Gii pháp làm mát theo hàng tiết kim năng
lượng cho trung tâm d liu
Xu hướng gia tăng mật độ nhit trong trung m d liệu (TTDL) đã nh hưởng ln
đến ng ngh máy tính trong nhiu năm qua. Mật độ tp trung ngun tăng n
cũng khiến vic m mát c ti nhit công sut cao tr nên khó khăn n.
Trong những năm gần đây, các thiết kế h thng làm mát truyn thng đã được
chng minh kng còn p hợp để loi b nhit tp trung ti các tải (đến trên
20KW/Rack).
Vấn đề này đã dn đến việc thay đổi cấu trúc trong hthống làm mát trung m d
liu. Sự xut hiện của cấu trúc làm mát mi được thiết kế cho mật độ nhiệt cao n
đã làm tăng hiệu suất làm vic của TTDL. Bài viết này sđề cập đến những hiệu
qunổi trội của cấu trúc làm mát theo ng so với hai cu trúc làm mát phthông
khác.
Hình 1 : Điều hòa không khí phòng
máy
Hình 2 : Các thiết bị trên nóc
Một cấu trúc nổi bật được sử dụng để làm mát TTDL k từ khi xuất hiện hệ thng
máy ch mainframe là di chuyển không khí qua sàn gitừ Điu hoà không khí
phòng máy (CRAH). Trong phương pháp này, các CRAH được bố trí xung quanh
chu vi phòng phân phi không khí lạnh đi từ dưới sàn thông qua các tm lót sàn
lhay dẫn trực triếp không k lạnh vào phòng (Hình 1.) mật độ thấp n, (1
đến 5 kW/rack) việc làm mát được cung cấp đến thiết bị cảm biến CNTT cho dù
không k trong phòng b trộn lẫn.
Thiết kế bố trí theo hàng giúp loi bk nóng và cung cấp nguồn không klạnh
phù hợp n, còn mang đến lợi ích hiệu suất sdụng năng lượng. Đầu tiên là
gim năng lượng ca quạt cần để dịch chuyển không k.
Một hệ thống phân phi không ktương tự được sdụng để làm mát TTDL h
thống điều hoà không ktrung m (CAHU) (Hình 2). Những hệ thống y được
s dụng rộng rãi hơn, tập trung n vào các thiết b làm mát vi s phân phối
không khí tương tnhư cấu trúc CRAH theo hình thức sàn gihay đi ng gió pa
bên trên.
Khi ng suất của một rack ln hơn giới hạn 5 kW, việc phân phi không kvà
loi bỏ nhiệt trở thành một thách thức kkhăn đối với hai hệ thống CRAH và
CAHU. Nhược đim lớn nhất của những cấu trúc này kh năng vận chuyển
không ktheo chiu dài. Khoảng ch giữa thiết bị làm lạnh và bphận tải nhiệt
gây cản trở cho việc loại bỏ sức nóng thải ra tthiết bị CNTT mà không trn lẫn
với nguồn không khí cung cấp. Sự tách biệt y đã khiến việc thiết kế phân phối
không k trnên nan gii và rất phức tạp.
Một khó khăn nữa là nhu cu lưu lượng
không k của thiết b CNTT cũng ng
tương ứng với mật độ năng lượng. Vì h
thống CRAH và CAHU sử dụng thông gió
đề vận chuyn không khí (và không k
nóng u hồi trong một số thiết kế cụ thể),
một lượng quạt đáng kể ng suất lớn
được huy động để gây sức ép lên thông
gió vượt qua trở lực của hthống phân
phối không k. Ngoài ra, để thắng được
ảnh hưởng ca s trộn lẫn thì lưu lượng
thực không k tuần hoàn phải nhiều hơn lưu lượng thực không k yêu cu của
thiết b IT, hơn là điều chỉnh năng lượng tiêu th bởi quạt.
Để khắc phục những hạn chế trong việc phân phi không k và giải nhiệt của hệ
thống CRAH và CAHU, hthống m mát theo hàng đã bắt đầu xuất hiện trong
nhiều bản thiết kế TTDL (Hình 3). Nhm giải quyết vấn đề tách biệt giữa các thiết
b làm lạnh và tải nhiệt, c thiết kế theo hàng đã đặt các bộ điu hoà không k
Hình 3: Làm mát theo hàng. K
ết cấu
làm mát theo hàng, như t
ả, sử dụng
một thiết bị thải khí tự do m
à không
dùng các
ống hay bất cứ một buồng
chứa khí nóng hay lạnh nào
vào giữa c hàng Rack. Với thiết kế kết hợp giữa c dãy nóng lạnh, hơi ng
do các thiết b CNTT thải ra được loại bỏ khi trong các dãy nóng.
Bên cnh khả ng khắc phục những hạn chế trong việc loại bỏ knóng và cung
cấp không klàm lnh, các thiết kế theo hàng cũng mang đến những lợi ích khác
về hiệu suất năng lượng. Li ích đầu tiên làm gimng sut quạt cần thiết để di
chuyển không k. Sự hợp li ca tải nhit làm cho đường dẩn phân phi không k
loi bnhiệt ngắn hơn nhiều. Kết qunày sdch chuyển của hệ thống phân
phối không khí dữ liệu trung tâm từ cấp không klạnh đến giải nhiệt. Ly đi nhiệt
lượng từ dãy ng trước khi cơ hội trộn với không k xung quanh của
phòng làm cho các vùng n lại trong phòng có được một lượng ln không k
cung cấp. Với cách này, chiều dài ca hệ thống
Hình 4: Tiêu th
điện tốc độ
qu
ạt biến đổi. Ghi chú: Tiết
kiệm điện năng từ dòng khí bi
ến
đổi thể không đư
ợc đánh giá