
374
GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG AI
NÂNG CAO NĂNG LỰC GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN
Lê Xuân Hậu
Giảng viên Học viện Chính trị khu vực II
Email: haudsvh@gmail.com SĐT:0909504471
Phan Lê An
Sinh viên Học viện Cán bộ TP. Hồ Chí Minh
TÓM TẮT: Bối cảnh chuyển đổi số trong giáo dục đang di n ra mạnh mẽ tại Việt Nam,
nhất là sau ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, việc ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ
nhân tạo (AI), đã trở thành xu hướng tất yếu để nâng cao chất lượng giảng dạy và năng lực
của đội ngũ giảng viên. Thực tế cho thấy, AI không chỉ hỗ trợ về mặt k thuật mà còn góp
phần thay đổi tư duy và phương pháp sư phạm, giúp giảng viên thích ứng với yêu cầu đào
tạo hiện đại, hướng tới giáo dục cá nhân hóa và học tập suốt đời. Việc ứng dụng AI trong
nâng cao năng lực giảng viên là giải pháp mang tính chiến lược và lâu dài trong giáo dục
hiện đại. Qua đó, giúp giảng viên tiếp cận, làm chủ và vận dụng hiệu quả AI, nâng cao chất
lượng giảng dạy, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực thời kỳ cách mạng công
nghiệp 4.0. Bài viết này sẽ tập trung làm rõ các nội dung: (1) Làm rõ cơ sở lý thuyết và thực
ti n của vấn đề nghiên cứu, (2) Thực trạng năng lực giảng viên và ứng dụng AI trong giảng
dạy; (3) Các giải pháp ứng dụng AI nhằm nâng cao năng lực giảng viên.
T kh a: AI, chuyển đổi số, năng lực giảng dạy, giảng viên
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số trong giáo dục diễn ra
mạnh mẽ trên toàn cầu, vai trò của trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) ngày càng
trở nên quan trọng, sẽ là nhóm công nghệ được ưu tiên hàng đầu
3
và có ảnh hưởng sâu rộng
đến mọi lĩnh vực, trong đó có giáo dục và đào tạo. AI đang định hình lại cách con người học
tập, giảng dạy và quản lý hệ thống giáo dục, đồng thời mở ra những cơ hội chưa từng có để
đổi mới phương pháp sư phạm, cá nhân hóa việc học và nâng cao chất lượng đào tạo.
Các quốc gia trên thế giới đang đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao năng suất lao động,
tối ưu hóa quản lý và tạo ra những giá trị kinh tế mới. Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành
Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết
định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó đặt mục tiêu đưa
kinh tế số đóng góp 20% GDP vào năm 2025 và 30% GDP vào năm 2030. Chương trình đặt
mục tiêu kép: vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh
nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Quyết định số 127/QD-TTg
ngày 26 tháng 01 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chiến lược quốc gia về
nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030. Quyết định số 4725/QĐ-
BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành bộ chỉ số đánh
giá mức độ chuyển đổi số của cơ sở giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Quyết
3
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Thông tin và Truyền thông, 2021, Kinh tế Việt Nam trên con đường chuyển
đổi số, trang 1315

375
định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt ―Chương trình chuyển đổi số trong giáo
dục và đào tạo đến năm 2025, định hướng đến năm 2030‖, nhấn mạnh việc phát triển hệ
sinh thái giáo dục số và ứng dụng AI trong dạy - học. Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban
hành Nghị quyết 57-NQ/TW năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
4
đã tạo những định hướng tích cực cho các địa phương
trong chuyển đổi số.
Từ thực tiễn đó, giảng viên không chỉ đóng vai trò là người truyền đạt kiến thức mà còn là
người hướng dẫn, cố vấn, thiết kế môi trường học tập linh hoạt và hiện đại. Điều này đòi hỏi
họ phải không ngừng nâng cao năng lực giảng dạy, đặc biệt là năng lực công nghệ, tư duy
đổi mới và khả năng sử dụng các công cụ hỗ trợ trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, thực tế cho thấy
nhiều giảng viên, đặc biệt trong giáo dục nghề nghiệp, vẫn còn gặp khó khăn trong việc tiếp
cận và ứng dụng AI vào giảng dạy do hạn chế về hạ tầng, kỹ năng số, tài nguyên học tập
cũng như chính sách hỗ trợ cụ thể
5
.
AI có thể hỗ trợ giảng viên trong nhiều khía cạnh như: xây dựng giáo án, đánh giá kết quả
học tập, tạo học liệu cá nhân hóa, mô phỏng thực tế qua công nghệ VR/AR, và thậm chí
cung cấp các trợ lý giảng dạy ảo giúp tiết kiệm thời gian, tăng hiệu quả và nâng cao trải
nghiệm học tập của người học. Nếu được ứng dụng hợp lý, AI không chỉ là công cụ hỗ trợ
mà còn là đòn bẩy giúp giảng viên phát triển toàn diện năng lực chuyên môn và sư phạm
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong
thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0.
2. Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của nghiên cứu
a) Cơ sở lý thuyết
- Kh i niệm về trí tuệ nhân tạo (AI)
Trí tuệ nhân tạo (tiếng Anh: Artificial Intelligence, viết tắt là AI) là một lĩnh vực thuộc
ngành khoa học máy tính, nghiên cứu cách tạo ra các hệ thống máy móc hoặc phần mềm có
khả năng mô phỏng trí tuệ con người. Điều này bao gồm các năng lực như học tập, suy luận,
giải quyết vấn đề, hiểu ngôn ngữ, nhận diện hình ảnh và ra quyết định. Theo John McCarthy
– người khai sinh ra thuật ngữ này vào năm 1956 – AI là ―khoa học và kỹ thuật tạo ra những
cỗ máy thông minh, đặc biệt là các chương trình máy tính có thể thực hiện các tác vụ mà
thông thường cần đến trí thông minh của con người‖. AI có thể thực hiện các chức năng
như: xử lý ngôn ngữ tự nhiên, học máy (machine learning), nhận dạng giọng nói, thị giác
máy tính, ra quyết định, và nhiều ứng dụng tự động hóa khác. Trong giáo dục, AI đang được
sử dụng để hỗ trợ giảng dạy, đánh giá người học, cá nhân hóa nội dung học tập, và phân tích
dữ liệu giáo dục.
AI được chia thành nhiều cấp độ khác nhau: (1) AI yếu (Narrow AI): Chuyên thực hiện một
nhiệm vụ cụ thể như nhận diện khuôn mặt, dịch ngôn ngữ, hay gợi ý nội dung trên mạng xã
hội. (2) AI mạnh (General AI): Có khả năng hiểu và thực hiện mọi nhiệm vụ trí tuệ mà con
người có thể làm (hiện vẫn đang trong nghiên cứu). (3) Siêu trí tuệ (Super AI): Mức độ trí
tuệ vượt xa con người, mang tính giả thuyết trong tương lai.
- Kh i niệm về năng lực giảng dạy của giảng viên
4
https://thuvienphapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/83A5C12-hd-nghi-quyet-57nqtw-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-
sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-g.html, truy cập lúc 19 giờ 16 phút ngày 27/3/2025
5
https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2022/01/131-qd-.signed.pdf, truy cập lúc 11 giờ 16 phút ngày 07/4/2025

376
Năng lực giảng dạy là tập hợp các kiến thức, kỹ năng, phẩm chất và thái độ chuyên môn mà
một giảng viên cần có để thực hiện tốt quá trình dạy học. Theo hướng tiếp cận hiện đại,
năng lực giảng dạy bao gồm: (1) năng lực thiết kế chương trình và kế hoạch giảng dạy; (2)
năng lực sử dụng phương pháp và công nghệ giảng dạy hiệu quả; (3) năng lực đánh giá
người học; (4) năng lực đổi mới, sáng tạo trong giảng dạy và (5) năng lực phát triển nghề
nghiệp. Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển giáo dục đại học theo hướng mở, linh
hoạt, việc tích hợp công nghệ, đặc biệt là AI, vào hoạt động giảng dạy là xu thế tất yếu
nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo.
- Lý thuyết ứng dụng công nghệ trong gi o dục
Một số mô hình lý thuyết nổi bật liên quan đến việc ứng dụng công nghệ (trong đó có AI)
vào dạy học là:
+ Mô hình SAMR (Substitution, Augmentation, Modification, Redefinition): đề cập đến bốn
mức độ ứng dụng công nghệ trong dạy học, từ thay thế đơn thuần đến tái định nghĩa hoàn
toàn trải nghiệm học tập.
+ Mô hình TPACK (Technological Pedagogical Content Knowledge): nhấn mạnh sự tích
hợp giữa kiến thức chuyên môn, phương pháp sư phạm và công nghệ – trong đó AI đóng vai
trò là công cụ hỗ trợ đắc lực cho giảng viên.
+ Lý thuyết học tập cá nhân hóa (Personalized Learning): AI có thể hỗ trợ xây dựng các
chương trình học phù hợp với năng lực, sở thích và tiến độ của từng người học, từ đó nâng
cao chất lượng giảng dạy.
Trong thực tiễn, nhiều trường đại học và tổ chức giáo dục trên thế giới đã áp dụng các công
cụ AI để hỗ trợ giảng dạy như: hệ thống gợi ý nội dung học, chatbot hỗ trợ sinh viên, phần
mềm chấm bài tự động, phân tích dữ liệu học tập để điều chỉnh phương pháp giảng dạy. Tại
Việt Nam, việc ứng dụng AI trong giáo dục đang ở giai đoạn khởi đầu, song đã có những
bước tiến đáng kể trong việc đưa công nghệ vào giảng dạy, đặc biệt trong bối cảnh hậu
COVID-19 và chuyển đổi số trong giáo dục đại học.
b) Cơ sở thực tiễn
Trong những năm gần đây, cùng với xu thế chuyển đổi số trong giáo dục, nhiều trường đại
học tại Việt Nam đã bước đầu triển khai ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác giảng
dạy, quản lý đào tạo và hỗ trợ người học. Dù còn ở giai đoạn thử nghiệm hoặc áp dụng từng
phần, nhưng kết quả bước đầu cho thấy AI đã góp phần tích cực vào việc nâng cao chất
lượng giảng dạy và hiệu quả quản lý giáo dục.
Thứ nhất, AI góp phần hỗ trợ thiết kế và triển khai nội dung giảng dạy số. Nhiều trường đại
học như Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học FPT, Đại học RMIT Việt Nam... đã
ứng dụng các công cụ AI như ChatGPT, Copilot, hoặc trợ lý học tập tự động để hỗ trợ giảng
viên xây dựng bài giảng, gợi ý tài liệu học tập, phát triển ngân hàng đề thi, và cá nhân hóa
nội dung dạy học. Trường Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội đã tổ chức khóa đào tạo
―Ứng dụng AI trong giảng dạy‖, với sự hỗ trợ từ Đại học RMIT Việt Nam và Chính phủ
Australia thông qua Quỹ Hỗ trợ Cựu sinh viên Australia. Khóa học kéo dài 6 tuần, tập trung
vào việc ứng dụng AI trong thiết kế bài giảng, cá nhân hóa trải nghiệm học tập và tích hợp
AI vào đánh giá năng lực sinh viên. Giảng viên tham gia đã thực hành sử dụng các công cụ
AI như ChatGPT, Canva AI, MagicSchool, giúp tiết kiệm thời gian soạn giảng và nâng cao
hiệu quả giảng dạy. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội, đã khai giảng khóa tập huấn ―Đột phá cùng GenAI trong giảng dạy và nghiên cứu‖, với
sự đồng hành của Tập đoàn Meta. Khóa học nhằm trang bị cho giảng viên các kỹ năng sử

377
dụng công cụ AI hiện đại như ChatGPT, GPT-4 trong việc xây dựng bài giảng, tạo lập tài
liệu học tập và thiết kế các bài kiểm tra thông minh
6
. Trường Đại học Công nghệ Thông tin
và Truyền thông Việt – Hàn (VKU), Đại học Đà Nẵng, đã tổ chức hội thảo chuyên đề về
ứng dụng AI trong giảng dạy kết hợp, với sự tham gia của các trường đại học trong và ngoài
nước
7
…
Thứ hai, AI đang được sử dụng để đánh giá người học một cách khách quan và hiệu quả
hơn. Một số trường đã áp dụng hệ thống chấm thi tự động đối với các môn trắc nghiệm,
hoặc sử dụng phần mềm nhận diện giọng nói, chấm bài viết tự luận bằng AI giúp nâng cao
năng suất và đảm bảo công bằng trong đánh giá. Một số khóa học trực tuyến cũng tích hợp
AI để đưa ra phản hồi tức thì, từ đó hỗ trợ người học điều chỉnh tiến độ và phương pháp học
phù hợp.
Thứ ba, AI được ứng dụng trong phân tích dữ liệu học tập và dự báo hành vi học tập của
sinh viên. Một số nền tảng học tập LMS có tích hợp AI giúp các trường thu thập dữ liệu về
tiến trình học, mức độ hoàn thành nhiệm vụ, thời gian tương tác... để đánh giá năng lực học
tập và dự đoán nguy cơ rớt môn, bỏ học. Điều này giúp giảng viên và nhà trường có biện
pháp hỗ trợ kịp thời cho người học yếu hoặc thiếu động lực.
Thứ tư, một số trường triển khai trợ lý ảo, Chatbot hỗ trợ sinh viên trong việc giải đáp thắc
mắc về học vụ, lịch học, quy chế đào tạo… như Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Đại
học Kinh tế Quốc dân. Các chatbot AI hoạt động 24/7 giúp giảm tải khối lượng công việc
hành chính, đồng thời nâng cao trải nghiệm người học.
3. Thực trạng năng lực giảng viên và ứng dụng AI trong giảng dạy
Thứ nhất, thực trạng năng lực giảng viên trong bối cảnh chuyển đổi số
Giảng viên đại học là lực lượng trung tâm trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên
cứu khoa học và chuyển giao tri thức. Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới giáo dục và cách
mạng công nghiệp 4.0, đội ngũ giảng viên Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn
về năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm và đặc biệt là năng lực công nghệ thông tin –
truyền thông (ICT). Điều này, đòi hỏi giảng viên phải tự nâng cao năng lực của mình để
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến năm 2022, cả
nước có khoảng 78.190 giảng viên đại học, trong đó khoảng 30% có trình độ tiến sĩ. Tuy
vậy, chỉ một tỷ lệ nhỏ giảng viên được đánh giá có kỹ năng công nghệ tốt, đặc biệt là trong
việc sử dụng công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI) vào giảng dạy
8
.
Mặc dù nhận thức về tầm quan trọng của chuyển đổi số ngày càng tăng, nhưng năng lực số
của giảng viên đại học Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều giảng viên chưa được đào
tạo bài bản về công nghệ thông tin, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng công nghệ vào
giảng dạy. Phương pháp giảng dạy truyền thống vẫn chiếm ưu thế, chưa tận dụng được tiềm
năng của công nghệ số để tạo ra môi trường học tập tương tác và hiệu quả. Các chương trình
đào tạo, bồi dưỡng về năng lực số cho giảng viên còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu
thực tế
9
. Sự khác biệt về cơ sở hạ tầng và điều kiện kinh tế dẫn đến sự chênh lệch về năng
lực số của giảng viên giữa các khu vực, vùng miền. Những hạn chế trên xuất phát từ các
6
https://ussh.vnu.edu.vn/vi/news/dao-tao/khai-giang-khoa-tap-huan-dot-pha-cung-gen-ai-trong-giang-day-va-nghien-cuu-
23101.html?utm_source=chatgpt.com, truy cập lúa 15 giờ 38 phút ngày 21/5/2025
7
https://vku.udn.vn/vi/hoi-thao-ung-dung-ai-trong-giang-day-ket-hop-blended-learning-doi-voi-cac-chuong-trinh-dao-tao-uk-
tne/?utm_source=chatgpt.com, truy cập lúa 15 giờ 44 phút ngày 21/5/2025
8
https://moet.gov.vn/thong-ke/Pages/thong-ko-giao-duc-dai-hoc.aspx?ItemID=8831, truy cập lúc 13 giờ 56 phút ngày 07/4/2025
9
https://tapchikhoahochongbang.vn/js/article/view/, truy cập lúc 14 giờ 45 phút ngày 07/4/2025

378
nguyên nhân chính: Chưa có chính sách và chiến lược cụ thể để phát triển năng lực số cho
giảng viên
10
. Hạn chế về cơ sở hạ tầng công nghệ: Nhiều trường đại học chưa được trang bị
đầy đủ cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, ảnh hưởng đến việc triển khai các hoạt động
giảng dạy và nghiên cứu dựa trên công nghệ số. Một số giảng viên chưa nhận thức đầy đủ
về tầm quan trọng của chuyển đổi số, dẫn đến thiếu động lực trong việc nâng cao năng lực
số
11
.
Thứ hai, ứng dụng AI trong giảng dạy
Một thực tế là AI tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục, thúc đẩy giáo dục cá nhân hóa, nâng
cao tinh thần tự học, đổi mới và nâng cao hiệu quả giảng dạy, tạo dựng thói quen học tập
suốt đời. AI tác động toàn diện tới 3 trụ cột giáo dục là chương tình học, quá trình dạy và
học, kiểm tra đánh giá
12
. Việc ứng dụng AI trong dạy học ở Việt Nam còn mới mẻ, phần lớn
mới ở giai đoạn thử nghiệm hoặc cá nhân tự nghiên cứu. Một số trường đại học lớn đã bước
đầu triển khai các ứng dụng AI vào quá trình đào tạo, tuy nhiên, mức độ triển khai chưa
đồng đều và còn mang tính thí điểm. Có thể thấy một số hình thức ứng dụng AI phổ biến
hiện nay như: Tạo đề kiểm tra, trắc nghiệm tự động (Google Form, Quizizz có tích hợp AI
đề xuất nội dung). Phân tích học tập của sinh viên (Learning Analytics) để xác định xu
hướng, hiệu suất học tập và gợi ý cá nhân hóa. Trợ giảng ảo bằng chatbot AI trong quản lý
lớp học, trả lời câu hỏi thường gặp (một số trường sử dụng ChatGPT, GPT-3 qua API). Ứng
dụng AI trong biên soạn bài giảng và tạo nội dung số như AI Writer, Copilot hoặc ChatGPT.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU): Năm 2024, đã giới thiệu chương trình đào tạo về
AI, cung cấp cả bằng cử nhân và kỹ sư, được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh. Trường
Đại học Kinh tế - Luật TP.HCM (UEL): Từ năm 2020, đã triển khai chương trình ―Kinh
doanh số và Trí tuệ nhân tạo‖. Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM (HUB): Năm 2025,
công bố chương trình đào tạo về AI. Đại học Quốc gia Hà Nội đã thành lập Trung tâm
nghiên cứu AI và triển khai các khóa học tích hợp AI trong chương trình đào tạo giảng viên.
Thứ ba, những khó khăn, hạn chế hiện nay
(1) Hạn chế về năng lực và kỹ năng của giảng viên: Nhiều giảng viên thiếu kiến thức
nền tảng về AI; chưa hiểu rõ về bản chất, khả năng và giới hạn của các công cụ AI, dẫn đến
việc sử dụng thiếu hiệu quả hoặc lệ thuộc quá mức vào công nghệ. Thiếu kỹ năng thực hành
công nghệ, giảng viên chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng khai thác dữ liệu, lập trình ứng
dụng đơn giản, hoặc cách tích hợp công cụ AI vào nội dung giảng dạy. Khối lượng công
việc giảng dạy và nghiên cứu lớn khiến giảng viên khó có điều kiện học tập và cập nhật
công nghệ mới.
(2) Hạ tầng công nghệ không đồng bộ, thiếu thiết bị và phần mềm hỗ trợ. Thực tế,
nhiều trường không có máy chủ đủ mạnh để triển khai AI nội bộ, thiếu bản quyền phần
mềm hỗ trợ xử lý dữ liệu hoặc phát triển AI. Kết nối mạng không ổn định, nhiều khu vực
ngoài đô thị, việc truy cập dữ liệu lớn hoặc công cụ học máy gặp nhiều trở ngại.
(3) Thiếu chiến lược và chính sách hỗ trợ. Chưa có chiến lược rõ ràng ở cấp trường
và cấp Bộ về phát triển AI trong giáo dục đại học, dẫn đến việc ứng dụng AI còn mang tính
tự phát, thiếu đồng bộ. Thiếu cơ chế khuyến khích giảng viên đổi mới sáng tạo. Việc áp
10
https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/phat-trien-nang-luc-cua-giang-vien-dap-ung-yeu-cau-chuyen-doi-so-trong-giao-duc-dai-
hoc-p26332.html?, truy cập lúc 14 giờ 49 phút ngày 07/4/2025
11
https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/phat-trien-nang-luc-cua-giang-vien-dap-ung-yeu-cau-chuyen-doi-so-trong-giao-duc-dai-
hoc-p26332.html?, truy cập lúc 14 giờ 52 phút ngày 07/4/2025
12
https://tapchigiaoduc.edu.vn/article/89562/211/ung-dung-ai-trong-giao-duc-co-hoi-de-nang-cao-hieu-qua-giang-day/, truy cập lúc
14 giờ 00 phút ngày 07/4/2025

