intTypePromotion=1
ADSENSE

Giáo trình Tài chính quốc tế: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Liên (Chủ biên)

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:196

15
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình "Tài chính quốc tế" được biên soạn nhằm cung cấp tài liệu phục vụ cho giảng dạy và học tập của sinh viên thuộc các khối ngành Kinh tế và Quản trị kinh doanh nói chung, sinh viên các chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng nói riêng của nhà trường, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các độc giả quan tâm đến lĩnh vực này. Giáo trình được kết cấu thành 9 chương và chia làm 2 phần, phần 2 trình bày những nội dung về: đầu tư quốc tế; tín dụng quốc tế; viện trợ phát triển chính thức; thuế quan và liên minh thuế quan; cán cân thanh toán quốc tế;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Tài chính quốc tế: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Liên (Chủ biên)

  1. Chương 5 DẤU Tơ QUỐC TÊ Đầu tư quốc tế là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ra nước ngoài nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và các mục tiêu kinh tế - xã hội khác. Dưới góc độ tài chính quốc tế, đầu tư quốc tế là sự di chuyển một luồng vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác để kinh doanh với mục tiêu đa dạng hóa thị trường nhằm tối đa lợi nhuận và tối thiểu hóa rủi ro. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các hình thức dầu tư kinh doanh quốc tế cũng ngày càng phong phú và đa dạng. Mỗi hình thức đầu tư có những đặc điểm riêng về cách thức đầu tư vốn, về tính chất liên kết và phân chia kết quả đầu tư, kết quả kinh doanh... Nội dung chương 5 Giáo trình sẽ giới thiệu cùng bạn đọc 2 hình thức đầu tư quốc tế phổ biến, đó là: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp với những đặc điểm, lợi ích và bất lợi của mỗi hình thức đầu tư xét trên 2 góc độ chủ thể đầu tư và chủ thể tiếp nhận vốn đầu tư; tính toán và đo lường ngân sách đầu tư và tỉ suất sinh lợi; đồng thời phân tích một số khó khăn, vướng mắc trong đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư nước ngoài. 5.1. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI - FDI 5.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của FDI • Khái niệm Như đã nêu ở chương 1, FDI là hình thức đầu tư dài hạn của một chủ thể (cá nhân hay công ty) nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh và chủ thể đầu tư sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh đó. Như vậy, FDI gắn liền với sự di chuyển một khối lượng nguồn vốn dài hạn, trong đó chủ đầu tư nước ngoài đàu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vào các dự án, các doanh nghiệp nhàm dành quyền điều hành và quản lí đối tượng mà họ đã bỏ vốn đầu tư. 155
  2. Bàng 5.1: Luồng vốn FDI phân bổ theo nhóm nước và khu vực (2005-2008) Đơn vị: tỉ USD 2005 2006 2007 2008 Vốn +/- (%) Vốn +/- (%) Vốn +/- (%) Toàn cầu 958,7 1411,0 47,18 1833,3 30,0 1449,1 -21,0 NKT phát triển 611,3 940,8 53,9 1247,6 32,6 840,1 -32,7 - châu Âu 505,5 599,3 18,6 848,5 41,6 562,3 -33,7 -Mĩ 104,8 236,7 126,0 232,8 -1,7 2200 -5,5 -Nhật 2,8 -6,5 -222,0 22,5 336,0 17,4 -22,6 NKT đang PT 316,4 413,0 30,5 499,7 21,0 517,7 3,6 - Châu Phi 29,4 45,7 55,4 53,0 16,0 61,9 16,8 - MĩLT&Caribe 76,4 92,9 21 6 1263 36,0 142,3 12,7 - Châu Á 210,6 2743 30,2 320,5 168 313,5 -2,2 - Tây Á 426 64,0 50,2 71,5 11,7 56,3 -21,3 - Nam, Đông Á và 167,4 208 9 24,8 2478 18,6 256,1 3,3 ASEAN NKTchuyển đổi 30,9 57,2 85,1 85,9 50,1 91,3 6,2 Nguồn: Báo cáo đầu tư toàn cẩu 2008 (UNCTAD), Đánh giá của UNCTAD về luồng vổn FDI trong bổi cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu (tháng 1/2009) • Những nhân tố thúc đấy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài - Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước Helpman và Sibert, Richard s. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có đừợc do dùng thêm một dơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận. - Chu kỳ sản phâm Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường nội địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay 156
  3. thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài. Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện. Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI. Raymond Vemon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sán xuất thấp hơn. - Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia Stephen H. Hymes (1960, công bố năm 1976), John H. Dunning (1981), Rugman A. A. (1987) và một số người khác cho ràng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn nàng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai, chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên. Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng... - Tiêp cận thị trường và giảm xung đột thương mại Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại, còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Đe đối phó với những rào càn trong xuất khẩu hàng hóa, Nhật Bản dã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu. - Khai thác chuyên gia và công nghệ Không phải FDI chỉ di theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ. Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế 157
  4. xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tưcmg tự. Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ. Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL - Thompson Electroincs, việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy. - Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên Đe có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Thông qua FDI, nhà đầu tư tận dụng được ưu thế của nước tiếp nhận đầu tư nhưng nhà đầu tư vẫn đảm bảo được quyền sở hữu, quản lí, kiểm soát của mình, nhờ đó làm gia tăng thu nhập. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này. FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự. • Đặc điểm của FDI - Được thực hiện chủ yếu bàng nguồn vốn tư nhân, chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh, không có các ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế. - Chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp điều hành hoặc tham gia điều hành dự án, doanh nghiệp đầu tư theo tỉ lệ góp vốn. - Vốn đầu tư trực tiếp được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: tài sản hữu hình (tiền, máy móc thiết bị, nhà xưởng, tài nguyên...), tài sản vô hình (bí quyết kĩ thuật, bàng phát minh, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp...) • Vai trò của FDI —► Đối với chủ đầu tư Đứng trên giác độ người đầu tư, khi thực hiện hoạt động FDI sẽ có một số lợi ích cơ bản sau: 158
  5. - FDI tạo điều kiện thu hút nhu cầu mới. Khi nhu cầu về một loại sản phẩm nào đó ở trong nước suy giảm hoặc trở nên bão hòa, việc cân nhắc để lựa 'chọn thị trường nước ngoài - nơi có nhu cầu tiểm ẩn về sản phẩm đó thông qua FDI là giải pháp có tính khả thi. - Tận dụng được lợi thế của nước tiếp nhận đầu tư: chi phí sử dụng đất, lao động rẻ, sử dụng nguyên liệu thô để sản xuất tại chỗ nhằm giảm chi phí vận chuyển do phải nhập nguyên vật liệu, sử dụng công nghệ hiện hữu của nước ngoài (thông qua mua lại doanh nghiệp)... nhờ đó giảm chi phí sản xuất, nâng cao lợi nhuận. - ứng phó với các hạn chế thương mại, các hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước. Trong một số trường hợp, các nhà đầu tư có thể sử dụng FDI như một chiến lược phòng ngự hơn là tấn công. Chẳng hạn, nhà máy sản xuất ô tô của Nhật sẽ thành lập ở Mĩ do tiên đoán rằng việc xuất khẩu ô tô sang Mĩ sẽ chịu ảnh hưởng của những hạn chế thương mại ngặt nghèo. Mặt khác, FDI giúp chủ đầu tư có điều kiện đổi mới cơ cấu sản xuất, áp dụng công nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh. - Ngoài ra, thực hiện FDI nhà đầu tư có cơ hội để tận dụng những lợi thế do sự thay đổi về tỉ giá, bành trướng sức mạnh kinh tế, tài chính, nâng cao uy tín, mở rộng thị trường tiêu thụ... Bàng 5.2: Tóm tắt lợi ích và cách thức sử dụng FDI để khai thác lợi ích Lợi ích Cách thức sử dụng FDI để khai thác lợi ích Thu hút nhu cầu mới Thiết lập một chi nhánh hoặc mua lại một đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước ngoài. Sừ dụng đất đai và lao Thiết lập chi nhánh, công ty ở thị trường có chi phí đất đai và lao động ở nước ngoài động thấp, bán thành phẩm tới các nước mà ờ đó chi phí sản xuất cao hơn. Sừ dụng nguyên liệu thô Thiết lập chi nhánh, công ty ở thị trường có nguyên liệu thô rẻ và có thẻ dùng được, bán thành phẩm ở các nước có nguyên liệu thó đắt hơn. Sừ dụng công nghệ Tham gia vào một liên doanh để học tập công nghệ và các kĩ nước ngoài năng quàn li. ứng phó với các hạn Thiết lập chi nhánh, công ty ở thị trường trong đó các hạn chế chế thương .mại thương mại chặt chẽ hơn đối với hoạt động xuất khẩu. Khai thác lợi thế độc Thiết lập chi nhánh, công ty ờ thị trường trong đó các đối thủ cạnh quyền tranh không thể sản xuất được sản phẩm tương tự và bán các sản phẩm ở nước này. 159
  6. —‘^■Đối vói nước nhận đầu tư + Lợi ích cùa thu hút FDỈ - Bổ sung cho nguồn von trong nước Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI. - Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bàng "chính sách thắt lưng buộc bụng". Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bàng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bàng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý dó ra cả nước thu hút đau tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước. - Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ doanh nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các doanh nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu. - Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn dó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được doanh nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dường nghiệp vụ ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 160
  7. - Nguồn thu ngân sách lớn Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50% số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006. + Hạn chế của FDỈ FDI cũng có những hạn chế nhất định. Thông thường luồng vốn FDI chỉ đi vào những nước có môi trường kinh tế - chính trị ổn định, môi trường đầu tư hấp dẫn. Nếu nước nhận đầu tư không có quy hoạch đầu tư chi tiết, cụ thể và khoa học dễ dẫn tới tình trạng đầu tư tràn lan, tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực khác bị khai thác cạn kiệt, khó bố trí dầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ. Nếu việc thẩm định dự án đầu tư không chặt chẽ, nước thu hút vổn đầu tư còn có thể trở thành nơi nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu. Nếu chính sách, pháp luật cạnh tranh của nước tiếp nhận vốn đầu tư không đầy đủ có thể dẫn tới tình trạng doanh nghiệp nước ngoài chèn ép doanh nghiệp trong nước... Ở Việt Nam, Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam được ban hành năm 1987 đã thể chế hóa đường lối của Đảng, mở đầu cho việc thu hút và sử dụng hiệu quà nguồn vốn ĐTNN, theo phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại; góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế. Kể từ khi ban hành năm 1987 đến nay, Luật ĐTNN đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000; cùng với các văn bản dưới Luật đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một đạo luật thông thoáng, hấp dẫn, về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế. Pháp luật ĐTNN và các văn bản pháp luật liên quan đến ĐTNN được ban hành đã tạo môi trường pháp lý đồng bộ cho các hoạt động ĐTNN tại Việt Nam. Cùng với việc hoàn thiện hệ thông pháp luật, khung pháp lý song phương và đa phương liên quan đến ĐTNN cũng không ngừng được mở rộng và hoàn thiện với việc nước ta đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với các nước và vùng lãnh thổ. Vì vậy, ngay trong điều kiện cơ chế thị trường của Việt Nam chưa hoàn thiện, các nhà ĐTNN vẫn có thể tiến hành các hoạt động đầu tư thuận lợi ở Việt Nam mà không có sự khác biệt đáng kể so với một số nước có kinh tế thị trường truyền thống. 161
  8. Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo "một sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư, năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2006, thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Sự thay đổi này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn ĐTNN, một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Mặt khác, đó cũng là yêu cầu phù hợp với quy luật chung, nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế trong từng thời kỳ, để tiến tới một đạo luật ngày càng hoàn chỉnh phù họp với xu thế hội nhập, nâng cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ĐTNN. Thực tế đã chứng minh việc ban hành Luật Đầu tư đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra những chuyển biến tích cực của tình hình ĐTNN vào Việt Nam kể từ năm 2006 tới nay. Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm). Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, đến cuối năm 2007 có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD. Trong hoạt động FDI tại Việt Nam, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất với 5.745 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, chiếm 66,8% về số dự án, 61% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện. Bảng 5.3: Tình hình FDI tại Việt Nam đến năm 2007 Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng TT Chuyên ngành Số dự án Vốn đầu tư (USD) Vốn thực hiện (USD) 1 CN dầu khí 38 3.861.511.815 5.148.473.303 2 CN nhẹ 2.542 3.268.720.908 3.639.419.314 3 CN nặng 2.404 23.976.819.332 7.049.365.865 4 CN thực phẩm 310 3.621.835.550 2.058.406.260 5 Xây dựng 451 5.301.060.927 2.146.923.027 Tổng số 5.745 50.029.948.532 20.042.587.769 Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư 162
  9. Trong khu vực dịch vụ, ĐTNN tập trung chủ yếu vào kinh doanh bất động sản, bao gồm: xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp (42% tổng vốn ĐTNN trong khu vực dịch vụ), du lịch - khách sạn (24%), giao thông vận tải - bưu điện (18%). Bảng 5.4: Tình hình FDI tại Việt Nam đến năm 2007 Lĩnh vực dịch vụ Đầu tư Vốn đầu tư TT Chuyên ngành Số dự án đã thực hiện (triệu USD) (triệu USD) 1 Giao thông vận tải - Bưu điện (bao 208 4.287 721 gồm cà dịch vụ logicstics) 2 Du lịch - Khách sạn 223 5.883 2.401 3 Xây dựng văn phòng, căn hộ để bán 153 9.262 1.892 và cho thuê 4 Phát triển khu đô thị mới 9 3.477 283 5 Kinh doanh hạ tầng KCN -KCX 28 1.406 576 6 Tài chính - ngân hàng 66 897 714 7 Văn hoá - y tế - giáo dục 271 1.248 367 8 Dịch vụ khác (giám định, tư vấh, trợ 954 2.145 445 giúp pháp lý, nghiên cứu thị trường..;) Tổng cộng 1.912 28.609 7.399 Nguồn: Bộ Kể hoạch và Đầu tư Các dự án ĐTNN trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp tập trung chủ yếu ở phía Nam. Vùng Đông Nam bộ chiếm 54% tổng vốn đăng ký của ngành, đồng bằng sông Cửu Long 13%, duyên hải Nam Trung bộ 15%. Miền Bắc và khu vực miền Trung, lượng vốn đầu tư còn rất thấp, ngay như vùng đồng bàng sông Hồng lượng vốn đãng ký cũng chỉ đạt 5% so với tổng vốn đăng ký của cả nước. 163
  10. Bảng 5.5: Tinh hình FDI tại Việt Nam đến năm 2007 Lĩnh vực Nông, Lâm và Ngư nghiệp Ngành Số dự án Vốn đăng kỷ (USD) Vốn thực hiện (USD) 1 Nông, Lâm nghiệp 803 4.014.833.499 1.856.710.521 2 Thủy sàn 130 450.187.779 169.822.132 Tổng số 933 4.465.021.278 2.026.532.653 Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư Năm 2008, tổng số dự án FDI được cấp mới vào Việt Nam cả năm là 1.171 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 60,217 tỷ USD (bên Việt Nam chiếm khoảng 10%) tăng 222% so với năm 2007. Trong năm 2008, số dự án tăng vốn cũng rất lớn với 311 dự án đăng ký tăng vốn với tổng số vốn đăng ký tăng thêm 3,74 tỷ USD. Chỉ tính riêng số vốn tăng thêm của các dự án đang hoạt động tại Việt Nam trong năm 2008 đã tương đương với tổng số vốn đăng ký mới trong một năm của đầu những năm 2000. Do đó, tính chung cả vốn đăng ký cấp mới và vốn đăng ký tăng thêm, tổng số vốn FDI đăng ký tại Việt Nam năm 2008 đạt 64,011 tỷ USD, tăng 199,9% so với năm 2007. Tổng số vốn giải ngân trong năm 2008 của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam lên con số 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2007. Trong năm 2008, vốn đăng ký mới tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48,85% về sổ dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án với tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn đầu tư đãng ký. số còn lại thuộc lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp. Các dự án ĐTNN trong năm 2008 thực hiện chủ yếu theo hình thức 100% vốn nước ngoài (882 dự án, vốn đăng ký 31,16 tỷ USD), chiếm 75,3% về số dự án và 51,7% về vốn đăng ký. số dự án theo Hình thức liên doanh có 213 dự án với vốn đăng ký 27,16 tỷ USD, chiếm 18,2% về số dự án và 45,1% về vốn đăng ký. Còn lại là các dự án theo hình thức khác. Trong 6 tháng đầu năm 2009 cả nước có 306 dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 4,7 tỷ USD. Tuy chỉ bằng 13,3% so với cùng kỳ năm 2008 nhưng 4,7 tỷ USD đăng ký mới cũng là con số khá cao trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay và bằng tổng mức vốn đăng ký mới của cả năm 2005. Cũng trong 6 tháng đầu năm 2009, có 68 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,1 tỷ USD, tăng 13,8% 164
  11. so với cùng kỳ năm 2008, thể hiện niềm tin của các nhà đầu tư vào khả năng phục hồi và tiềm năng phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Trong thời gian nửa đầu năm 2009, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 4 tỷ USD, bàng 81,6% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó vốn từ nước ngoài dự kiến 3,3 tỷ USD. So với mục tiêu giải ngân 8 tỷ USD năm 2009, nhìn chung các dự án ĐTNN đang triển khai phù họp với tiến độ dự kiến. Tính lũy kế đến 19/6/2009, cả nước có 10.409 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 164,7 tỷ USD. Bảng 5.6: Diễn biến FDI vào Việt Nam từ 2001-2009 Đơn vị: triệu USD Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Số dự án 555 808 791 811 970 987 1.544 1.171 Vốn đăng ký 3.142,8 2.998,8 3.191,2 4.547,6 6.839,8 12.004,0 21.347,8 64.011,0 21.480 Vốn thực hiện. 2.450,5 2.591,0 2.650,0 2.852,5 3.308,8 4.100,1 8.030,0 11.600,0 10.000 Giá trị TB của 5,6627 3,7113 4,0343 5,6073 7,0513 12,162 13,826 54,6635 1 dự án Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư Những tảc động tích cực của FDI vào Việt Nam - ĐTNN là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tứ đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế, đóng góp đáng kể vào NSNN (năm 2008, khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1,982 tỷ USD, tạo ra trên 200 nghìn việc làm mới, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI lên 1,467 triệu người). FDI đã có những tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc và nguyên, vật liệu... - ĐTNN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp. FDI đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may... 165
  12. - ĐTNN thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy... - Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ĐTNN có tác động lan tỏa đến các thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Mặt khác, các doanh nghiệp ĐTNN cũng tạo ra động lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa. - ĐTNN góp phần giúp Việt Nam mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư. Đến nay, Việt Nam là thành viên chính thức cùa ASEAN, APEC, ASEM và WTO. Nước ta cũng đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định tự do hoá, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản. Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện. Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, hoạt động ĐTNN tại Việt Nam cũng còn những mặt hạn chế nhất định. Đó là, sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ; tranh chấp lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được giải quyết kịp thời; đặc biệt là sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ. Nhìn chung công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp ĐTNN thường cao hơn mặt bàng công nghệ cùng ngành và cùng loại sản phẩm tại nước ta. Tuy vậy, một số trường hợp các nhà ĐTNN đã lợi dụng sơ hở của pháp luật Việt Nam, cũng như sự yếu kém trong kiểm tra, giám sát tại các cửa khẩu nên đã nhập vào Việt Nam một số máy móc thiết bị có công nghệ lạc hậu thậm chí là những phế thải của các nước khác. Trong thời gian tới, dự báo vốn ĐTNN vẫn sẽ tập trung chủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi về địa lý - tự nhiên, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm. Để tăng cường thu hút ĐTNN tại những vùng có điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, bên cạnh những ưu đãi đối với ĐTNN tại các vùng đó, đòi hỏi phải tăng cường đầu tư xây dựng nhanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông, điện, nước ở các vùng kinh tế khó khăn bàng nguồn vốn nhà nước, vốn ODA và nguồn vốn tư nhân. 166
  13. Tập trung thu hút đầu tư, lấp đầy các KCN - K.CX - KCNC, khu kinh tế đã được Chính phủ phê duyệt góp phần đẩy nhanh việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Tận dụng những khu vực đất trống, đồi trọc, ít giá trị nông nghiệp để phát triển KCN, xây dựng nhà máy, hạn chế xây dựng KCN - KCX -KCNC trên đất canh tác nông nghiệp truyền thống. Cùng với hoạt động FDI tại Việt Nam, FDI của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài cũng có xu hướng tăng trong những năm gần đây, góp phần không nhỏ trong việc khai thác những tác động tích cực từ hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bảng 5.7: Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam (2006-2007) Tổng vốn Lĩnh vực công Lĩnh vực nông Lĩnh vực Năm Số dự án đăng kí nghiệp nghiệp dịch vụ (triệu USD) (triệu USD) (triệu USD) (triẹu USD) 2006 33 136,0 6,0 47,0 83,0 2007 64 391,2 147,1 156,8 87,3 Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch & Đằu tư Thị trường đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam cũng không ngừng gia tăng, đến nay thị trường FDI của Việt Nam đã vươn tới 35 nước và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, ngoại trừ một số dự án thăm dò khai thác dầu khí tại Angiêri, Iraq, Madagasca, phần lớn các dự án còn lại được tập trung tại 3 nước Lào, Cămpuchia và Liên bang Nga. Tính đến ngày 20 tháng 12 năm 2008, Việt Nam đã có 146 dự án đầu tư sang Lào với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,52 tỷ USD, quy mô bình quân một dự án là 10,4 triệu USD. Lào là địa bàn thu hút nhiều nhất đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài. Bảng 5.8: sổ dự án và vốn FDI của Việt Nam tại ba nước Tính đến hết năm 2007 Dự án Vốn đầu tư Tên nước Số lượng Tỉ lệ (%) Vốn (triệu USD) Tỉ lệ (%) Lào 86 34,5 583,8 42,0 Cămpuchia 27 10,8 88,4 6,3 Liên bang Nga 12 4,8 48,1 5,6 Tổng 3 nước 125 50,1 620,3 53,9 Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch & Đầu tư 167
  14. 5.1.2. Các hình thức FDI FDI bao gồm nhiều loại khác nhau. Tùy theo mục đích nghiên cứu và quản lí, người ta có thể phân chia FDI theo những tiêu thức phân loại nhất định. • Phân theo bản chất đầu tư Theo bản chất đầu tư, FDI bao gồm: - Đầu tư phương tiện hoạt động Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào. Ngoài ra, đầu tư phương tiện hoạt động còn thể hiện qua hình thức mua lại doanh nghiệp. Mua lại doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp là hình thức đầu tư theo đó nhà đầu tư nhận chuyển giao quyền sở hữu doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp. Khi mua lại doanh nghiệp nhà đầu tư phải thanh toán tiền cho chủ doanh nghiệp cũ và do đó nó cũng làm tăng khối lượng vốn đầu tư. - Sáp nhập doanh nghiệp Sáp nhập doanh nghiệp là hình thức đầu tư được thực hiện thông qua việc chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của một hoặc một số công ty cùng loại (công ty bị sáp nhập) vào một công ty khác (công ty nhận sáp nhập), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào. • Phăn theo tỉnh chất dòng vốn Theo tính chất dòng vốn đầu tư, FDI bao gồm: - Đầu tư 100%, hoặc góp vốn để thành lập doanh nghiệp Nhà đầu tư nước ngoài góp tiền vốn, tài sản, bí quyết công nghệ... với chủ đầu tư trong nước, hoặc bỏ 100% vốn đầu tư để thành lập doanh nghiệp mới. - Đầu tư chứng khoán Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty. 168
  15. - Tái đầu tư, đầu tư phát triến Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm. Nhà đầu tư cũng có thể thực hiện đầu tư phát triển kinh doanh bằng cách bỏ vốn để mở rộng quy mô, nâng cao năng lực hoạt động của cơ sở kinh doanh. Đầu tư phát triển kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư hiện có, đồng thời bổ sung vốn đầu tư mới, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững của cơ sở kinh doanh. • Phân theo động cơ của nhà đầu tư Theo động cơ đầu tư, FDI bao gồm: - Đầu tư tìm kiếm tài nguyên Đây là các hoạt động đầu tư nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp, hoặc khai thác nguồn lao động có kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn cao. Hình thức đầu tư này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu (như các điểm du lịch nổi tiếng), các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh. - Đầu tư tìm kiếm hiệu quả Đây là hoạt động đầu tư nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v... - Đầu tư tìm kiếm thị trường Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường, hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định họp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu. Ở Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm các hình thức sau: 169
  16. 5.1.2.1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh Họp đồng họp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm họp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. Đặc điểm quan trọng nhất của họp đồng hợp tác kinh doanh là trong họp đồng, các bên có thỏa thuận phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm. Hợp đồng hợp tác kinh doanh trong đầu tư quốc tế là hình thức đầu tư dược kí kết giữa chủ đầu tư nước ngoài với chủ đầu tư nước chủ nhà để tiến hành sán xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên co sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới. Hình thức đầu tư theo hợp đồng, đầu tư vốn để kinh doanh của nhà đầu tư được tiến hành trên cơ sờ hợp đồng được giao kết giữa các nhà đầu tư, hoặc giữa nhà đầu tư với nhà nước (các cơ quan nhà nước có thẩm quyền). Nhà đầu tư trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh với tư cách pháp lí của mình phù hợp với nội dung thỏa thuận trong hợp đồng. Khi nhà đầu tư lựa chọn đầu tư theo họp đồng, ngoài việc phải tuân thủ Luật đầu tư, việc giao kết thực hiện hợp đồng còn phải phù hợp với các quy định chung về hợp đồng trong kinh doanh, thương mại. Đầu tư theo họp đồng bao gồm các hình thức sau: - Các họp đồng thương mại và họp đồng giao nguyên liệu lấy sản phẩm. Hợp đồng mua bán hàng hóa trả chậm và các họp đồng khác mà không thực hiện phân chia lợi nhuận hoặc kết quả kinh doanh không phải là hợp đồng họp tác kinh doanh. Trong quá trình kinh doanh, các bên của hợp đồng có thể thỏa thuận thành lập Ban điều phối (điều hành) dể theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng họp tác kinh doanh. Ban điều phối hợp đồng họp tác kinh doanh không phải là đại diện pháp lý cho các bên. - Đầu tư theo hình thức họp đồng Họp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) và Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): BOT, BTO và BT là những hình thức đầu tư thông qua hợp đồng được kí giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó, nhà đầu tư bỏ vốn dể xây dựng, kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng trong thời hạn nhất định và chuyển giao cho nhà nước theo những phương thức thanh toán, đền bù khác nhau. Các hình thức BOT, BTO và BT có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng (giao thông, sản xuất và kinh 170
  17. doanh điện, cấp thoát nước, xử lí chất thải..). Thay vì phải dầu tư vốn xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng quan trọng, Nhà nước áp dụng những chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư để có được hệ thống cơ sở hạ tầng thông qua việc nhận chuyển giao quyền sở hữu các công trình từ nhà đầu tư, bàng những phương thức chuyển giao khác nhau. về mặt pháp lí, sự khác nhau chủ yếu giữa các hình thức đầu tư BOT, BTO và BT thể hiện ở thời điểm chuyển giao quyền sở hữu công trình gắn với quyền quản lí, vận hành, khai thác công trình của nhà đầu tư cho nhà nước và phương thức thanh toán, dền bù của Nhà nước cho nhà đầu tư. Trong hình thức BOT, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư quản lí và kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lí, hết thời hạn kinh doanh, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình cho Nhà nước. Với hình thức BTO, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư chuyển giao quyền sở hữu công trình cho nhà nước; nhà dầu tư được Nhà nước dành cho quyền kinh doanh công trình trong thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lí. Ớ hình thức BT, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư chuyển giao quyền sở hữu công trình cho Nhà nước; nhà đầu tư được nhà nước tạo điều kiện thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lí hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh này có đặc điểm: - Các bên họp tác kinh doanh cùng thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên trên cơ sở các điều khoản của họp đồng đã kí. - Không hình thành pháp nhân mới. - Thời hạn hợp đồng do hai bên thỏa thuận phù họp với tính chất hoạt động kinh doanh và mục tiêu của hợp đồng. - Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thiết phải đề cập trong văn bản họp đồng. 5.1.2.2. Doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp liên doanh (DNLD) là một tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau trên cơ sở cùng góp vốn, cùng kinh doanh, nhàm thực hiện các cam kết trong hợp đồng liên doanh và Điều lệ DNLD, phù hợp với khuôn khổ luật pháp nước nhận đầu tư. 171
  18. Doanh nghiệp liên doanh ở Việt Nam là doanh nghiệp do hai bên, hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh, hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài họp tác với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc do doanh nghiệp liên doanh họp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sờ hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh còn bao gồm cả doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam liên doanh với các doanh nghiệp Việt Nam, cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học ở trong nước đáp ứng các điều kiện do Chính phủ Việt Nam quy định. DNLD có các đặc điểm sau: - Hình thành một pháp nhân mới: DNLD, có tư cách pháp nhân theo luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư, chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn điều lệ của liên doanh (vốn pháp định). - Trong doanh nghiệp liên doanh luôn có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài và bên hoặc các bên nước tiếp nhận đầu tư. - Thời gian hoạt động, cơ chế tổ chức quản lí doanh nghiệp tùy thuộc vào luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư. - Các bên liên doanh, hay các thành viên của doanh nghiệp liên doanh chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định (vốn điều lệ), có quyền lợi theo tỉ lệ góp vốn. Ở Việt Nam, để thành lập doanh nghiệp liên doanh, các bên Việt Nam sẽ góp một phần vốn pháp định, phần còn lại do các nhà đầu tư nước ngoài góp. Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, khi quy định về vốn của doanh nghiệp liên doanh, các nhà đầu tư nước ngoài luôn phải đảm bảo tỷ lệ vốn góp ít nhất bằng 30% vốn pháp định của công ty liên doanh, một số trường họp quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp liên doanh có thể cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định khi có những thay đổi về mục tiêu, quy mô dự án, đối tác, phương thức góp vốn và các trường hợp khác nhưng không được làm giảm tỷ lệ vốn pháp định xuống dưới mức quy định trên và phải được cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chuẩn y. Các bên trong doanh nghiệp liên doanh có quyền chuyển nhượng giá trị phần vốn góp của mình nhưng phải ưu tiên chuyển nhượng cho các bên trong doanh 172
  19. nghiệp liên doanh. Trong trường hợp chuyển nhượng cho doanh nghiệp ngoài liên doanh thì điều kiện chuyển nhượng không được thuận lợi hơn so với điều kiện đã đặt ra cho các bên trong doanh nghiệp liên doanh. 5.1.2.3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có các đặc điểm cơ bản sau: - Chủ thể thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài chỉ bao gồm một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài mà không có sự tham gia của bên Việt Nam. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với doanh nghiệp liên doanh; - Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ vốn, tài sản để thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Theo đó các nhà đầu tư nước ngoài chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi phần vốn góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp kể cả khi doanh nghiệp đó do một cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, thành lập và làm chủ; - Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước tiếp nhận đầu tư, chịu trách nhiệm trong kinh doanh trong phạm vi vốn điều lệ của doanh nghiệp (vốn pháp định). Theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 (sửa đổi năm 2000), vốn pháp định của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư. Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% vốn đầu tư và phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chấp thuận. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được giảm vốn pháp định. 5.1.3. Đánh giá và lựa chọn dự án FDI 5.1.3.1. Dự báo các yếu tố liên quan đến dự án Khi phân tích, đánh giá và ra quyết định đầu tư đối với các dự án đầu tư dài hạn nói chung, dự án FDI nói riêng, người ta thường quan tâm đến kết quả dự báo một số yếu tố như: vốn đầu tư ban đầu; nhu cầu của người tiêu 173
  20. dùng, giá cả, chi phí biến đổi và chi phí cố định đối với sản phẩm; tuổi thọ, giá trị thu hồi của dự án, các chính sách thuế và các hạn chế chuyển vốn hoặc thu nhập của nước tiếp nhận vốn đầu tư; tỉ giá và tỉ suất sinh lợi yêu cầu đối với dự án. - vốn đầu tư ban đầu Vốn đầu tư ban đầu là yếu tố không thể thiếu đối với mỗi dự án. Nó có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như vốn điều lệ (vốn pháp định), vốn vay... Lượng vốn này không chỉ cần thiết dể bắt đầu dự án, để hình thành các tài sản cố định, mà còn cần để bổ sung vốn lưu động trong quá trình đầu tư, khi mà dự án chưa đi vào hoạt động và chưa tạo ra thu nhập. Tùy theo mỗi loại dự án mà nhu cầu vốn đầu tư ban đầu có thể cao, thấp khác nhau. - Nhu cầu của người tiêu dùng Dự báo chính xác nhu cầu của người tiêu dùng đối với một sản phẩm là cơ sở để xác định chính xác khối lượng sản phẩm tiêu thụ và luồng tiền vào của dự án. Nhưng giống như các dự báo khác, việc dự báo nhu cầu và khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án là một công việc không hề dễ dàng. Thực tế cho thấy, việc dự báo thường dựa vào số liệu thống kê trong quá khứ có xem xét đến ảnh hưởng của tổng hợp nhiều yếu tố trong điều kiện mới, các chỉ báo về những thay đổi trong tương lai. Tuy nhiên, lịch sử có thể không lặp lại, điều này dẫn đến kết quả dự báo đôi khi thiếu chính xác và đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cũng như hiệu quả thực tế của các dự án đầu tư. Kết quả là nhiều dự án đã phải ngừng hoạt động trước thời hạn. - Giá cả Giá tiêu thụ sản phẩm có thể dự báo bằng cách dùng sản phẩm cạnh tranh trên thị trường như là một so sánh. Tuy nhiên, việc lập ngân sách dự án không phải trong ngắn hạn mà cho cà thời gian hoạt động của dự án. Vì vậy, giá bán sản phẩm trong tương lai phải tính tới mức lạm phát của nước chủ nhà - nơi dự án hoạt động. - Chi phí cố định Chi phí cố định là các chi phí không thay đổi hoặc thay đổi không đáng kể khi quy mô sản xuất kinh doanh, sản lượng hoặc doanh thu tiêu thụ sản phẩm tăng lên hay giảm đi. cần lưu ý ràng: thuật ngữ chi phí cố định phản ánh theo quan điểm tổng chi phí trong kì không thay đổi. Nếu tính chi phí 174
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2