Tư thế chuẩn bị đứng nghiêm.

Nhịp 1- 2: Hai tay vỗ trước ngực.

Nhịp 3: Hai tay ngang, lòng bàn tay úp.

Nhịp 4: Hai tay vỗ vào nhau trên cao.

Nhịp 5: Tay trái giữ nguyên, tay phải hạ xuống dưới sang trái chữ K.

Nhịp 6: Hai tay chuyển V cao.

Nhịp 7 - 8: Hai tay vỗ trước ngực.

Động tác 12: Tư thế chuẩn bị đứng nghiêm.

Nhịp 1: Hai tay chuyển V cao.

Nhịp 2: Hai tay chuyển V thấp.

Nhịp 3: Hai tay vỗ trước ngực.

Nhịp 4: Tay trái chống hông, tay phải hạ xuống dưới bên phải.

Nhịp 5: Tay phải chống hông, tay trái hạ xuống dưới bên trái.

Nhịp 6: Hai tay chuyển chếch dưới bên phải.

Nhịp 7: Hai tay chuyển V cao

Nhịp 8: Hai tay vỗ trước ngực.

Động tác 13: Tư thế chuẩn bị đứng nghiêm.

Nhịp 1: Hai tay chuyển chếch dưới bên phải.

Nhịp 2: Hai tay chuyển chếch dưới bên phải.

278

Nhịp 3: Hai tay trên cao.

Nhịp 4: Hai tay vỗ trước ngực.

Nhịp 5 - 8: Thực hiện lặp lại giống 1 - 4.

Động tác 14: Tư thế chuẩn bị đứng nghiêm.

Nhịp 1: Hai tay chuyển V cao.

Nhịp 2: Hai tay vỗ trước ngực.

Nhịp 3: Tay phải đấm ra trước, tay trái thu trước ngực.

Nhịp 4: Hai tay vỗ trước ngực.

Nhịp 5: Hai tay nắm vào nhau đưa ra trước.

Nhịp 6: Hai tay chuyển V cao.

Nhịp 7: Hai tay chuyển V thấp.

Nhịp 8: Hai tay vỗ trước ngực.

Động tác 15: Tư thế chuẩn bị ngồi trên ghế.

Nhịp 1: Hai tay vỗ trượt vào nhau trước mặt, tay trái cao, tay phải vỗ

đùi.

Nhịp 2: Tay phải nâng lên, tay trái hạ vỗ trượt vào nhau trước mặt, tay

phải cao, tay trái vỗ đùi.

Nhịp 3- 8: lặp lại nhịp 1 - 2.

279

MỤC LỤC

Trang

Lời nói đầu 2

PHẦN 1. THỂ DỤC CỔ ĐỘNG THI ĐẤU 4

Chương 1. TỔNG QUAN VỀ THỂ DỤC CỔ ĐỘNG 4

1. Nguồn gốc và sự phát triển của thể dục cổ động 4

2. Các khái niệm và đặc điểm của thể dục cổ động 9

3. Nhiệm vụ và tầm quan trọng của thể dục cổ động 13

4. Văn hóa tạo thành nền tảng phong trào thể dục cổ động 19

Chương 2. CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA THỂ DỤC CỔ 27 ĐỘNG

1. Thành lập các đội thể dục cổ động 27

2. Công tác tổ chức và tập luyện thể dục cổ động 29

3. Lựa chọn khẩu hiệu 31

4. Âm nhạc 35

5. Đội hình trong thể dục cổ động. 40

Chương 3. CÁC KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CỦA THỂ 44 DỤC CỔ ĐỘNG

1. Đặc trưng kỹ thuật của động tác cơ bản 44

2. Chuyển động cơ bản của tay 45

3. Chuyển động cơ bản của chân. 48

4. Tổ hợp động tác cơ bản 49

5. Các bước bật nhảy cơ bản 56

6. Các động tác thăng bằng và quay 66

7. Kỹ thuật trồng chuối 75

8. Kỹ thuật nhào lộn 80

92

280

Chương 4. KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG CÁC KỸ THUẬT LÊN

THÁP CỦA THỂ DỤC CỔ ĐỘNG

1. Kỹ thuật lên tháp cơ bản 92

2. Phân loại và yêu cầu đối với nhóm động tác lên tháp 99

3. Tung và bắt trong thể dục cổ động. 139

4. Huấn luyện thể lực trong thể dục cổ động. 145

Chương 5. ĐIỀU LỆ THI ĐẤU GIẢI THỂ DỤC CỔ ĐỘNG 152

1. Những quy định chung khi tiến hành biên soạn điều lệ giải 152

2. Nội dung thi đấu 153

3. Hình thức thi đấu 156

4. Quy tắc cho điểm môn thể dục cổ động 165

5. Điểm trừ lỗi vi phạm 172

6. Ban trọng tài 173

7. Cách tính điểm chính thức 173

8. Trường hợp đặc biệt 174

Chương 6. CÁC BÀI TẬP THƯỜNG SỬ DỤNG TRONG 175 THỂ DỤC CỔ ĐỘNG

1. Các bài tập vũ đạo cơ bản 175

2. Các động tác mẫu kỹ năng cơ bản 192

3. Kỹ thuật tung và bắt trong thể dục cổ động 201

Chương 7. TỔNG QUAN VỀ THỂ DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN 206 KHÁN ĐÀI

1. Nguồn gốc và sự phát triển của thể dục cổ động trên khán đài 206

2. Khái niệm và đặc điểm của thể dục cổ động trên khán đài 209

3. Phân loại và qui mô của thể dục cổ động trên khán đài 210

4. Nhiệm vụ, ý nghĩa và tầm quan trọng của thể dục cổ động trên 211 khán đài

281

Chương 8. YẾU TỐ CẤU THÀNH THỂ DỤC CỔ ĐỘNG 213 TRÊN KHÁN ĐÀI

1. Thành viên và người điều khiển cổ động trên khán đài. 213

2. Khẩu hiệu và âm nhạc cổ động trên khán đài 215

3. Đạo cụ và trang phục 219

4. Động tác cơ bản trên khán đài 221

Chương 9. PHƯƠNG PHÁP BIÊN SOẠN THỂ DỤC CỔ 227 ĐỘNG

1. Nguyên tắc biên soạn bài thể dục cổ động 227

2. Các yêu cầu về biên soạn bài biểu diễn thể dục cổ động 231

3. Phương pháp biên soạn thể dục cổ động 235

4. Những lưu ý khi biên soạn thể dục cổ động trên khán đài 236

Chương 10. HUẤN LUYỆN THỂ DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN 243 KHÁN ĐÀI

1. Đặc điểm huấn luyện môn thể dục cổ động trên khán đài 243

2. Quá trình huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài 244

3. Nội dung và phương pháp huấn luyện thể dục cổ động trên khán 248 đài

4. Tổ chức huấn luyện thể dục cổ động trên khán đài 254

Chương 11. TỔ CHỨC THI ĐẤU, QUI TRÌNH VÀ QUI TẮC 256 CHẤM ĐIỂM THỂ DỤC CỔ ĐỘNG TRÊN KHÁN ĐÀI

1. Tổ chức thi đấu 256

2. Qui trình thi đấu của thể dục cổ động trên khán đài 257

3. Qui tắc cho điểm môn thể dục cổ động trên khán đài 259

Chương 12. CÁC ĐỘNG TÁC MẪU TRONG THI ĐẤU THỂ 263 DỤC CỔ ĐỘNG

1. Bài tập 1 263

282

2. Bài tập số 2 267

3. Bài tập số 3 271

4. Bài tập số 4 274

MỤC LỤC 280

TÀI LIỆU THAM KHẢO 284

283

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Sách tham khảo:

[1]. Chủ biên: PGS Nguyễn Xuân Sinh (1998) Sách giáo khoa Thể dục dụng

cụ. Nhà xuất bản Thể dục thể thao.

(2). Chủ biên: PGS Nguyễn Xuân Sinh (2009) Thể dục- Sách giáo khoa dùng

cho sinh viên Đại học TDTT. Nhà xuất bản TDTT Hà Nội.

[3]. Bộ giáo dục và đào tạo, Thể dục và phương pháp dạy học, Nhà xuất bản

giáo dục, Hà Nội 1998.

[4]. Nguyễn Văn Trạch, Phương pháp giảng dạy TDTT trong trường phổ

thông, Nhà xuất bản TDTT, Hà Nội 2008.

[5]. Bộ giáo dục và đào tạo, Thể dục cơ bản và thể dục thực dụng, Nhà xuất

bản giáo dục, Hà Nội 1998.

[6]. Trần Phúc Phong, Đồng diễn thể dục, nhà xuất bản TDTT, Hà Nội 2008.

[7]. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Luật thể dục Aerobic, Nhà xuất bản

TDTT, Hà Nội 2008.

- Giáo trình tham khảo:

[8]. Thạc sĩ: Phan Thị Dịch, Trần Thị Minh Hải, Đặng Quốc Nam; Giảng

viên. Nguyễn Trọng Anh, Ngô Thanh Hồng, Võ Văn Vũ (2003) Giáo trình

Thể dục quyển 1,2,3. Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2003.

[9]. Sách đặt hàng trường Đại học TDTT Đà Nẵng (2009) Giáo trình thể dục.

Nhà xuất bản TDTT, Hà Nội 2008.

[10]. Tiến sĩ: Đặng Quốc Nam; Thạc sĩ: Ngô Thanh Hồng, TRần Tùng

Dương, Đỗ Ngọc Quang, Nguyễn Văn Quốc Dũng (2014) Giáo trình thể dục

quyển 1,2. Nhà xuất bản TDTT, Hà Nội 2014.

- Các trang thông tin điện tử tham khảo:

[11] "Quỹ của Hiệp hội Cheerleading Nhật Bản (FJCA)" .

[12] Campo-Flores, Arian (2007/05/14). "Một thế giới của Cheer" .

Newsweek.

284

[13] "Lịch sử của Cheerleading | iSport.com" . Cheerleading.isport.com.

[14] "Liên đoàn quốc tế của Cheerleading - Liên đoàn quốc tế của

Cheerleading"

[15] "Cheerleading Hiệp hội Thái Lan (CAT)" . Thaicheerleading.com.

[16] "Cheer Liên minh Canada" .

[17] Campo-Flores, Arian (2007-05-14). “A World of Cheer!”. Newsweek.

[18] Schoenberger, Chana R. (2006-11-16). “The Most Dangerous Sports”.

[19] “IASF home page”.

[20] Neil, Randy L.; Hart, Elaine (1986), The Official Cheerleader's

Handbook , Simon & Schuster, ISBN 0-671-61210-7

[21] Balthaser, Joel D. (2005-01-06). “Cheerleading – Oh How far it has

come!”. Pop Warner.

[22] Gymnastics. com

[23] Cheerleading blog. com

[24] Violet. com

[25] Liên đoàn thể dục việt nam.com

[26] http://www.cheerleading.com

[27] http://www.aacca.org

[28] http://www.usasf.net

[29] http://www.Cheerwiz.com

285