intTypePromotion=3

Giáo trình Phòng trị bệnh cá lăng, cá chiên - MĐ04: Nuôi cá lăng, cá chiên

Chia sẻ: Minh Minh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:102

0
215
lượt xem
56
download

Giáo trình Phòng trị bệnh cá lăng, cá chiên - MĐ04: Nuôi cá lăng, cá chiên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình Phòng trị bệnh cá lăng, cá chiên - MĐ04: Nuôi cá lăng, cá chiên được biên soạn tích hợp những kiến thức, kỹ năng cần có trên cơ sở sơ đồ phân tích nghề và bộ phiếu phân tích công việc giới thiệu những hiểu biết chung về bệnh cá, cách phòng bệnh, nhận biết bệnh thông qua các triệu chứng, dấu hiệu bệnh và biện pháp xử lý một số bệnh thường gặp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Phòng trị bệnh cá lăng, cá chiên - MĐ04: Nuôi cá lăng, cá chiên

  1. BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN PHÒNG TRỊ BỆNH CÁ LĂNG, CÁ CHIÊN MÃ SỐ: MĐ04 NGHỀ: NUÔI CÁ LĂNG, CÁ CHIÊN Trình độ: Sơ cấp nghề Hà Nội, Năm 2014
  2. 1 TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo. Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm. MÃ TÀI LIỆU: MĐ04
  3. 2 LỜI GIỚI THIỆU Nuôi cá lăng, cá chiên là đối tượng thủy sản được nuôi nhiều tại các địa phương trong cả nước, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều hộ nông dân đã làm giàu từ mô hình nuôi cá lăng cá chiên trong các ao đất, hay lồng, bè trên sông, hồ. Để việc nuôi cá lăng, cá chiên đạt hiệu quả và cho năng suất cao, đòi hỏi bà con phải được nắm bắt được kỹ thuật nuôi, chăm sóc và phòng trị bệnh. Tuy nhiên, tài liệu hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá lăng, cá chiên không nhiều nên không ít bà con còn nuôi theo kinh nghiệm và học hỏi nhau nên cá lớn không đều, nhiễm bệnh và hao hụt nhiều, hiệu quả nuôi không cao. Xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình dạy nghề Nuôi cá lăng, cá chiên trình độ sơ cấp là một trong những hoạt động triển khai Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” để đào tạo trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng cho người làm nghề nuôi lăng, cá chiên và bà con lao động nông thôn, giảm bớt rủi ro, hướng tới hoạt động nuôi cá lăng, cá chiên phát triển bền vững. Chương trình, giáo trình dạy nghề Nuôi cá lăng, cá chiên trình độ sơ cấp gồm 06 mô đun do Trường Trung học Thủy sản chủ trì xây dựng, biên soạn từ tháng 08/2012 đến tháng 12/2012 theo quy trình được hướng dẫn tại Thông tư số 31/2010/TT-BLĐTBXH ngày 08/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình dạy nghề trình độ sơ cấp. Mô đun 01. Xây dựng ao nuôi, bè nuôi cá lăng, cá chiên Mô đun 02. Chuẩn bị ao, bè nuôi và thả giống cá lăng, cá chiên Mô đun 03. Quản lý ao nuôi, bè nuôi cá lăng, cá chiên Mô đun 04. Phòng trị bệnh cá lăng, cá chiên Mô đun 05. Thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ cá lăng, cá chiên thương phẩm Giáo trình “Phòng, trị bệnh cá lăng, cá chiên” được biên soạn tích hợp những kiến thức, kỹ năng cần có trên cơ sở sơ đồ phân tích nghề và bộ phiếu phân tích công việc giới thiệu những hiểu biết chung về bệnh cá, cách phòng bệnh, nhận biết bệnh thông qua các triệu chứng, dấu hiệu bệnh và biện pháp xử lý một số bệnh thường gặp. Giáo trình là cơ sở cho các giáo viên soạn bài giảng để giảng dạy, là tài liệu nghiên cứu và học tập của học viên học nghề “Nuôi cá lăng, cá chiên”. Nội dung giảng dạy được phân bổ trong thời gian 92 giờ và gồm 6 bài: Bài 1: Những hiểu biết chung về bệnh cá và sử dụng thuốc trong nuôi cá Bài 2: Phòng bệnh Bài 3: Chẩn đoán bệnh Bài 4: Trị bệnh do ký sinh trùng
  4. 3 Bài 5: Trị bệnh do vi khuẩn Bài 6: Trị bệnh do nấm Tập thể tác giả trân trọng cảm ơn Vụ Tổ chức Cán bộ – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Dạy nghề, các Viện, Trường, các cơ sở sản xuất, các nhà khoa học, các cán bộ kỹ thuật, các thầy cô giáo đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để giáo trình này được hoàn thành. Tuy nhiên, giáo trình cũng không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp bổ sung để giáo trình được hoàn thiện hơn. Tham gia biên soạn: 1. Chủ biên: Nguyễn Thị Phương Thanh 2. Lê Thị Minh Nguyệt 3. Đặng Thị Minh Diệu
  5. 4 MỤC LỤC Bài 1: NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ BỆNH CÁ VÀ SỬ DỤNG THUỐC TRONG NUÔI CÁ ....................................................................................................7 1. Khái niệm bệnh ....................................................................................................7 2. Nguyên nhân và điều kiện để phát sinh bệnh cá ..................................................7 3. Phân loại bệnh cá .................................................................................................9 4. Các đường lây truyền bệnh ................................................................................10 5. Các đường xâm nhập của tác nhân gây bệnh.....................................................11 6. Biện pháp phòng bệnh tổng hợp ........................................................................11 7. Sử dụng thuốc trong nuôi cá ..............................................................................13 8. Phương pháp dùng thuốc ...................................................................................15 9. Một số loại thuốc dùng cho nuôi cá lăng, cá chiên ............................................18 Bài 2: PHÒNG BỆNH CHO CÁ LĂNG, CÁ CHIÊN..........................................22 1. Tiêu diệt, ngăn chặn mầm bệnh phát triển trong ao, bè nuôi ............................22 2. Tăng cường sức khỏe cho cá..............................................................................33 3. Quản lý các yếu tố môi trường ao nuôi thích hợp và ổn định ...........................36 4. Quản lý cá bệnh, cá chết ....................................................................................47 Bài 3: CHẨN ĐOÁN BỆNH ...................................................................................49 1. Chuẩn bị dụng cụ, vật tư ....................................................................................50 2. Điều tra tình hình thời tiết ..................................................................................51 3. Điều tra sự biến đổi về các yếu tố môi trường ...................................................51 4. Điều tra tình hình quản lý chăm sóc ..................................................................51 5. Quan sát cá .........................................................................................................51 6. Kiểm tra cá .........................................................................................................53 7. Gửi mẫu cá bệnh đến cơ sở chẩn đoán bệnh......................................................58 8. Kết luận ..............................................................................................................59 Bài 4. TRỊ BỆNH DO KÝ SINH TRÙNG ............................................................. 62 1. Chuẩn bị dụng cụ, vật tư ....................................................................................62 2. Xác định bệnh thường gặp do ký sinh trùng ......................................................63 3. Xác định biện pháp trị bệnh ký sinh trùng .........................................................68 4. Thực hiện trị bệnh .............................................................................................. 69 5. Kiểm tra cá sau khi trị bệnh ...............................................................................71 Bài 5. TRỊ BỆNH DO VI KHUẨN.........................................................................73 1. Chuẩn bị dụng cụ, vật tư ....................................................................................74 2. Xác định bệnh thường gặp do vi khuẩn ............................................................. 74 3. Xác định biện pháp trị bệnh vi khuẩn ................................................................ 76 4. Thực hiện trị bệnh cho cá ..................................................................................79 5. Kiểm tra cá sau khi trị bệnh ...............................................................................80 Bài 6: TRỊ BỆNH DO NẤM GÂY RA ..................................................................82 1. Chuẩn bị dụng cụ, vật tư ....................................................................................82 2. Xác định bệnh thường gặp do nấm ....................................................................83 3. Xác định biện pháp trị bệnh ...............................................................................84 4. Thực hiện trị bệnh cho cá ..................................................................................85 5. Kiểm tra cá sau khi trị bệnh ...............................................................................87 HƯỚNG DẪN GIẢNG DẠY MÔ ĐUN ................................................................ 88
  6. 5 CÁC THUẬT NGỮ CHUYÊN MÔN Chẩn đoán: xác định bản chất của một bệnh. Ký sinh trùng: là động vật (vật ký sinh) sống nhờ hoặc trong một sinh vật sống khác (vật chủ). Vật ký sinh lấy chất dinh dưỡng và gây bệnh cho vật chủ. Vật chủ: Một cá thể sinh vật bị sinh vật khác gây bệnh. Mầm bệnh: Một tác nhân có khả năng gây bệnh. Tác nhân gây bệnh: Mọi sinh vật gây ra hoặc góp phần vào việc hình thành bệnh. Cảm nhiễm: Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể sinh vật.
  7. 6 MÔ ĐUN PHÒNG TRỊ BỆNH CÁ LĂNG, CÁ CHIÊN Mã số mô đun: MĐ04 Giới thiệu mô đun Phòng, trị bênh cá lăng, cá chiên là mô đun chuyên môn nghề thuộc chương trình dạy nghề Nuôi cá lăng, cá chiên. Sau khi học xong mô đun này người học được trang bị những kiến thức, kỹ năng về phòng trị bệnh cá và vận dụng vào sản xuất một cách hiệu quả. Nội dung giáo trình Phòng trị bênh cá lăng, cá chiên bao gồm 06 bài từ mã bài M04-1 đến mã bài M04-6 theo trình tự như sau: Những hiểu biết chung về bệnh cá và sử dụng thuốc trong nuôi cá; Phòng bệnh; Chẩn đoán bệnh; Trị bệnh do ký sinh trùng; Trị bệnh do vi khuẩn; Trị bệnh do nấm. Thời lượng giảng dạy và học tập mô đun Phòng, trị bênh cá lăng, cá chiên là 92 giờ trong đó lý thuyết: 20 giờ, thực hành: 68 giờ, kiểm tra kết thúc mô đun: 4 giờ. Trong quá trình học, học viên được cung cấp những kiến thức cần thiết để thực hiện công việc, thảo luận trên lớp theo nhóm, làm bài tập cá nhân, kết hợp với thực hành kỹ năng nghề tại cơ sở nuôi cá lăng, cá chiên và đi tham quan thực tế những mô hình nuôi cá lăng, cá chiên đạt hiệu quả cao. Kết quả học tập được đánh giá bằng hình thức kiểm tra trắc nghiệm, sử dụng bộ câu hỏi những hiểu biết chung về bệnh cá, chẩn đoán và phòng trị bệnh thường gặp ở cá lăng, cá chiên nhằm kiểm tra mức độ tiếp thu kiến thức của người học; Kết hợp đánh giá dựa trên năng lực thực hành, thao tác chuẩn xác của người học bằng các bài thực hành về phòng bệnh, xác định bệnh và xử lý bệnh thường gặp ở cá lăng, cá chiên.
  8. 7 Bài 1: NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ BỆNH CÁ VÀ SỬ DỤNG THUỐC TRONG NUÔI CÁ Mã bài: MĐ 04-1 Nuôi cá lăng, cá chiên là một trong những nghề đã đem lại nhiều lợi ích cho kinh tế hộ gia đình. Tuy nhiên, vấn đề dịch bệnh đã gây ra thiệt hại không nhỏ cho người nuôi cá. Những hiểu biết chung về bệnh cá và sử dụng thuốc trong nuôi cá sẽ giúp người nuôi hiểu được tầm quan trọng của việc phòng bệnh và sử dụng thuốc đúng nguyên tắc trong nuôi cá góp phần nâng cao năng suất cũng như chất lượng cá nuôi. Mục tiêu: - Trình bày được nguyên nhân, điều kiện phát sinh và một số bệnh cá; - Nêu được phương pháp dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng; - Trình bày được các yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc. A. Nội dung 1. Khái niệm bệnh Bệnh là quá trình suy yếu nhất định của cơ thể biểu hiện bằng các triệu chứng gây ảnh hưởng cục bộ hoặc toàn bộ cơ thể Hay nói khác bệnh là kết quả của một tổ hợp giữa ký chủ, các tác nhân gây bệnh và môi trường Ví dụ: cá giảm ăn, bỏ ăn, hoạt động chậm chạp...là dấu hiệu cá bị bệnh 2. Nguyên nhân và điều kiện để phát sinh bệnh cá Bất kỳ loại bệnh nào xảy ra và gây tác hại đến cá đều có nguyên nhân và điều kiện phát sinh của bệnh. Hiểu rõ nguyên nhân và điều kiện phát sinh bệnh, người nuôi mới có biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả. 2.1. Nguyên nhân gây bệnh ở cá Có 3 loại nguyên nhân gây ra bệnh ở cá nuôi: - Do các sinh vật gây ra bệnh: Tác nhân gây bệnh là vi rút, vi khuẩn, nấm... chúng có trong môi trường ao nuôi tấn công, xâm nhập lên trên hay vào trong cơ thể cá và gây ra bệnh hay giết chết cá. - Do các yếu tố môi trường gây ra bệnh: Khi nhiệt độ, pH, hàm lượng ôxy… trong ao nuôi xấu, nằm ngoài mức chịu đựng của cá sẽ gây chết hàng loạt rất nhanh hoặc gây sốc làm suy yếu sức khoẻ cá, tạo cơ hội cho vi rút, vi khuẩn, nấm gây bệnh tấn công. - Do dinh dưỡng: cho cá ăn không đủ hay thiếu chất dinh dưỡng cần thiết làm cơ thể cá suy yếu, khả năng đề kháng với mầm bệnh và các thay đổi của môi trường kém làm cá dễ bị bệnh.
  9. 8 2.2. Điều kiện để phát sinh bệnh Có nhiều nguyên nhân gây bệnh, nhưng bệnh có xảy ra hay không còn phụ thuộc vào các điều kiện nhất định đó là sức đề kháng của cá nuôi và các yếu tố môi trường. - Sức đề kháng của cá: + Sức đề kháng của cá là khả năng tự bảo vệ của cá trước sự tác động hoặc tấn công của tác nhân gây bệnh. + Nếu sức đề kháng của cá cao thì bệnh có thể không xảy ra, ngược lại nếu sức đề kháng yếu hay đã suy giảm thì đó là cơ hội để tác nhân gây bệnh phát triển và gây ra bệnh. + Giai đoạn cá còn nhỏ thường có sức đề kháng kém hơn cá trưởng thành nên dễ bị bệnh hơn. + Cá bị thiếu chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin, chất khoáng thì sức đề kháng giảm, bệnh dễ phát sinh. + Cá được sống trong môi trường có các yếu tố môi trường thích hợp thì sẽ có sức đề kháng cao hơn ít bị bệnh. Cá sống trong môi trường có các yếu tố nhiệt độ, oxy... không thích hợp thì dễ bị bệnh. Ví dụ: Hàm lượng ôxy hòa tan trong nước thấp sẽ làm cá yếu, sức đề kháng giảm dễ bị vi khuẩn gây bệnh xâm nhập và phát sinh bệnh. - Các yếu tố môi trường: + Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển của tác nhân gây bệnh. Trong môi trường thích hợp với vi rút, vi khuẩn, nấm, chúng sinh sản rất nhanh, tăng cường độc tố, tăng khả năng gây bệnh cho cá. Ví dụ: Môi trường nước bị ô nhiễm sẽ là điều kiện cho vi khuẩn phát triển hay nhiệt độ thấp sẽ tạo điều kiện cho nấm thủy mi phát triển... + Các yếu tố môi trường biến động lớn hoặc vượt quá ngưỡng thích hợp của cá cũng có thể trở thành nguyên nhân gây ra bệnh, gây sốc (tress) làm suy giảm sức để kháng của cá hoặc gây chết hàng loạt. Ví dụ: Hàm lượng khí độc trong nước ao nuôi quá cao cá sẽ bị chết. 2.3. Mối quan hệ giữa các nhân tố gây bệnh Mối quan hệ giữa các nhân tố gây bệnh: mầm bệnh, môi trường và vật chủ (cá nuôi) được biểu diễn ở hình 4.1.1.
  10. 9 Hình 4.1.1. Mối quan hệ giữa các nhân tố gây bệnh bệnh và điều kiện môi trường Qua Hình 4.1.1. cho thấy: 1+ 2 = Bệnh không xảy ra 2 + 3 = Bệnh không xảy ra 1 + 3 = Có thể xảy ra bệnh do môi trường 1 + 2 + 3 = Bệnh sẽ xảy ra - Bệnh cá xuất hiện khi có đầy đủ cả 3 nhân tố: môi trường xấu - mầm bệnh phát triển (virus, vi khuẩn...) - vật chủ yếu (cá yếu). - Do vậy, khi xem xét nguyên nhân gây bệnh cho cá, phải xem xét cả 3 yếu tố môi trường, mầm bệnh và cá nuôi, không nên kiểm tra một yếu tố đơn độc. - Khi thực hiện các biện pháp phòng trị bệnh phải chú ý đến cả 3 nhân tố trên, nhân tố nào dễ xử lý trước, nhân tố nào khó xử lý sau. 3. Phân loại bệnh cá 3.1. Căn cứ vào tác nhân gây bệnh - Bệnh do sinh vật gây ra: Tác nhân gây bệnh là vi rút, vi khuẩn, nấm, tảo đơn bào gây ra các bệnh truyền nhiễm hay tác nhân gây bệnh là nguyên sinh động vật, giáp xác…gây ra các bệnh ký sinh trùng. Ví dụ: bệnh nấm thủy mi ở cá - Bệnh do các yếu tố môi trường gây ra: Nhiệt độ, ôxy, pH… khi vượt quá giới hạn thích hợp sẽ gây sốc hoặc làm chết cá. Ví dụ: hàm lượng ôxy quá thấp làm cá nổi đầu hay chết. - Bệnh do dinh dưỡng gây ra: cho cá ăn không đủ, chất đạm, đường, chất béo, vitamin và khoáng trong thức ăn thừa hay thiếu đều có thể gây bệnh cho cá. Ví dụ: bệnh thiếu vitamin C, thiếu đạm... ở cá
  11. 10 3.2. Căn cứ vào tính chất cảm nhiễm của bệnh - Bệnh cảm nhiễm kết hợp: Cùng một lúc đồng thời 2 hay nhiều tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể cá làm phát sinh bệnh. Đây là loại bệnh thường xảy ra nhất với cá. - Bệnh cảm nhiễm đầu tiên: Tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cá khoẻ mạnh và làm phát sinh ra bệnh. - Bệnh cảm nhiễm tiếp tục: Tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cá và gây bệnh khi cá đã cảm nhiễm đầu tiên. Ví dụ: cá bị vi khuẩn xâm nhập sau khi cá bị những tổn thương do trùng bánh xe ký sinh gây ra. - Bệnh cũ tái phát: cá đã khỏi bệnh nhưng tác nhân gây bệnh chưa bị tiêu diệt hoàn toàn, bệnh tái phát trở lại khi gặp điều kiện như: sức khỏe cá suy yếu, chất lượng môi trường xấu, khí hậu thay đổi. 3.3. Căn cứ vào mức độ nặng nhẹ và diễn biến của bệnh - Bệnh cấp tính: Bệnh xảy ra đột ngột, diễn biến bệnh lý phát triển rất nhanh chỉ trong vài ngày đến 1-2 tuần. Tỷ lệ nhiễm bệnh trong đàn cá rất cao, có thể gây ra tỷ lệ chết cao. Tác nhân gây bệnh thường là do vi rút, vi khuẩn, nấm hay các yếu tố môi trường. - Bệnh mãn tính: Bệnh xảy ra từ từ, các dấu hiệu bệnh lý tiến triển chậm, có thể kéo dài hàng tháng, hàng năm. Tỷ lệ nhiễm bệnh trong quần đàn thấp, ít gây chết, chủ yếu ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cá. Thực tế, ranh giới giữa 2 loài này không rõ ràng, tùy theo điều kiện thay đổi mà bệnh có thể chuyển từ dạng này sang dạng khác. 4. Các đường lây truyền bệnh Mầm bệnh có thể lây truyền cho cá và gây bệnh từ nhiều đường khác nhau trong quá trình nuôi. - Do tiếp xúc trực tiếp: mầm bệnh lây truyền từ cá bị bệnh sang cá khỏe do sống chung trong môi trường nước. - Từ cá giống: cá giống mang theo mầm bệnh khi thả vào ao nuôi. - Từ nguồn nước: nước lấy vào ao nuôi nếu không xử lý hoặc xử lý không kỹ sẽ mang theo mầm bệnh vào ao nuôi và lây truyền cho cá nuôi. - Từ dụng cụ sản xuất: lưới, chài, thau... dùng chung, không xử lý sẽ lây truyền mầm bệnh giữa các ao bể. - Từ thức ăn: Sử dụng thức ăn bị ươn thối, mốc cho cá ăn. - Từ đáy ao: Mầm bệnh luôn có sẵn trong đáy ao hoặc được tích tụ trong quá trình nuôi, nếu xử lý không kỹ sẽ tấn công cá và gây bệnh khi có điều kiện. - Từ các sinh vật là ký chủ trung gian: ốc, đỉa cá hoặc các sinh vật khác như chim ăn cá có mang mầm bệnh lây truyền bệnh cho cá.
  12. 11 Hình 4.1.2. Các con đường lan truyền mầm bệnh 5. Các đường xâm nhập của tác nhân gây bệnh - Xâm nhập qua cơ quan tiêu hóa: là đường xâm nhập chủ yếu của vi khuẩn, vi rút gây bệnh, chúng theo thức ăn vào miệng, ruột gây bệnh hoặc chui qua ruột vào máu đến các cơ quan của cá gây bệnh. - Xâm nhập qua đường hô hấp: vi khuẩn, vi rút trong môi trường nước bám vào mang cá gây bệnh ở mang hoặc chui qua mang xâm nhập vào cơ thể cá gây bệnh. - Xâm nhập qua da: vi khuẩn xâm nhập qua da cá sau đó theo hệ thống tuần hoàn đến các cơ quan gây bệnh. 6. Biện pháp phòng bệnh tổng hợp Dựa trên cơ sở nguyên nhân và điều kiện phát sinh bệnh cá, người nuôi có thể giảm thiểu sự xuất hiện bệnh trong ao nuôi bằng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp theo 3 hướng: - Cải tạo môi trường nuôi, tiêu diệt nguồn gốc gây bệnh . - Tăng sức đề kháng của cơ thể động vật thủy sản nuôi. - Quản lý môi trường ao nuôi thích hợp và ổn định. 6.1. Cải tạo môi trường nuôi, tiêu diệt nguồn gốc gây bệnh Mục đích của biện pháp này là tạo môi trường sống tốt cho cá và ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập, phát triển trong quá trình nuôi, hạn chế dịch bệnh xảy ra. Để đạt được mục đích này người nuôi cần thực hiện tốt các biện pháp sau: - Tẩy dọn ao thật kỹ trước khi ương nuôi: nạo vét kỹ bùn dưới đáy ao, dọn sạch cỏ rác, phơi đáy ao, để tiêu diệt vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng gây bệnh cho cá hay các ký chủ trung gian, cá dữ, cá tạp.
  13. 12 Hình 4.1.3. Nạo vét bùn đáy - Dùng vôi rài xuống nền đáy, liều lượng: 10-15kg/100m2 để tiêu diệt vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng hay các ký chủ trung gian, cá dữ, cá tạp; định kỳ rắc vôi xuống ao nuôi cá 2 tuần/lần: 10-20g/m3 nước; treo túi vôi ở bè nuôi: 2- 4kg/10m3 bè. Hình 4.1.4. Bón vôi xuống nền đáy - Kiểm dịch giống trước khi vận chuyển, dùng các biện pháp xử lý để tránh mang mầm bệnh từ nơi này sang nơi khác . - Sát trùng cơ thể cá: mặc dù ao đã tẩy dọn kỹ, nhưng cá giống có thể mang mầm bệnh vào ao, do đó trước khi thả vào ao nuôi cần tắm cho cá bằng chất sát khuẩn để loại bỏ mầm bệnh bám trên cá. Tùy theo điều kiện cụ thể mà có thể tắm cá bằng các chất sau: phèn xanh (CuSO4 5H2O): 2-5g/m3 trong 5-15 phút; Muối ăn: 3-5%/ trong 3-5 phút; Formol: 200-300 ml/m3 trong 15-20 phút. - Sát trùng nơi cho cá ăn: nơi cho cá ăn thường có nhiều thức ăn bị thừa, thối rữa gây nhiễm bẩn và tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh phát triển. Do đó, cần dọn thức ăn thừa và khử trùng nơi cho ăn. Dễ làm nhất là treo 2-3 túi vôi
  14. 13 nung (CaO) hoặc Chlorin xung quanh chỗ ăn. Liều lượng: 2-4kg/túi vôi nung, 100-200g/ túi Chlorin. - Sát trùng dụng cụ sản xuất: dùng dung dịch Chlorin 200 g/m3 để ngâm ít nhất 1 giờ và rửa sạch mới dùng. Nên dùng dụng cụ riêng biệt từng ao, nếu dùng chung phải có biện pháp khử trùng trước khi dùng cho ao khác. 6.2. Tăng sức đề kháng của cơ thể động vật thủy sản nuôi Cá có sức đề kháng cao sẽ ít bị bệnh, khỏe mạnh, nhanh lớn, để đạt được mục đích này cần áp dụng tốt các biện pháp sau: - Mua con giống có nguồn gốc bố mẹ rõ ràng, từ các cơ sở sản xuất giống có uy tín. - Dùng thuốc phòng ngừa trước mùa phát triển bệnh: định kỳ trộn vitamin, khoáng chất, chế phẩm vi sinh vào thức ăn của cá để tăng sức đề kháng, chống sốc để phòng bệnh, nhất là vào thời điểm giao mùa. Hình 4.1.5. Trộn thuốc vào thức ăn để phòng bệnh - Chọn mật độ nuôi thích hợp, không nuôi mật độ quá cao. - Cho cá ăn đảm bảo đủ cả về chất lượng và số lượng, phù hợp với giai đoạn phát triển. 6.3. Quản lý môi trường ao nuôi thích hợp và ổn định - Quản lý chất lượng nước trong ao nuôi thật tốt, duy trì môi trường sống thích hợp giúp cá khỏe mạnh, lớn nhanh, ít bị bệnh. - Theo dõi kiểm tra môi trường ao nuôi và xử lý kịp thời, tránh để xảy ra hiện tượng các yếu tố nhiệt độ, oxy hòa tan, pH quá cao hay quá thấp hay biến động trong ngày quá lớn gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cá. 7. Sử dụng thuốc trong nuôi cá Sử dụng thuốc phòng trị bệnh cho cá cần tuân theo nguyên tắc 4 đúng: Đúng bệnh, đúng cách, đúng liều và đúng thời gian. 7.1. Tác dụng của thuốc
  15. 14 Hiểu được tác dụng của thuốc sẽ giúp người nuôi sử dụng thuốc hợp lý, đúng cách, có hiệu quả, tiết kiệm, đồng thời tránh lạm dụng thuốc gây ra những tác hại không mong muốn. 7.1.1. Tác dụng hai mặt cuả thuốc Bất cứ loại thuốc nào cũng có tác dụng 2 mặt: Tác dụng chính là tiêu diệt tác nhân gây bệnh và tác dụng phụ là tác hại đến cá nuôi và môi trường nuôi. Ví dụ: cho cá ăn thuốc kháng sinh để phòng trị bệnh vi khuẩn nhưng đồng thời tiêu diệt luôn cả vi khuẩn có lợi trong ruột cá nên khả năng tiêu hóa thức ăn giảm. Do đó, không nên lạm dụng thuốc, khi sử dụng thuốc phòng trị bệnh cá, cần tăng cường công tác quản lý chăm sóc và có biện pháp làm gảm tác dụng phụ của thuốc. 7.1.2. Tác dụng hợp đồng và tác dụng đối kháng - Tác dụng hợp đồng: là những loại thuốc khi dùng kết hợp với nhau thì tác dụng trị bệnh cao hơn nhiều so với dùng đơn độc. Ví dụ: Penicilin kết hợp với steptomycin hoặc sunfamid kết hợp với oxytetracylin, erythromycin thì làm tăng tác dụng của thuốc. - Tác dụng đối kháng: là những loại thuốc khi dùng kết hợp với nhau thì tác dụng trị bệnh thấp hơn so với dùng đơn. Do đó, không nên tùy tiện dùng kết hợp các loại thuốc. Ví dụ: Penicilin kết hợp với ocytetracylin hay erythromycin sẽ làm giảm tác dụng của từng thuốc. Hoặc dùng vôi kết hợp với chlorin sẽ làm mất tác dụng diệt trùng cuả Clo. 7.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc 7.2.1. Giai đoạn phát triển và sức khỏe của cá - Giai đoạn cá nhỏ thì khả năng chịu đựng với tác dụng của thuốc thấp hơn giai đoạn cá lớn, nên liều dùng thuốc với cá nhỏ thấp hơn cá lớn. - Cá bị bệnh hay bệnh nặng có sức chịu đựng với liều lượng thuốc thấp hơn so với cá không bị bệnh hay bênh nhẹ. Do vậy, phát hiện bệnh ở thời kỳ sớm sẽ cho phép dùng thuốc với nồng độ cao và hiệu quả hơn. 7.2.2. Liều lượng thuốc dùng - Về nguyên tắc chung: liều lượng dùng thuốc tăng thì tác dụng diệt trùng của thuốc cũng tăng, nhưng tác dụng phụ của thuốc đối với cá cũng tăng lên. Dùng thuốc với liều quá thấp thì không phát sinh tác dụng. - Liều lượng thuốc dùng trong phòng trị bệnh cá thường chọn giữa 2 mức: liều lượng thuốc thấp nhất phát sinh tác dụng tiêu diệt mầm bệnh và liều thuốc cao nhất mà cá chịu đựng được. Liều lượng thuốc vuợt quá ngưỡng này sẽ dẫn đến cá bị ngộ độc hoặc làm cá chết.
  16. 15 - Liều lượng thuốc cho vào nước để phòng trị bệnh cá thường được tính theo thể tích nước. Liều lượng thuốc cho cá ăn thường tính theo khối lượng cá hay khối lượng thức ăn. - Khi lựa chọn liều lượng dùng thuốc cần phải đạt 3 mục đích: Tiêu diệt được mầm bệnh, đảm bảo được sức khoẻ cá nuôi và hiệu quả kinh tế cao nhất. 7.2.3. Điều kiện môi trường Tác dụng của thuốc cũng như hiệu quả của việc phòng trị bệnh chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố môi trường như: Nhiệt độ, ôxy, pH...Do đó, khi sử dụng thuốc tắm cho cá hay cho xuống ao cần lựa chọn thời gian, liều dùng thích hợp với điều kiện cụ thể. - Khi nhiệt độ tăng (trong phạm vi nhất định) thì tác dụng của thuốc sẽ mạnh hơn, khi nhiệt độ giảm thì tác dụng của thuốc giảm. Do đó, cùng một loại thuốc nhưng khi nhiệt độ cao dùng nồng độ thấp hơn khi nhiệt độ thấp. Ví dụ: Tắm phèn xanh cho cá với liều lượng: 3-7g/m3 trong 5-15 phút. Ở nhiệt độ cao nên tắm cho cá với liều lượng 3g/m3, ở nhiệt độ thấp nên tắm 7g/m3. - Trong môi trường pH cao thì tác dụng diệt khuẩn của các hợp chất chứa Cl (Chlorin) giảm, ngược lại pH thấp thì tác dụng diệt khuẩn tăng. Do đó, không nên sử dụng các sản phẩm này trong môi trường pH cao. Ví dụ: Chlorin trong môi trường nước có pH thấp thì tác dụng diệt khuẩn cao hơn trong môi trường pH cao - Hàm lượng ôxy hòa tan trong nước thấp thì sức chịu đựng cuả cá đối với thuốc giảm, phạm vi an toàn của thuốc giảm. Do đó, cần cải thiện hàm lượng ôxy trước khi cho thuốc xuống ao để không gây nguy hiểm cho cá. - Hàm lượng NH3, H2S, chất hữu cơ trong nước cao thì tác dụng của thuốc giảm vì một lượng thuốc nhất định bị tiêu tốn vào qúa trình ôxy hoá. Mặt khác, trong môi trường có hàm lượng khí độc cao, sức chịu đựng của cá với thuốc giảm, gây ảnh hưởng xấu đến cá. Vì vậy, cần cải thiện môi trường trước khi cho thuốc xuống ao để phòng trị bệnh. 8. Phương pháp dùng thuốc Phương pháp dùng thuốc khác nhau sẽ có tác dụng khác nhau. Tùy theo từng loại bệnh, mức độ cảm nhiễm của bệnh, giai đoạn phát triển của cá và điều kiện sản xuất của cơ sở mà người nuôi lựa chọn phương pháp dùng thuốc cho phù hợp để có hiệu quả phòng trị bệnh cao nhất. 8.1. Phương pháp tắm cho cá - Tập trung cá trong một bể nhỏ, pha thuốc với nồng độ tương đối cao, tắm cho cá trong thời gian ngắn để tiêu diệt các sinh vật gây bệnh bên ngoài cơ thể cá.
  17. 16 Phương pháp này tốn ít thuốc, không ảnh hưởng đến môi trường và thức ăn tự nhiên trong ao. Tuy nhiên, muốn tắm cho cá thì phải kéo lưới đánh bắt, cá dễ bị xây xát, không tiêu diệt được mầm bệnh bên trong cơ thể cá và ngoài môi trường nước. Phương pháp tắm thường thích hợp khi vận chuyển cá đi xa, từ ao này sang ao kia; con giống trước khi thả nuôi; cá bố mẹ trước khi cho đẻ. 8.2. Phương pháp cho thuốc xuống ao - Là dùng thuốc phun xuống ao nuôi tạo môi trường cá sống với nồng độ thuốc thấp (bằng 1/10 so với tắm) song thời gian tác dụng của thuốc dài. Hình 4.1.6. Tạt thuốc xuống ao Cho thuốc xuống ao có ưu điểm là dễ tiến hành, trị bệnh kịp thời, ít tốn nhân công. Tiêu diệt được mầm bệnh ký sinh bên ngoài cá và trong môi trường nước tương đối triệt để. Tuy nhiên tốn thuốc, khó tính được liều lượng thuốc dùng chính xác. Trong các trường hợp sử chất sát khuẩn như Chlorin, formol...còn ảnh hưởng tới sức khoẻ cá nuôi và điều kiện môi trường nước. Tiêu diệt các sinh vật có lợi.. Những loại thuốc có phạm vi an toàn nhỏ, không có kinh nghiệm sử dụng có thể ảnh hưởng đến cá nuôi. Do vậy, khi cho các chất sát khuẩn xuống ao phòng trị bệnh cho cá cần có các giải pháp hạn chế tác dụng phụ tới môi trường và sức khoẻ cá nuôi: - Thay nước mới sau một khoảng thời gian dùng thuốc. - Sau 2-3 ngày cho chất sát khuẩn xuống ao nên sử dụng chế phẩm sinh học để phục hồi hệ vi khuẩn có lợi trong môi trường ao nuôi. 8.3. Phương pháp trộn thuốc vào thức ăn - Dùng thuốc trộn vào thức ăn với liều lượng thích hợp, để phòng trị bệnh bên trong cơ thể cá.
  18. 17 - Là phương pháp dùng phổ biến trong nuôi cá đối với các loại thuốc là kháng sinh, chế phẩm sinh học, vaccine, vitmin, khoáng chất. Phương pháy này có ưu điểm là thao tác đơn giản, dễ làm. Tiêu diệt được mầm bệnh bên trong vật nuôi. Tác dụng nhanh, không ảnh hưởng đến điều kiện môi trường. Hình 4.1.7. Trộn thuốc vào thức ăn Tuy nhiên phương pháp trộn thuốc vào thức ăn có nhược điểm là một phần thuốc bị phân tán ra ngoài môi trường nước. Những con cá bị bệnh nặng, yếu, đã bỏ ăn thì không sử dụng được thuốc, ngược lại những con cá khoẻ thì ăn nhiều hơn yêu cầu, gây ngộ độc. Lưu ý: - Phương pháp trộn thuốc vào thức ăn chỉ có hiệu quả cao khi phát hiện bệnh ở thời kỳ sớm, cá còn bắt mồi. - Nên trộn thuốc vào thức ăn ưa thích nhất, sau đó bao thức ăn có thuốc bằng vật liệu ít tan trong nước như dầu mực, dầu đậu nành… - Khẩu phần thức ăn trộn thuốc ít hơn khẩu phần ăn bình thường để cá nhanh chóng ăn hết thức ăn. 8.4. Phương pháp treo thuốc - Sử dụng một lượng thuốc nhất định đựng trong một tuí, thuốc sau khi đã hoà tan có thể đi qua túi vào môi trường nước. - Phương pháp này thường dùng với các loại thuốc sát trùng có khả năng hoà tan trong nước, treo ở những nơi ô nhiễm có nhiều mầm bệnh hay lồng, bè nuôi cá (treo túi vôi CaO: 2-4kg/túi)
  19. 18 Treo thuốc là phương pháp dễ làm, tiết kiệm thuốc. Ít ảnh hưởng đến cá. Nhưng nhược điểm là chỉ tiêu diệt được mầm bệnh xung quanh khu vực treo tuí thuốc. Chỉ có hiệu quả với phòng bệnh, ít hiệu quả với chữa bệnh. 9. Một số loại thuốc dùng cho nuôi cá lăng, cá chiên Thuốc dùng cho nuôi cá có thể chia thành các loại sau: - Chất sát trùng - Thuốc kháng sinh - Chế phẩm vi sinh - Chất bổ dưỡng - Thuốc có nguồn gốc từ thực vật 9.1. Chất sát trùng - Là những hóa chất có khả năng diệt được nhiều tác nhân gây bệnh như: vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng. Được dùng để xử lý nước, sát trùng ao, bể, lồng bè, dụng cụ sản xuất, phòng trị bệnh bên ngoài cơ thể cá. - Một số chất sát trùng thường được sử dụng trong nuôi cá là: vôi, chlorin, formol, sunphát đồng, thuốc tím, vikon... * Khi sử dụng chất sát trùng trong nuôi cá cần chú ý: - Chất sát trùng chỉ phát huy tác dụng khi chúng hoà tan trong môi trường nước. Do đó, phương pháp dùng thuốc sát trùng thường là: tắm, ngâm, phun xuống ao, bể và treo túi thuốc. - Phải xác định nồng độ và thời gian dùng thích hợp với từng loại tác nhân gây bệnh và sức chịu đựng của cá với thuốc, tránh trường hợp làm cá chết do thuốc. - Thận trọng khi dùng thuốc sát trùng vì phần lớn thuốc sát trùng có tính độc cao với động vật thủy sản và sức khoẻ con người. - Công nhân khi tiếp xúc với thuốc phải có dụng cụ bảo hộ lao động để tránh ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ. 9.2. Thuốc kháng sinh - Thuốc kháng sinh thường được dùng để trị các bệnh nhiễm khuẩn và đã đem lại hiệu quả cao nếu dùng đúng thuốc, đúng liều và đúng thời điểm. - Tuy vậy, thuốc kháng sinh cũng là con dao 2 lưỡi, có thể ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của động vật thủy sản sử dụng nó và cũng có tác động không nhỏ đến môi trường sinh thái. Nếu dùng kháng sinh tùy tiện và thiếu hiểu biết có khả năng làm giảm sức đề kháng của cá với mầm bệnh. - Một số kháng sinh thường dùng trong nuôi cá là: oxytetracyclin (tetramycin), erythromycin, rifamyxin, steptomycin những loại kháng sinh này có thể thay thế các loại kháng sinh cấm ở Việt Nam như: chloramphenicol, nitrofuran, furazolidon, furazon, metrodidazole.
  20. 19 * Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản: Khi sử dụng kháng sinh trong nuôi cá phải thận trọng và tuân theo những nguyên tắc dưới đây: - Chỉ dùng kháng sinh để trị các bệnh do vi khuẩn gây ra và chỉ dùng trong trường hợp cần thiết (khi bệnh đã bùng phát). - Không nên dùng kháng sinh để phòng bệnh, chỉ nên dùng để trị bệnh. Khi dùng kháng sinh với liều thấp, kéo dài liên tục sẽ ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ cá nuôi và gây hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh làm cho việc trị bệnh khó khăn và tốn kém. Thuốc phải được luật pháp của các nước cho phép sử dụng. - Không nên dùng kháng sinh của người để trị bệnh cho cá vì sẽ không có hướng dẫn về nồng độ, cách dùng đối với cá. - Chỉ dùng kháng sinh có nguồn gốc rõ ràng, chuyên dùng trong nuôi thủy sản, có chỉ rõ liều lượng, cách dùng của nhà sản xuất. - Dùng phải đúng nồng độ, đúng thời gian, ít nhất 3 ngày nhiều nhất 7 ngày, trung bình là 5 ngày. Nên dùng kết hợp kháng sinh để có tác dụng hợp đồng và giảm nguy cơ kháng thuốc. - Dùng đúng thời điểm khi cá mới chớm bệnh còn khả năng bắt mồi mới có hiệu quả. Cá đã bệnh nặng bỏ ăn thì hiệu quả rất thấp. - Ngừng dùng kháng sinh trước khi thu hoạch 14 ngày để giảm lượng kháng sinh tồn đọng trong cá. - Chọn lựa và sử dụng đúng loại thuốc kháng sinh nằm trong danh mục cho phép sử dụng Không dùng các loại thuốc kháng sinh đã bị cấm trong nuôi trồng thủy sản. Ví dụ như Chloramphenicol, Green Malachite… 9.3. Chế phẩm vi sinh - Thành phần của chế phẩm vi sinh gồm vi sinh vật có lợi và men, có khả năng phân giải chất hữu cơ, hấp thu khí độc, ngăn ngừa sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh. - Chế phẩm vi sinh được sử dụng cho xuống ao để quản lý chất thải trong ao nuôi hoặc cho cá ăn để phòng bệnh đường ruột và giúp cá ăn nhiều hơn. - Sử dụng chế phẩm vi sinh sẽ hạn chế sử dụng thuốc sát khuẩn, thuốc kháng sinh cho cá nuôi - Các loại chế phẩm vi sinh dùng trong nuôi cá như: Zymetin, Super-VS, Hi-Pro....9.4. Nhóm chất bổ dưỡng - Các sản phẩm được dùng phổ biến là vitamin C, vitamin tổng hợp như Stay-C, Aqua C Fish, Grow Fish, Antistress Fish… - Vitamin, khoáng chất thường được bổ sung vào thức ăn của cá giúp cá có sức đề kháng cao, tiêu hóa thức ăn tốt, ít bị bệnh, lớn nhanh.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản