Hịch tướng sĩ văn - Từ chữ nghĩa đến văn bản
Hịch là thể văn được viết nhằm nêu cao chính nghĩa của
một cuộc hành binh, động viên tinh thần chiến đấu của
tướng sĩ, thường ngắn gọn. Bài hịch của Trần Quốc Tuấn
khá dài, pha trộn miêu tả, tự sự, nghị luận, giọng văn thiết
tha, sôi nổi, tác động sâu sắc đến lý trí và tình cảm của
người đọc, người nghe. Nên chú ý, đây vừa là bài hịch lại
vừa là bài tựa (bài mở đầu, lời nói đầu) cho một cuốn binh
pháp (cũng do Trần Quốc Tuấn soạn thảo để huấn luyện
tướng sĩ) nhan đề là Binh gia điệu lý yếu lược, ta thường
quen gọi là Binh thư yếu lược. Vì vậy, về hình thức kết
cấu, không nên so sánh với các bài hịch khác (của Việt
Nam hoặc của Trung Quốc) để đi tới những nhận định về
văn thể.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, bài hịch được viết vào
khoảng trước cuộc xâm lăng lần thứ hai của quân Nguyên
Mông (1285). Đại Việt sử ký toàn thư - bộ sử hoàn chnh
khá cổ còn lại tới nay ghi rõ: đó là bài hịch hiểu dụ các tỳ
tướng. Trong Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích
(1744 - 1818), khi chép bài hịch này cũng ghi tiêu đề là D
chư tỳ tướng hịch văn. Giữa tỳ tướng (các sĩ quan cấp
dưới giúp việc cho chủ tướng) với tướng sĩ nói chung
(toàn thlực lượng vũ trang) có một sự khác biệt về phạm
vi và cp độ. Nội dung bài hịch, những từ xưng hô (dư: ta;
nhữ đẳng: các người...) đều là những minh chứng có thể
giúp chúng ta xác định, trước tiên đây là bài hịch Trần
Quốc Tuấn viết để động viên, giáo dục các viên chỉ huy
cấp dưới trong lực lượng vũ trang của riêng mình (theo
binh chế đời Trần). Về sau, cùng với việc Trần Quốc Tuấn
được phong làm Quc công Tiết chế, nắm quyền chỉ huy
toàn bộ lực lượng vũ trang của vương triều Trần và do giá
trị đích thân của bài hịch, văn bản lịch sử này mới trở
thành lời kêu gọi, động viên, giáo dục toàn quân. Vì vậy,
tiêu đề cần ghi rõ là Dụ chư tỳ tướng hịch văn (Bài hiểu dụ
các tỳ tướng). Nêu rõ ý nghĩa của hai chữ tỳ tướng có thể
giúp người học hiểu thêm về tổ chức lực lượng vũ trang
thời Trần và ý nghĩa lịch sử của bài hịch.
Tìm hiểu các đoạn trích giảng mà ở trường phổ thông
thường căn cứ theo bản dịch có một số từ ngữ cần chú ý
khai thác, đối chiếu với nguyên văn chữ Hán để triển khai
bình giá. Thí dụ: ngó thấy sứ giặc... nguyên văn là thiết
kiến - nhìn trộm, ý vị nhục nhã chua cay tăng lên gấp bội;
câu Thật khác nào ném thịt cho hổ đói, sao cho khỏi gây
tai vạ về sau! dịch như vậy khó hiểu, quan hệ logic không
rõ ràng, đặc biệt là my từ sao cho khỏi... . Căn cứ vào
nguyên văn, nên hiểu là: ví như ném thịt cho hổ đói sao
tránh khỏi để tai họa cho mai sau (vì lòng tham của giặc là
không đáy, cung phụng bao nhiêu cho đủ? Cứ nhẫn nhịn
chu cung phụng mãi, rốt cục chúng vẫn không vừa ý, vẫn
cứ quay lại hại ta!). Câu: làm tướng triều đình phải hầu
quân giặc mà không biết tức..., so với nguyên văn sức
khơi gợi suy nghĩ giảm nhiều, vì trong nguyên văn đã